• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/2/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/2/2026.

28/02/2026 19:52
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/2/2026- Ảnh 1.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2026.

Phê duyệt Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2026 

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc ký Quyết định số 352/QĐ-TTg ngày 27/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2026 (Kế hoạch).

Mục tiêu của Kế hoạch là đảm bảo nguồn lực; trả nợ đầy đủ, đúng hạn các khoản nợ công, không ảnh hưởng đến hệ số tín nhiệm quốc gia; kiểm soát an toàn nợ; tối ưu hóa danh mục nợ; phát triển thị trường vốn.

Năm 2026, Kế hoạch vay của Chính phủ tối đa 969.796 tỷ đồng và trả nợ khoảng 534.739 tỷ đồng

Về Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2026, Kế hoạch vay của Chính phủ tối đa 969.796 tỷ đồng, gồm:

- Vay cho cân đối ngân sách trung ương tối đa 959.705 tỷ đồng, trong đó vay bù đắp bội chi ngân sách trung ương tối đa là 583.700 tỷ đồng, vay để trả nợ gốc không quá 376.005 tỷ đồng.

- Vay về cho vay lại: khoảng 10.092 tỷ đồng. Nguồn huy động kết hợp linh hoạt các công cụ (i) phát hành trái phiếu Chính phủ; (ii) vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài; (iii) phát hành trái phiếu quốc tế Chính phủ và các nguồn tài chính hợp pháp khác.

Trả nợ của Chính phủ khoảng 534.739 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 493.405 tỷ đồng, trả nợ của các dự án cho vay lại khoảng 41.334 tỷ đồng.

Về vay được Chính phủ bảo lãnh:

Đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam: Hạn mức phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh tối đa bằng mức trả nợ gốc trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đến hạn năm 2026 là 2.910 tỷ đồng.

Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội: Hạn mức phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh tối đa là 251 tỷ đồng.

Đối với bảo lãnh cho doanh nghiệp vay trong nước và ngoài nước: không bố trí hạn mức bảo lãnh Chính phủ năm 2026 cho các dự án vay trong nước, nước ngoài do các dự án đã kết thúc rút vốn.

Kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương: Tổng mức vay trong năm khoảng 26.079 tỷ đồng. Tổng trả nợ gốc khoảng 3.979 tỷ đồng.

Về vay thương mại nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh năm 2026: Hạn mức vay thương mại nước ngoài trung, dài hạn của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng theo phương thức tự vay, tự trả khoảng 6.124 triệu USD/năm; tốc độ tăng dư nợ nước ngoài ngắn hạn khoảng 19-20% so với dư nợ cuối năm 2025.

Quyết định nêu rõ, Kế hoạch vay, trả nợ năm 2026 thực hiện trong các mức tối đa nêu trên; trường hợp phát sinh nhu cầu vượt mức tối đa nêu trên, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh kế hoạch.

Khẩn trương phân bổ kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách trung ương năm 2026

Đối với các khoản vay nước ngoài của Chính phủ cho chương trình, dự án, Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương phân bổ kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách trung ương năm 2026 chi tiết theo danh mục, mức vốn bố trí của từng dự án theo thời hạn quy định tại Luật Đầu tư công; các dự án mới vay nước ngoài tập trung ưu tiên cho các dự án quan trọng có tính chất xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái; khắc phục các tồn tại liên quan đến giải ngân chậm các dự án sử dụng vốn vay ODA và vay ưu đãi.

Các bộ ngành, địa phương đẩy mạnh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, phù hợp với danh mục các dự án được bố trí vốn đầu tư công hàng năm và kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 5 năm, góp phần nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay, đảm bảo tiết kiệm, chống lãng phí.

Tăng cường kiểm tra việc sử dụng vốn vay và trả nợ

Bộ Tài chính kiểm soát chặt chẽ bội chi ngân sách nhà nước, bội chi ngân sách địa phương và mức vay nợ của ngân sách địa phương, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ; đẩy mạnh phương thức rút vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài theo cơ chế hỗ trợ trực tiếp ngân sách. Xây dựng Đề án phát hành Trái phiếu quốc tế trình cấp có thẩm quyền để sẵn sàng khi cần huy động. Nghiên cứu các phương thức huy động vốn vay mới, một mặt vừa đảm bảo huy động đủ vốn vay cho đầu tư phát triển, đồng thời kiểm soát nợ công, nợ nước ngoài quốc gia trong giới hạn trần, ngưỡng cảnh báo dự kiến cho giai đoạn 2026-2030.

Tích cực mở rộng cơ sở thu, ưu tiên bố trí nguồn vượt thu, tiết kiệm chi ngân sách nhà nước để giảm bội chi ngân sách nhà nước, tăng chi trả nợ (bao gồm trả nợ gốc và lãi).

Điều hành linh hoạt kỳ hạn phát hành trái phiếu Chính phủ, thời điểm phát hành, gắn với quản lý ngân quỹ để góp phần giảm chi phí, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu huy động và dự phòng trong thời điểm thị trường không thuận lợi, bảo đảm an toàn nợ công, thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ; tăng cường kiểm tra việc sử dụng vốn vay và trả nợ...

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện hạn mức nợ nước ngoài tự vay tự trả của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh, bảo đảm trong hạn mức được phê duyệt; chủ trì quản lý nợ nước ngoài của khu vực tư nhân và chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp diễn biến tiêu cực...

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/2/2026- Ảnh 2.

Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06

Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 vừa ký Quyết định số 11/QĐ-BCĐCP ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo này. 

Thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo theo hướng gắn kết chặt chẽ nghiên cứu - ứng dụng - thị trường

Mục tiêu chung của Kế hoạch hoạt động là tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 57-NQ/TW; bảo đảm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS) đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số thông qua nâng cao năng suất lao động, hiệu quả quản trị, chất lượng dịch vụ công và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tạo chuyển biến rõ rệt về chuyển đổi số liên thông, đồng bộ trong hệ thống chính trị và trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm; tập trung vào các khâu tác động trực tiếp đến năng suất, chi phí, thời gian, chất lượng dịch vụ và khả năng mở rộng thị trường.

Xác định năm 2026 là năm chuyển trọng tâm từ hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện, giám sát, đo lường và đánh giá kết quả đầu ra, tập trung tạo chuyển biến thực chất trong phát triển KHCN, ĐMST, CĐS và Đề án 06, gắn với nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, cải cách hành chính, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng.

Thúc đẩy phát triển KHCN, ĐMST theo hướng gắn kết chặt chẽ nghiên cứu - ứng dụng - thị trường; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao theo hướng có sản phẩm, có kết quả đầu ra và khả năng nhân rộng...

Tỷ trọng đóng góp của KHCN, ĐMST, CĐS trong GDP phấn đấu đạt 17,5%

Kế hoạch đưa ra mục tiêu đóng góp cho tăng trưởng như sau: Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2026 phấn đấu đạt 14,5%. Tỷ trọng đóng góp của KHCN, ĐMST, CĐS trong GDP phấn đấu đạt 17,5%.

Về hoàn thiện thể chế, chính sách: Tập trung rà soát, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy định chi tiết, biện pháp để tổ chức hướng dẫn thi hành các luật được Quốc hội thông qua trong năm 2025, bảo đảm hiệu lực đồng bộ, thống nhất với luật, khắc phục triệt để tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết; rà soát, điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.

Về chuyển đổi số quốc gia

(1) Chuyển đổi số các cơ quan hành chính nhà nước

Về hạ tầng, nền tảng, dữ liệu số: Mở rộng phủ sóng 5G đạt 70% dân số. 100% cán bộ, công chức, viên chức cấp xã được bố trí trang thiết bị đáp ứng yêu cầu công việc và có chữ ký số cá nhân để giải quyết công việc trên môi trường điện tử.

100% hồ sơ công việc tại cơ quan hành chính nhà nước được xử lý trên môi trường điện tử (đối với hồ sơ thuộc phạm vi bí mật nhà nước thì thúc đẩy việc xử lý trên hệ thống/mạng phù hợp theo quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước) và sử dụng chữ ký số chuyên dùng công vụ để giải quyết công việc; tỷ lệ văn bản, hồ sơ công việc tại cơ quan hành chính nhà nước được xử lý toàn trình trên môi trường điện tử đạt 80% tại cấp bộ, 70% tại cấp tỉnh, 70% tại cấp xã.

Về thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến: Tỷ lệ thủ tục hành chính (TTHC) cung cấp dịch vụ công (DVC) trực tuyến toàn trình trên tổng số TTHC đủ điều kiện thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ, cơ quan (bao gồm các TTHC thực hiện tại cấp tỉnh, xã) đạt tối thiểu 80%.

Tỷ lệ TTHC cung cấp DVC trực tuyến toàn trình trên tổng số TTHC đủ điều kiện được giao quy định hoặc quy định chi tiết trong văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt tối thiểu 80%.

Tối thiểu 80% thông tin, giấy tờ, tài liệu trong các TTHC liên quan sản xuất, kinh doanh chỉ phải cung cấp một lần cho cơ quan nhà nước. 100% TTHC được thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh.

Về phát triển kỹ năng số trong thực thi công vụ: 100% cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số. 50% cán bộ, công chức, viên chức đảm nhiệm vị trí việc làm chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương được đào tạo, bồi dưỡng về quản trị dữ liệu.

(2) Kinh tế số: 100% TTHC đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được cung cấp DVC trực tuyến.

(3) Xã hội số: Tỷ lệ người dân, doanh nghiệp hài lòng khi sử dụng DVC trực tuyến đạt tối thiểu 95%; triển khai chữ ký số miễn phí cho toàn dân trên ứng dụng VNeID.

Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

(1) Thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược: Thương mại hóa thành công tối thiểu 05 sản phẩm thuộc Danh mục công nghệ chiến lược (Chip bán dẫn, thiết bị mạng 5G, robot công nghiệp, trí tuệ nhân tạo, UAV…); bố trí ít nhất 15% ngân sách nhà nước chi sự nghiệp khoa học phục vụ nghiên cứu phát triển công nghệ chiến lược.

(2) Phát triển nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đại học số: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách Khoa Hà Nội triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Thông báo số 45-TB/TGV ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương.

(3) Nâng cao hiệu quả quản trị nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo:

100% nhiệm vụ KH, CN, ĐMST có sử dụng ngân sách nhà nước được quản lý, cập nhật kịp thời, đầy đủ vòng đời nhiệm vụ (đặt hàng, tuyển chọn/giao trực tiếp, hợp đồng, giải ngân, nghiệm thu,…), theo dõi toàn trình trên Nền tảng số quản lý KH, CN, ĐMST.

(4) Nâng cao năng lực hạ tầng nghiên cứu - thử nghiệm - sản xuất thử phục vụ thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Hình thành tối thiểu 09 hạ tầng dùng chung (phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu - phát triển, cơ sở kiểm thử/đánh giá/chứng nhận…), phục vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Tổ chức tối thiểu 03 không gian thử nghiệm thực tế (sandbox) tại các địa phương gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh; bảo đảm mỗi địa phương có ít nhất 01 không gian, nhằm thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện và tiếp nhận kết quả nghiên cứu, sản phẩm, giải pháp mới; đồng thời bảo đảm có địa điểm thử nghiệm cụ thể, dữ liệu thử nghiệm phù hợp và cơ chế tiếp nhận, công nhận, chuyển giao kết quả vào thực tiễn quản lý, sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy các doanh nghiệp KHCN, ĐMST và CĐS trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ (được trích lập tối đa 20% thu nhập tính thuế hằng năm).

(5) Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo: Hình thành và đưa vào vận hành hiệu quả tối thiểu 03 trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tại các địa phương gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh; bảo đảm mỗi địa phương nêu trên có 01 trung tâm; áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, bảo đảm mức độ cạnh tranh ngang bằng và hướng tới vượt trội so với các trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực (như Singapore, Indonesia).

Tăng 30% số doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (startups) trong các lĩnh vực KH, CN, ĐMST và CĐS.

Hình thành mới tối thiểu 30 - 50 doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) hình thành từ kết quả nghiên cứu của trường - viện trong năm 2026, trong đó Hà Nội đạt tối thiểu 20 doanh nghiệp...

Về theo dõi, giám sát và đánh giá: 100% nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo của Chính phủ được theo dõi, giám sát, đánh giá trên Hệ thống theodoinq.dcs.vn. Dữ liệu được cập nhật kịp thời, khách quan, có đối chiếu, kiểm chứng, gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan và người đứng đầu.

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, cải cách hành chính và Đề án 06 được giao tại Phụ lục II kèm theo Kế hoạch này; các nhiệm vụ, giải pháp được Ban Chỉ đạo Trung ương giao tại Chương trình số 02-CTr/BCĐTW ngày 02 tháng 02 năm 2026 tại Phụ lục III kèm theo Kế hoạch này; các nhiệm vụ, giải pháp trong năm 2026 đã giao cho các bộ, ngành, địa phương tại Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2026 và Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025); các nhiệm vụ, giải pháp tại các Thông báo kết luận của Trưởng Ban Chỉ đạo, Lãnh đạo, Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương, Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương, Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương.

Các bộ, ngành, địa phương phải cam kết hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo của Chính phủ giao.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/2/2026- Ảnh 3.

PGS.TS Hoàng Minh Sơn - Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Thủ tướng giao Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho PGS.TS Hoàng Minh Sơn 

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 356/QĐ-TTg ngày 27/2/2026 về việc giao Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với ông Hoàng Minh Sơn.

Quyết định nêu rõ: Điều động ông Hoàng Minh Sơn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội về công tác tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, giao Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo./.