• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 30/3/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 30/3/2026.

30/03/2026 18:59

Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới; tổ chức, hoạt động của cơ sở đăng kiểm; niên hạn sử dụng của xe cơ giới 

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 89/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới; tổ chức, hoạt động của cơ sở đăng kiểm; niên hạn sử dụng của xe cơ giới.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 30/3/2026- Ảnh 1.

Cơ sở đăng kiểm xe cơ giới phải có tối thiểu 2 đăng kiểm viên thực hiện công việc chuyên môn về kiểm định xe cơ giới

Nghị định này quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới; tổ chức, hoạt động của cơ sở đăng kiểm và niên hạn sử dụng của xe cơ giới theo quy định tại Điều 40, khoản 1 Điều 43 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 118/2025/QH15.

Điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới

Trong đó, Nghị định 89/2026/NĐ-CP quy định điều kiện chung về kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới:

Đáp ứng các quy định tại Nghị định này, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm xe cơ giới, cơ sở kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy (sau đây viết tắt là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm) và được tổ chức đánh giá sự phù hợp đánh giá sự phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm; trường hợp chưa có tổ chức đánh giá sự phù hợp đánh giá cơ sở đăng kiểm hoặc có Tổ chức đánh giá sự phù hợp nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu đánh giá của cơ sở đăng kiểm thì phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm tra xác nhận cơ sở đăng kiểm phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm.

Có giấy tờ, tài liệu theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về đất đai; kết nối giao thông và đấu nối đường bộ theo quy định; bảo vệ môi trường, an toàn, vệ sinh lao động, phòng cháy và chữa cháy và pháp luật khác có liên quan khi xây dựng, đưa cơ sở đăng kiểm vào hoạt động.

Điều kiện đối với cơ sở đăng kiểm xe cơ giới

Nghị định quy định rõ điều kiện về diện tích và điều kiện về nhân lực đối với cơ sở đăng kiểm xe cơ giới như sau:

Điều kiện về diện tích

Mặt bằng cơ sở đăng kiểm xe cơ giới là nơi bố trí các công trình phục vụ việc kiểm định xe cơ giới trên cùng khu đất, có diện tích tối thiểu được quy định như sau:

a) Đối với cơ sở đăng kiểm xe cơ giới chỉ có một dây chuyền kiểm định loại I: 1.250 m2;

b) Đối với cơ sở đăng kiểm xe cơ giới chỉ có một dây chuyền kiểm định loại II: 1.500 m2;

c) Đối với cơ sở đăng kiểm xe cơ giới chỉ có một dây chuyền kiểm định tổng hợp (loại I + loại II): 1.500 m2;

d) Đối với cơ sở đăng kiểm xe cơ giới có hai dây chuyền kiểm định: 2.500 m2;

đ) Đối với cơ sở đăng kiểm xe cơ giới có từ 03 dây chuyền kiểm định trở lên thì diện tích cho mỗi dây chuyền tăng thêm tương ứng tính từ dây chuyền thứ 3 trở lên: 625 m2.

Trường hợp cơ sở đăng kiểm xe cơ giới được bố trí chung với bến xe, trạm dừng nghỉ thì không áp dụng quy định nêu trên. Xưởng kiểm định phải đáp ứng quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm.

Điều kiện về nhân lực

Có tối thiểu 2 đăng kiểm viên thực hiện công việc chuyên môn về kiểm định xe cơ giới, trong đó có tối thiểu: 1 lãnh đạo cơ sở đăng kiểm là đăng kiểm viên và 1 lãnh đạo bộ phận kiểm định là đăng kiểm viên có kinh nghiệm thực hiện công tác kiểm định đủ 60 tháng.

Điều kiện đối với cơ sở kiểm định khí thải

Theo Nghị định, đối với cơ sở kiểm định khí thải phải đáp ứng 2 điều kiện về diện tích và nhân lực.

Về diện tích, Nghị định quy định: Khu vực kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy có diện tích tối thiểu là 10 m2 tương ứng với 01 thiết bị đo khí thải. Đối với khu vực kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy có từ 02 thiết bị đo khí thải trở lên thì diện tích cho mỗi thiết bị đo tăng thêm tương ứng là 05 m2. Trường hợp diện tích của khu vực kiểm định được sử dụng chung với hoạt động bảo dưỡng, sửa chữa xe mô tô, xe gắn máy thì không được gây cản trở cho việc di chuyển của phương tiện và thao tác của đăng kiểm viên.

Về nhân lực, phải có tối thiểu 1 đăng kiểm viên được cấp chứng chỉ chuyên môn thực hiện công việc kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy.

Xác định niên hạn sử dụng của xe cơ giới

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định rõ cách xác định niên hạn sử dụng của xe cơ giới như sau:

- Hai mươi lăm năm tính từ năm sản xuất đối với xe ô tô chở hàng (xe ô tô tải), xe ô tô chở hàng chuyên dùng (xe ô tô tải chuyên dùng).

- Hai mươi năm tính từ năm sản xuất đối với xe ô tô chở người có số người cho phép chở từ 9 người trở lên (không kể người lái xe), xe ô tô chở trẻ em mầm non, xe ô tô chở học sinh, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ.

- Mười lăm năm tính từ năm sản xuất đối với xe chở người bốn bánh có gắn động cơ.

Niên hạn sử dụng đối với xe tương tự xe cơ giới được áp dụng như các loại xe cơ giới nêu trên; bảo đảm phù hợp với từng chức năng, công dụng của từng loại xe tương tự.

Danh sách xe hết niên hạn sử dụng được tổng hợp trên cơ sở dữ liệu đăng kiểm xe cơ giới để phục vụ công tác tuần tra, kiểm soát.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.

Quy định quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 88/2026/NĐ-CP quy định quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo. Nguyên tắc chung về quản lý và sử dụng dữ liệu

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 30/3/2026- Ảnh 2.

Các tổ chức, cá nhân khác khi khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo phải bảo đảm quyền của chủ thể dữ liệu

Nghị định quy định, dữ liệu giáo dục và đào tạo được sử dụng để phục vụ công tác phát triển giáo dục, quản lý hệ thống giáo dục quốc dân, đơn giản hóa thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ số, phát triển kinh tế số, xã hội số.

Việc xây dựng, phát triển, xử lý, kết nối, chia sẻ, quản trị, bảo vệ, khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo, Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo tuân theo các quy định của Nghị định này và pháp luật về dữ liệu, công nghệ thông tin, giao dịch điện tử, an ninh mạng, tiếp cận thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân; quy định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước; quy định của pháp luật về xây dựng, cập nhật, duy trì, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia.

Việc thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân liên quan đến người học, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của các cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục chỉ được thực hiện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật. Các tổ chức, cá nhân khác khi khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo phải bảo đảm quyền của chủ thể dữ liệu theo quy định của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Các cơ sở dữ liệu về giáo dục và đào tạo

Nghị định quy định, các cơ sở dữ liệu về giáo dục và đào tạo bao gồm:

Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo.

Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo chứa một hoặc nhiều nhóm dữ liệu; danh mục các cơ sở dữ liệu này do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo thẩm quyền.

Cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các bộ, ngành, địa phương, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chứa một hoặc nhiều nhóm dữ liệu.

Cơ sở dữ liệu phục vụ các hoạt động quản trị, giảng dạy và học tập trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.

Cơ sở dữ liệu của các nền tảng giáo dục số cung cấp dịch vụ học tập trực tuyến trong nước hoặc xuyên biên giới.

Xây dựng, phát triển dữ liệu giáo dục và đào tạo

Nghị định quy định, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ và cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ sở giáo dục thực hiện việc xây dựng, phát triển dữ liệu giáo dục và đào tạo theo các quy định tại Điều 11 và Điều 12 Luật Dữ liệu và các quy định của Nghị định này.

Dữ liệu mở giáo dục và đào tạo được sử dụng để cung cấp thông tin minh bạch với mục đích thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật; thúc đẩy các hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong giáo dục và đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm ban hành, cập nhật danh mục dữ liệu dùng trong các cơ sở dữ liệu về giáo dục và đào tạo; ban hành, cập nhật danh mục dữ liệu mở bắt buộc phải xây dựng, phát triển trong hệ thống giáo dục quốc dân; kế hoạch công bố dữ liệu mở giáo dục và đào tạo trên cổng dữ liệu quốc gia; ban hành Khung kiến trúc dữ liệu; Khung quản trị, quản lý dữ liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo; từ điển dữ liệu ngành giáo dục; quy trình, quy chế tạo lập dữ liệu; quy trình, quy chế làm sạch dữ liệu.

Khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo

Theo Nghị định, việc sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo được thực hiện theo quy định tại Điều 16, Điều 17, Điều 21 Luật Dữ liệu và các quy định của Nghị định này.

Chủ thể khai thác và sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo:

Cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác và sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đó.

Cơ sở giáo dục được khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo chứa thông tin về người học, nhà giáo thuộc phạm vi và đúng mục đích quản lý của đơn vị.

Cá nhân là chủ thể dữ liệu được khai thác và sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo chứa thông tin về cá nhân đó theo quy định của pháp luật.

Tổ chức và cá nhân không thuộc quy định nêu trên được khai thác và sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo như sau: Được khai thác và sử dụng dữ liệu mở về giáo dục và đào tạo; được khai thác và sử dụng dữ liệu cá nhân khi được sự đồng ý của đơn vị quản lý, duy trì dữ liệu và cá nhân là chủ thể dữ liệu được khai thác; được khai thác và sử dụng dữ liệu khác khi được sự đồng ý của đơn vị quản lý, duy trì dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Sử dụng dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời trên ứng dụng định danh quốc gia VNelD

Các cơ quan, đơn vị trong hệ thống giáo dục quốc dân theo thẩm quyền có trách nhiệm chuẩn bị, xây dựng hệ thống công nghệ hoặc sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp phục vụ việc tạo lập, báo cáo dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời theo quy định.

Dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời sau khi được tiếp nhận, lưu trữ hợp lệ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo sẽ được chia sẻ, liên thông tích hợp tự động trên ứng dụng định danh quốc gia VNelD. Các cá nhân có quyền khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của bản thân đã được tích hợp trên ứng dụng định danh quốc gia để sử dụng tương đương cho các loại văn bản giấy liên quan.

Việc khai thác, sử dụng dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời có thể được thực hiện thông qua các ứng dụng khác theo quy định của pháp luật đảm bảo đáp ứng các điều kiện sau:

Bên tiếp nhận dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của cá nhân để sử dụng có khả năng kiểm tra, xác thực dữ liệu theo quy định pháp luật về dữ liệu.

Việc khai thác, sử dụng dữ liệu phải bảo đảm dữ liệu đã được xác thực có đủ giá trị pháp lý tương đương dữ liệu gốc theo quy định của pháp luật về dữ liệu và giao dịch điện tử.

Dữ liệu phải được thu thập, cung cấp cho chủ thể dữ liệu và được sử dụng đúng mục đích, tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/5/2026.

Phê duyệt Đề án "Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia" 

 Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 515/QĐ-TTg ngày 30/3/2026 phê duyệt Đề án "Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia" (Đề án).

Xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh mạng tinh nhuệ, hiện đại

Mục tiêu của Đề án là nâng cao năng lực tổng thể, xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh mạng tinh nhuệ, hiện đại, nhằm chủ động phòng ngừa, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với mọi nguy cơ, thách thức trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng.

Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam nằm trong nhóm 15 quốc gia dẫn đầu thế giới theo Chỉ số an ninh mạng toàn cầu (ITU-GCI); hình thành và phát triển Trung tâm Đào tạo khu vực về phòng, chống tội phạm mạng và an ninh mạng tại Việt Nam để nâng cao vị thế và năng lực dẫn dắt trong khu vực.

Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam có ít nhất 10.000 chuyên gia an ninh mạng chuyên sâu, trong đó 20% đạt trình độ quốc tế.

100% lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, lực lượng bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, cán bộ trực tiếp quản trị vận hành hệ thống thông tin cấp độ 3, cấp độ 4, cấp độ 5, trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước có chứng nhận đáp ứng yêu cầu kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng do cơ quan có thẩm quyền cấp; được cập nhật kiến thức an ninh mạng ít nhất 01 lần/năm.

90% người sử dụng Internet có cơ hội tiếp cận hoạt động nâng cao nhận thức, kỹ năng và công cụ bảo đảm an ninh mạng; nghiên cứu, phát triển, từng bước làm chủ công nghệ chiến lược về an ninh mạng. Phát triển hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng do Việt Nam làm chủ công nghệ. Nhà nước lựa chọn tối thiểu 02 tổ chức, doanh nghiệp làm chủ công nghệ cho mỗi loại sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng trọng điểm, nền tảng để tập trung nguồn lực thúc đẩy.

70% các ban, bộ, ngành, địa phương và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia sử dụng sản phẩm công nghệ chiến lược "Make in Vietnam"; 100% các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng phải được kiểm định, đánh giá trước khi đưa vào sử dụng, áp dụng trước hết đối với hạ tầng thông tin quan trọng quốc gia, hệ thống thông tin của các cơ quan trong hệ thống chính trị có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội và đời sống nhân dân...

Đến 2045, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về an ninh mạng

Đến 2045, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về an ninh mạng, có năng lực mạnh trong phòng thủ, tấn công trấn áp tội phạm mạng và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền số, bảo vệ cho mọi hoạt động của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trên không gian mạng. Công nghiệp an ninh mạng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn, có 03 doanh nghiệp an ninh mạng Việt Nam nằm trong nhóm 50 doanh nghiệp dẫn đầu toàn cầu về cung cấp giải pháp an ninh mạng, xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, công nghệ ra thị trường thế giới.

Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đã đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần thực hiện như:

Hoàn thiện thể chế, xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù

Rà soát, cập nhật, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn công tác bảo đảm an ninh mạng bảo đảm đồng bộ, thống nhất, hiệu quả giữa các lực lượng, đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ không gian mạng trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của các công nghệ mới;

Xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, bảo mật thông tin, thiết lập cơ chế hợp chuẩn, hợp quy, đánh giá sự phù hợp, tổ chức đánh giá, công bố sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn đã ban hành, áp dụng trước hết đối với hạ tầng thông tin quan trọng quốc gia, hệ thống thông tin của các cơ quan trong hệ thống chính trị có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội và đời sống nhân dân;

Xây dựng khung quản lý rủi ro an ninh mạng quốc gia, chuyển đổi từ quản lý kỹ thuật thuần túy sang quản trị rủi ro toàn diện, dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế nhằm tăng tính chủ động của các cơ quan, tổ chức trong việc phân bổ nguồn lực, giảm thiểu tổn thất từ các cuộc tấn công...

Tổ chức lực lượng an ninh mạng

Củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo An ninh mạng Quốc gia và các tiểu ban tại các bộ, ngành, địa phương; củng cố, kiện toàn cơ quan chuyên trách về an ninh mạng tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, hướng dẫn các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia tổ chức lực lượng bảo vệ an ninh mạng.

Xây dựng mạng lưới liên kết các chuyên gia an ninh mạng trong nước và nước ngoài tham gia hỗ trợ công tác bảo đảm an ninh mạng. Mở rộng Liên minh ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng quốc gia; hình thành đội ngũ chuyên gia an ninh mạng có năng lực chuyên sâu về các công nghệ trọng yếu (AI, mật mã kháng lượng tử, blockchain, …) đạt đẳng cấp thế giới...

Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao

Xây dựng, ban hành tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm, khung kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng; quy định về đào tạo, sát hạch, cấp chứng nhận đáp ứng yêu cầu kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng cho lực lượng bảo vệ an ninh mạng, cán bộ trực tiếp quản trị vận hành hệ thống thông tin cấp độ 3, cấp độ 4, cấp độ 5, trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước.

Xây dựng, ban hành và định kỳ cập nhật các chương trình khung, tài liệu, giáo trình đào tạo tập huấn về bảo vệ an ninh mạng; chuẩn hóa hoạt động đào tạo, tập huấn đáp ứng yêu cầu về chuẩn kỹ năng và kiến thức về an ninh mạng tương ứng với từng cấp độ năng lực.

Hàng năm, trên cơ sở khảo sát nhu cầu thực tiễn, tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn ngắn hạn theo hình thức tập trung, trực tuyến hoặc kết hợp cho các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gồm các tổ chức chính trị - xã hội) từ Trung ương đến cấp xã và lực lượng vũ trang để cập nhật kiến thức, huấn luyện chuyên sâu kiến thức, kỹ năng an ninh mạng.

Phát triển nhân lực an ninh mạng quốc gia, kết nối nhà trường/viện nghiên cứu (sinh viên, giảng viên, nghiên cứu viên), doanh nghiệp và cơ quan nhà nước trong lĩnh vực an ninh mạng, thúc đẩy liên kết công - tư và bồi dưỡng thế hệ chuyên gia an ninh mạng mới.

Nghiên cứu phát triển, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, làm chủ công nghệ lõi trong lĩnh vực an ninh mạng

Rà soát, xây dựng, công bố danh mục công nghệ, danh mục sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng cốt lõi quốc gia ưu tiên làm chủ, tự chủ; thúc đẩy cơ chế để cơ quan nhà nước đặt hàng doanh nghiệp phát triển các sản phẩm về an ninh mạng; ưu tiên thí điểm, thử nghiệm các sản phẩm do Việt Nam làm chủ công nghệ:

- Xây dựng và triển khai chương trình quốc gia về thúc đẩy phát triển sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng nội địa theo hướng hỗ trợ đầu ra, tạo thị trường cho doanh nghiệp. Tổ chức các cuộc thi, giải thưởng quốc gia nhằm tìm kiếm, đánh giá và công nhận các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng xuất sắc, chất lượng cao của các doanh nghiệp Việt Nam;

- Triển khai các giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo về an ninh mạng thông qua việc cung cấp các ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước chuyên về nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.

- Triển khai các giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ bảo đảm an ninh mạng thông qua các gói hỗ trợ đào tạo, tư vấn, cung cấp giải pháp an ninh mạng nội địa.

Đồng thời, thúc đẩy phát triển các trung tâm đo kiểm an ninh mạng đủ năng lực thực hiện thử nghiệm, đánh giá sự phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng trong nước và quốc tế...

Nâng cao uy tín quốc gia và tăng cường hợp tác quốc tế

Tăng cường hợp tác song phương với các quốc gia tiên tiến về an ninh mạng, các tổ chức lớn thông qua các hoạt động chia sẻ thông tin, hỗ trợ kỹ thuật, và đào tạo nhân lực, ưu tiên mở rộng hợp tác với các đối tác như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Israel, Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức,...

Chủ động tham gia các tổ chức như: ITU, FIRST, APCERT, GFCE, ISO, IEC, … đề xuất sáng kiến, chia sẻ thông tin, tài liệu, phối hợp tổ chức các hoạt động, sự kiện quốc tế để nâng cao hình ảnh, vị thế quốc gia, tranh cử các vị trí lãnh đạo hoặc điều phối trong các nhóm công tác chuyên môn. Thiết lập các tổ chức, diễn đàn quốc tế do Việt Nam dẫn dắt về an ninh mạng.

Tham gia hoạt động của Liên Hợp quốc, ASEAN, APEC,… để xây dựng và thúc đẩy các chuẩn mực, quy tắc ứng xử toàn cầu về an ninh mạng. Tích cực thúc đẩy các nước ký và phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về chống tội phạm mạng sớm đưa Công ước có hiệu lực thực thi.

Thu hút nguồn lực từ nước ngoài và các đối tác quốc tế cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, chuyển giao công nghệ về bảo đảm an ninh mạng và đưa chuyên gia, tổ chức trong nước tham gia các hoạt động toàn cầu, các hội nghị như: RSAC Conference, Black Hat, DEFCON, CyberTech, Hack in the Box...; khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu đạt các chứng nhận, giải thưởng quốc tế về an ninh mạng...

Kết luận của Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà tại buổi làm việc, kiểm tra tình hình hoạt động của mô hình Chính quyền địa phương 02 cấp tại phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang 

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 157/TB-VPCP ngày 28/3/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà tại buổi làm việc, kiểm tra tình hình hoạt động của mô hình Chính quyền địa phương 02 cấp tại phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang.

Phó Thủ tướng ghi nhận và đánh giá cao cấp ủy, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh An Giang đã đoàn kết, thống nhất, quyết tâm, nỗ lực thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, đạt kết quả tích cực, toàn diện trên các lĩnh vực trong năm 2025 và 2 tháng đầu năm 2026 nổi bật là: Thực hiện quyết liệt, kịp thời cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và đơn vị hành chính các cấp; tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh và cấp xã, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; tích cực điều hành kinh tế - xã hội ổn định, phát triển nhanh và bền vững (GRDP năm 2025 tăng trưởng 8,39%, đứng thứ 14 cả nước và đứng đầu các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long; thu ngân sách nhà nước năm 2025 hơn 26 nghìn tỷ đồng), bảo đảm an sinh xã hội và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, giữ vững chủ quyền biên giới và làm tốt công tác đối ngoại; thực hiện tốt cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031…

Phường Vĩnh Tế đã tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao, bảo đảm trụ sở, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực để vận hành bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp ổn định, thông suốt, bước đầu có hiệu quả; thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, đạt và vượt 18/19 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025; cơ bản hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể và các đơn vị sự nghiệp công lập cấp xã; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tinh thần trách nhiệm cao, nỗ lực thực thi công vụ.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc sắp xếp, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp của tỉnh An Giang còn một số tồn tại, hạn chế như: Năng lực, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã còn hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu trong tình hình mới; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của chính quyền cấp cơ sở có mặt còn thụ động, chưa thực sự bao quát và sâu sát theo các quy định hiện hành; tốc độ chuyển đổi số thực tế còn chậm, chưa thực sự tương xứng với yêu cầu cấp bách hiện nay.

Khẩn trương hoàn thiện việc lập, điều chỉnh, phê duyệt các quy hoạch theo thẩm quyền

Để đảm bảo thực hiện hiệu quả, thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV và các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng yêu cầu tỉnh An Giang cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

Khẩn trương hoàn thiện các quy trình, thủ tục và điều kiện để tổ chức thành công Kỳ họp thứ 1 Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã; hoàn thành trước ngày 31/3/2026.

Quyết tâm khơi thông mọi nguồn lực, khẩn trương hoàn thiện việc lập, điều chỉnh, phê duyệt các quy hoạch theo thẩm quyền và quy định hiện hành; xây dựng các kịch bản tăng trưởng phù hợp, khả thi để vượt qua các khó khăn, thách thức, diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và Nhân dân để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 02 con số trong giai đoạn 2026 - 2030.

Rà soát, sắp xếp và hoàn thiện tổ chức bộ máy, tiếp tục củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ

Đồng thời, tập trung triển khai thực hiện 06 nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026 nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chính quyền địa phương 02 cấp như sau:

1. Khẩn trương rà soát, sắp xếp và hoàn thiện tổ chức bộ máy, tiếp tục củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ; quản lý biên chế linh hoạt theo phân loại đơn vị hành chính xã.

2. Tiếp tục rà soát, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh và cấp xã, trọng tâm là các lĩnh vực giáo dục và y tế. Việc sắp xếp phải thực hiện theo hướng tinh gọn đầu mối quản lý và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, bám sát tinh thần chỉ đạo tại các Nghị quyết của Trung ương và Kế hoạch của Chính phủ, hoàn thành trước ngày 31/5/2026.

3. Tiếp tục rà soát, đánh giá thực chất, kỹ lưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã, thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo Kết luận số 21-TB/VPTW ngày 07/3/2026. Tập trung cao độ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nhằm khắc phục những yếu kém về kỹ năng quản trị hiện nay, thực hiện ngay sau khi kiện toàn nhân sự Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp.

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã, đảm bảo vận hành thông suốt

4. Tiếp tục đánh giá, đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã để đảm bảo vận hành thông suốt. Thực hiện theo đúng phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương trách nhiệm", hạn chế việc cấp trên chỉ đạo trực tiếp vào các nhiệm vụ đã được phân cấp cho cơ sở.

5. Khẩn trương rà soát, hoàn thiện hạ tầng công nghệ để đảm bảo dữ liệu chuyên ngành được kết nối liên thông, đồng bộ với Trung tâm dữ liệu quốc gia. Đẩy mạnh phong trào "Bình dân học vụ số", huy động thanh niên làm nòng cốt hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục trực tuyến trên thiết bị di động. Mục tiêu là đơn giản hóa tối đa quy trình để người dân có thể giải quyết hồ sơ tại chỗ, giảm thiểu áp lực trực tiếp tại các Trung tâm hành chính công.

6. Kiểm tra, rà soát, xử lý dứt điểm các trụ sở công dôi dư sau sắp xếp, đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, không để xảy ra lãng phí nguồn lực nhà nước.

Kết luận của Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn tại Phiên họp thứ nhất năm 2026

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 156/TB-VPCP ngày 28/3/2026 kết luận của Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn tại Phiên họp thứ nhất năm 2026 (Ban Chỉ đạo).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 30/3/2026- Ảnh 3.

Tập trung phát triển ngành công nghiệp bán dẫn

Thông báo nêu: Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, công nghiệp bán dẫn ngày càng giữ vai trò chiến lược trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Năm 2025, Quốc hội đã thông qua 13 luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, nổi bật là Luật Công nghiệp công nghệ số, đồng thời sửa đổi nhiều chính sách theo hướng tăng ưu đãi cho lĩnh vực công nghệ cao. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có công nghiệp bán dẫn.

Ngành công nghiệp bán dẫn đang đi đúng hướng

Việt Nam đã tham gia vào hầu hết các công đoạn của chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu, thu hút hơn 50 doanh nghiệp thiết kế chip với khoảng 7.000 kỹ sư, cùng nhiều dự án lớn về đóng gói, kiểm thử. Tổng vốn FDI trong lĩnh vực bán dẫn đạt trên 14,2 tỷ USD với 241 dự án. Về nguồn nhân lực, cả nước có hơn 166 trường đại học có chuyên ngành đào tạo về các ngành công nghệ kỹ thuật có liên quan đến bán dẫn, mỗi năm thu hút khoảng 134.000 sinh viên đầu vào ngành kỹ thuật. Đặc biệt, việc khởi công xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn công nghệ cao đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 16 tháng 01 năm 2026 là dấu mốc quan trọng, thể hiện quyết tâm từng bước làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu.

Việc triển khai phát triển ngành công nghiệp bán dẫn đang đi đúng hướng và bước đầu đã hình thành những nền tảng quan trọng. Ban Chỉ đạo ghi nhận và biểu dương các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo; các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, các cơ sở đào tạo: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội và các doanh nghiệp: Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội, Tập đoàn FPT, Tập đoàn Công nghệ CMC, Tập đoàn Phenikaa đã có nhiều nỗ lực, đóng góp trong việc hình thành hệ sinh thái bán dẫn, từng bước trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu.

Phát triển ngành công nghiệp bán dẫn là nhiệm vụ khó khăn liên quan đến các ngành với nhiều thách thức: (1) Hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn trong nước chưa phát triển đồng bộ và đầy đủ, cần tiếp tục hoàn thiện để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu; (2) Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, đặc biệt là nhóm "kỹ sư thực hành", nhân lực có học vị (Tiến sỹ, Thạc sỹ) chuyên ngành bán dẫn; (3) Ngành công nghiệp bán dẫn đòi hỏi quy mô vốn đầu tư rất lớn và hạ tầng kỹ thuật tiêu chuẩn cao, trong khi hạ tầng phục vụ ngành (nhất là điện, nước, năng lượng tái tạo và các cơ sở nghiên cứu - phát triển, phòng thí nghiệm) cần tiếp tục được đầu tư, hoàn thiện; (4) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bán dẫn vẫn cần tiếp tục được mở rộng và đi vào chiều sâu, đặc biệt trong chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.

Năm 2026: "Quyết liệt triển khai - Phối hợp đồng bộ - Tập trung trọng điểm - Tạo kết quả thực chất"

Ban Chỉ đạo thống nhất kết luận: Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng thời tiếp tục triển khai các nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Với phương châm hành động năm 2026: "Quyết liệt triển khai - Phối hợp đồng bộ - Tập trung trọng điểm - Tạo kết quả thực chất", Ban Chỉ đạo yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục phát huy vai trò cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo và chủ trì điều phối, theo dõi, đôn đốc việc triển khai các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo; tập trung thúc đẩy nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi, đồng thời thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và các đối tác quốc tế.

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát toàn bộ các phòng thí nghiệm của các cơ sở đào tạo (không bao gồm 04 phòng thí nghiệm dùng chung cấp quốc gia và 19 phòng thí nghiệm cấp cơ sở) để tổng hợp nhu cầu vốn, các vấn đề còn vướng mắc trong việc hình thành, nâng cấp các phòng thí nghiệm, từ đó đề xuất chương trình hỗ trợ, đồng thời gửi Bộ Tài chính để đăng ký bố trí nguồn vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 và các nguồn vốn cấp bách khác theo quy định của pháp luật.

Xây dựng tài liệu về phòng thí nghiệm mẫu để làm cơ sở cho việc triển khai các phòng thí nghiệm. Nghiên cứu đề xuất cơ chế sử dụng/dùng chung giữa các phòng thí nghiệm; cơ chế hỗ trợ chi phí hoạt động trong các năm đầu đi vào hoạt động, không phân biệt khu vực công - khu vực tư, bảo đảm theo quy định pháp luật.

Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng Danh mục chip chuyên dụng trong một số ngành, lĩnh vực nhà nước sẽ đặt hàng (chip cho camera AI, chip cho UAV, chip cho thiết bị 6G, chip bảo mật, chip IoT Việt Nam,…). Báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong Quý II năm 2026.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đo lường sự phát triển ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam. Thời hạn hoàn thành: Quý II năm 2026; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện, trình ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo trước ngày 31 tháng 3 năm 2026.

Triển khai chính sách ưu đãi về thuế, tài chính và đầu tư đối với lĩnh vực bán dẫn

Bộ Tài chính triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế, tài chính và đầu tư đối với lĩnh vực bán dẫn; phối hợp với các bộ, ngành liên quan bố trí và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển hạ tầng nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn.

Đẩy mạnh thu hút đầu tư có chọn lọc, đặc biệt là các dự án công nghệ cao, trong đó chú ý đến việc thu hút các tập đoàn lớn trên thế giới đầu tư tại Việt Nam. Phát huy hiệu quả của Mạng lưới Đổi mới sáng tạo và chuyên gia Việt Nam nhằm phục vụ hoạt động nghiên cứu - phát triển, đào tạo. Thúc đẩy phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia trở thành hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực bán dẫn, có vai trò điều phối, kết nối đầu tư, thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trung tâm R&D, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, ươm tạo và thương mại hóa các công nghệ.

Bộ Tài chính tiếp tục phát huy vai trò cơ quan đầu mối điều phối, theo dõi, đánh giá quá trình triển khai Chương trình "Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050", định kỳ hằng năm báo cáo Ban Chỉ đạo; nghiên cứu đề xuất cơ chế không bắt buộc phải trích khấu hao hoặc tạm dừng trích khấu hao đối với các phòng thí nghiệm bán dẫn, tài sản công dùng chung phục vụ đổi mới sáng tạo và ngành công nghiệp bán dẫn khi tính vào giá dịch vụ sự nghiệp công.

Bộ Ngoại giao tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bán dẫn; tranh thủ các nguồn lực về công nghệ, đào tạo và đầu tư; tăng cường kết nối với các tập đoàn công nghệ, các tổ chức nghiên cứu và chuyên gia quốc tế; thúc đẩy việc cung cấp/giới thiệu các học bổng, khóa hỗ trợ đào tạo của các quốc gia, các doanh nghiệp nước ngoài. Đồng thời, đẩy mạnh truyền thông đối ngoại, quảng bá hình ảnh Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các dự án công nghệ cao.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp bán dẫn

Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp bán dẫn; tiếp tục hoàn thiện các chương trình đào tạo vi mạch bán dẫn; đẩy mạnh mô hình liên kết giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp; khẩn trương hoàn thành việc phê duyệt chủ trương đầu tư các phòng thí nghiệm bán dẫn thuộc quyền quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật, hoàn thành trong tháng 5 năm 2026.

Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo nhân lực bán dẫn Việt Nam tại nước ngoài, trong đó cung cấp các học bổng để khuyến khích đào tạo nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, thúc đẩy các chương trình đào tạo lại và đào tạo nâng cao nhằm nhanh chóng mở rộng lực lượng kỹ sư và chuyên gia trong lĩnh vực này.

Bộ Công Thương nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp điện tử và bán dẫn; bảo đảm các điều kiện về năng lượng và hạ tầng phục vụ sản xuất công nghệ cao; ưu tiên phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo dành cho phát triển công nghiệp bán dẫn; khẩn trương hoàn thành việc phê duyệt chủ trương đầu tư các phòng thí nghiệm bán dẫn thuộc quyền quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật, hoàn thành trong tháng 5 năm 2026.

Thúc đẩy hợp tác thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu.

Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính

Các địa phương cần chủ động chuẩn bị hạ tầng đồng bộ (đất, điện, nước, nhân lực, nhà ở, phòng thí nghiệm,…), cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; đồng thời xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp để thu hút các dự án công nghệ cao và hình thành các trung tâm công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam.

Các cơ sở đào tạo, nghiên cứu cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo và nghiên cứu; phát huy hiệu quả các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu đã được đầu tư; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực nghiên cứu trong lĩnh vực bán dẫn.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, đề nghị các doanh nghiệp công nghệ trong nước chủ động nâng cao năng lực công nghệ, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu - phát triển, tích cực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn. Đề nghị các doanh nghiệp FDI lớn tiếp tục mở rộng đầu tư, tăng cường hoạt động nghiên cứu - phát triển tại Việt Nam, đồng thời thúc đẩy liên kết, hợp tác với doanh nghiệp trong nước để cùng phát triển hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn.../.