Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 217/TB-VPCP ngày 28/4/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại cuộc họp về tình hình triển khai Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam và các tuyến đường sắt khác.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc làm việc với Bộ Xây dựng, một số bộ, ngành, TP. Hà Nội, TPHCM về tình hình triển khai các dự án đường sắt - Ảnh: VGP/Phương Nguyên.
Tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đánh giá cao nỗ lực của các Bộ, ban ngành và địa phương trong việc triển khai các dự án đường sắt thời gian qua. Đây là những dự án quan trọng, đóng góp hiệu quả vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng và mục tiêu tăng trưởng 02 con số.
Đây là lĩnh vực mới, phức tạp, có nhiều khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị. Việc triển khai các dự án phải đánh giá tổng thể về kinh tế, chính trị, đối ngoại, hiệu quả, bảo đảm hiệu quả kinh tế - tài chính, phù hợp với định hướng tự chủ chiến lược về phát triển công nghiệp đường sắt, có mô hình tổ chức quản lý và vận hành phù hợp.
Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ chủ động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chỉ đạo của Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm và các nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao trong thời gian qua; bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả đầu tư, đúng thẩm quyền, không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Các địa phương có dự án đi qua khẩn trương thực hiện công tác giải phóng mặt bằng ngay sau khi Bộ Xây dựng bàn giao hồ sơ và mốc giới giải phóng mặt bằng.
Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát để đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế, pháp luật về hoạt động đầu tư, quản lý, vận hành khai thác các dự án đường sắt, bảo đảm hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng khẩn trương rà soát, xây dựng, ban hành bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về đường sắt (đường sắt tốc độ cao, đường sắt khổ tiêu chuẩn, đường sắt đô thị) phù hợp với điều kiện Việt Nam nhưng tiệm cận được thông lệ quốc tế để áp dụng thống nhất; trong đó hoàn thành tiêu chuẩn, quy chuẩn về đường sắt đô thị trong tháng 6/2026 để áp dụng thống nhất cả nước, lưu ý cần tính đến kết nối với hệ thống đường sắt quốc gia.
Các Bộ, ngành, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, doanh nghiệp liên quan phải chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai đào tạo nguồn nhân lực cho đơn vị mình đáp ứng nhu cầu xã hội và gắn với nhu cầu doanh nghiệp; kinh phí đào tạo thực hiện theo quy định pháp luật.
Bộ Xây dựng chủ trì huy động các nguồn lực hợp pháp (bao gồm ODA, viện trợ không hoàn lại) để đào tạo cho các cơ quan thuộc Bộ và cần bố trí chi phí đào tạo trong các dự án để bảo đảm khả năng tự chủ trong vận hành, khai thác, bảo trì cho các dự án đường sắt mới và phát triển ngành công nghiệp đường sắt.
Bộ Xây dựng có trách nhiệm rà soát toàn bộ hệ thống định mức, đơn giá để xây dựng, ban hành bảo đảm đầy đủ phù hợp với điều kiện thực tế, xem xét đến việc khai thác, sử dụng công trình với tầm nhìn dài hạn.
Đối với các hạng mục công việc Việt Nam chưa có máy móc, thiết bị hoặc công nghệ mới, Bộ Xây dựng chủ trì làm việc với các đối tác để tiếp nhận, đánh giá và ban hành định mức công trình áp dụng riêng cho dự án, tiết kiệm, hiệu quả, đồng thời có lộ trình nghiên cứu để ban hành áp dụng chung.
Về Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, Bộ Xây dựng khẩn trương hoàn thành các thủ tục để lựa chọn tư vấn lập Báo cáo Nghiên cứu khả thi Dự án trong Quý II/2026. Các địa phương khẩn trương quy hoạch để phát huy hiệu quả kinh tế của tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Việc lựa chọn đối tác chuyển giao công nghệ cần phải gắn với điều kiện tiên quyết là chuyển giao công nghệ cho Việt Nam.
Về tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Bộ Xây dựng khẩn trương rà soát, đánh giá các nội dung nghiên cứu, đề xuất của Tư vấn về Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án, bảo đảm hiệu quả dự án, tầm nhìn dài hạn, kết nối các trung tâm kinh tế và đồng bộ các phương thức vận tải; lưu ý, không vì áp lực tiến độ mà xem nhẹ các quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, hiệu quả của dự án, phải bảo đảm an toàn tuyệt đối trong mọi trường hợp cho cả vòng đời dự án. Trường hợp phải điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án, Bộ Xây dựng khẩn trương hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ trong tháng 5/2026, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 6/2026.
Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Ngoại giao khẩn trương triển khai các thủ tục đàm phán Hiệp định vay vốn cho dự án.
Đối với tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng, Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành, địa phương liên quan khẩn trương triển khai các kết luận của Tổng Bí thư tại Thông báo số 28-TB/VPTW ngày 22/3/2026 về hợp tác kết nối đường sắt Việt Nam - Trung Quốc và Lãnh đạo Chính phủ giao tại công văn số 1359/VPCP-CN ngày 01/4/2026.
Về các dự án đường sắt đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Xây dựng và các bộ ngành liên quan, khẩn trương rà soát tiến độ các dự án đường sắt đô thị đang triển khai; tập trung tháo gỡ khó khăn về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, nguồn vốn và công nghệ; bảo đảm các dự án vận hành an toàn, hiệu quả, thích ứng biến đổi khí hậu, đúng quy hoạch được duyệt, có tính kết nối liên vùng và tình hình mới.
Đối với các dự án mới, phải nghiên cứu kỹ lưỡng, lựa chọn công nghệ phù hợp, đồng bộ, có lộ trình đầu tư hợp lý theo khả năng cân đối ngân sách của địa phương, tránh dàn trải.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khẩn trương báo cáo Bộ Xây dựng, Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch triển khai các dự án có kế hoạch khởi công trong năm 2026 và những năm tiếp theo của giai đoạn 2026-2030 theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại Thông báo số 98/TB-VPCP ngày 05/3/2026.
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Công văn số 435/TTg-TCCV gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về việc sửa đổi, bổ sung các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bảo đảm theo các nguyên tắc tại Luật Tổ chức Chính phủ.

Khẩn trương sửa đổi, bổ sung 63 văn bản quy phạm pháp luật.
Văn bản nêu: Thực hiện Kế hoạch triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 tại Quyết định số 608/QĐ-TTg ngày 15 tháng 3 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ; trên cơ sở Báo cáo số 3522/BC-BNV ngày 14 tháng 4 năm 2026 của Bộ Nội vụ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tập trung thực hiện nghiêm túc một số nhiệm vụ sau:
Trên cơ sở danh mục 63 văn bản quy phạm pháp luật cần được sửa đổi, bổ sung trong năm 2026, để phù hợp với nguyên tắc phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền được quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, đề nghị 14 Bộ, cơ quan ngang Bộ khẩn trương tiếp thu ý kiến, chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật đang trình tại Kỳ họp thứ 1 Quốc hội khóa XVI; đồng thời chuẩn bị hồ sơ các dự án để tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI hoặc trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bảo đảm đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể:
Bộ Công an chuẩn bị hồ sơ đối với 01 dự án luật (Luật Xử lý vi phạm hành chính) trình Quốc hội thông qua;
Bộ Công Thương chuẩn bị hồ sơ đối với 07 dự án luật (Luật Thương mại; Luật Quản lý ngoại thương; Luật Điện lực; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Luật Dầu khí; Luật Công nghiệp trọng điểm; Luật Cạnh tranh) trình Quốc hội thông qua;
Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp thu ý kiến, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đối với 01 dự án luật (Luật Tín ngưỡng, tôn giáo) trình Quốc hội thông qua;
Bộ Khoa học và Công nghệ chuẩn bị hồ sơ đối với 02 dự án luật (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đo lường; Luật bưu chính) trình Quốc hội thông qua;
Bộ Ngoại giao tiếp thu ý kiến, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đối với 01 dự án luật (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài); chuẩn bị hồ sơ đối với 02 dự án luật, pháp lệnh (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thỏa thuận quốc tế; Pháp lệnh về Hàm, cấp ngoại giao) trình Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua;
Bộ Nội vụ tiếp thu ý kiến, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đối với 01 dự án luật (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng); chuẩn bị hồ sơ đối với 07 dự án luật, pháp lệnh (Bộ luật Lao động; Luật An toàn, vệ sinh lao động; Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Luật Bình đẳng giới; Luật Lưu trữ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội; Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng) trình Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua;
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chuẩn bị hồ sơ đối với 01 dự án luật (Luật Đất đai) trình Quốc hội thông qua;
Bộ Quốc phòng chuẩn bị hồ sơ đối với 03 dự án luật, pháp lệnh (Luật Phòng không nhân dân; Luật phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; Pháp lệnh về khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh) trình Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua;
Bộ Tài chính chuẩn bị hồ sơ đối với 06 dự án luật, nghị quyết (Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Luật Hải quan; Nghị quyết của Quốc hội phân bổ ngân sách Trung ương năm 2027; Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước) trình Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua;
Bộ Tư pháp tiếp thu ý kiến, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đối với 06 dự án luật, nghị quyết (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật Thủ đô (sửa đổi); Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi); Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế); chuẩn bị hồ sơ đối với 07 dự án luật, nghị quyết, pháp lệnh (Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi); Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi); Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi); Luật Luật sư (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi); Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật) và phối hợp với Hội Luật gia 01 dự án luật (Luật Trọng tài thương mại) trình Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua;
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuẩn bị hồ sơ đối với 05 dự án luật (Luật Xuất bản; Luật Thể dục, thể thao; Luật Du lịch; Luật Thư viện; Luật Di sản văn hóa) trình Quốc hội thông qua;
Bộ Xây dựng chuẩn bị hồ sơ đối với 06 dự án luật, nghị quyết (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhà ở; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản; Bộ luật Hàng hải Việt Nam (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Luật Giao thông đường thủy nội địa; Nghị quyết sửa đổi Nghị quyết số 755/2005/UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991) trình Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua;
Bộ Y tế chuẩn bị hồ sơ đối với 05 dự án luật (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá; Luật Trẻ em; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác) trình Quốc hội thông qua;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuẩn bị hồ sơ đối với 01 dự án luật (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Phòng, chống rửa tiền) trình Quốc hội thông qua.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ khi soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải tuân thủ các nguyên tắc về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 khi xây dựng các luật chuyên ngành (xác định Luật Tổ chức Chính phủ là luật gốc của nền hành chính nhà nước).
Không quy định cụ thể tên Bộ, ngành và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Bộ, ngành tại dự thảo luật, nghị quyết, pháp lệnh, bảo đảm quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp; không phân quyền trực tiếp cho các Bộ trưởng tại luật, pháp lệnh, nghị quyết, bảo đảm Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực và thực hiện phân công phạm vi quản lý nhà nước cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ. Đối với các vấn đề về bảo đảm quyền con người, quyền công dân; liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; trình tự tố tụng; thực hiện các khuyến nghị, cam kết, thỏa thuận quốc tế hoặc vấn đề khác được xác định là cơ bản, quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội cần thiết quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tại các luật, cơ quan chủ trì soạn thảo cần giải trình rõ sự cần thiết trong quá trình xây dựng luật để tham mưu Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định theo thẩm quyền.
Bộ Tư pháp tăng cường vai trò tham mưu, giúp Chính phủ xây dựng đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, kiểm soát chặt chẽ hồ sơ các dự án trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội bảo đảm chất lượng về nội dung và hình thức theo quy định, nhất là các dự án đề xuất điều chỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Khi thẩm định các hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, phải đánh giá việc tuân thủ các nguyên tắc về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025; làm rõ trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc thực hiện nguyên tắc trên khi xây dựng dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, bảo đảm chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội; những vấn đề phân quyền cho chính quyền địa phương cần có sự quy định thống nhất của Chính phủ thì giao Chính phủ quản lý, điều hành bảo đảm linh hoạt, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Thực hiện tốt nhiệm vụ là cơ quan chủ trì rà soát kỹ thuật văn bản trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua; giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chương trình lập pháp.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành có liên quan, tổng hợp kết quả thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với những vấn đề phát sinh mới, vượt thẩm quyền./.