• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/6/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/6/2026.

04/06/2026 17:37
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/6/2026- Ảnh 1.

Thay đổi cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sửa đổi quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chính phủ ban hành Nghị định số 198/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị định số 26/2025/NĐ-CP ngày 24/2/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Cụ thể, Nghị định số 198/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo hướng không thay đổi số lượng đơn vị (vẫn giữ 20 đơn vị); đổi tên Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thành Vụ Tín dụng; Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính thành Vụ Dự báo, thống kê.

Đồng thời, Nghị định số 198/2026/NĐ-CP cũng bổ sung quy định "Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước Khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước" và thay đổi số lượng phòng thuộc các Vụ.

Theo quy định mới, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gồm:

1. Vụ Chính sách tiền tệ.

2. Vụ Thanh toán.

3. Vụ Tín dụng.

4. Vụ Dự báo, thống kê.

5. Vụ Hợp tác quốc tế.

6. Vụ Pháp chế.

7. Vụ Tài chính - Kế toán.

8. Vụ Tổ chức cán bộ.

9. Văn phòng.

10. Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.

11. Sở Giao dịch.

12. Cục Công nghệ thông tin.

13. Cục Phát hành và kho quỹ.

14. Cục Quản lý ngoại hối.

15. Cục Phòng, chống rửa tiền.

16. Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng.

17. Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

18. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực (Ngân hàng Nhà nước Khu vực).

19. Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam.

20. Thời báo Ngân hàng.

Các đơn vị từ 1 đến 18 là tổ chức hành chính giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng Trung ương; các đơn vị quy định tại 19 và 20 là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.

Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước Khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước.

Vụ Dự báo, thống kê có 06 phòng. Vụ Chính sách tiền tệ có 05 phòng. Vụ Tín dụng, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Tài chính - Kế toán có 04 phòng. Vụ Thanh toán, Vụ Hợp tác quốc tế có 03 phòng. Vụ Pháp chế có 02 phòng.

* Theo quy định cũ tại Nghị định 26/2025/NĐ-CP, Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính có 6 phòng. Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Tài chính - Kế toán, Vụ Tổ chức cán bộ có 5 phòng. Vụ Thanh toán có 4 phòng. Vụ Pháp chế có 3 phòng.

Nghị định số 198/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Quy định chi tiết về quyết toán vốn đầu tư dự án thành phần, tiểu dự án, công trình, hạng mục công trình độc lập

Chính phủ ban hành Nghị định số 193/2026/NĐ-CP quy định về quyết toán vốn đầu tư dự án. Nghị định gồm 5 chương, 31 điều, phạm vi điều chỉnh gồm:

1. Quy định quyết toán vốn đầu tư đối với dự án đầu tư, nhiệm vụ (dự án hoặc chi phí) chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị dự án, nhiệm vụ quy hoạch (sau đây gọi chung là dự án) sử dụng vốn đầu tư công, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, vốn ngân sách nhà nước khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đầu tư công sau khi hoàn thành hoặc dừng, tạm ngừng, hủy bỏ (sau đây gọi chung là dừng) theo văn bản cho phép dừng thực hiện của người có thẩm quyền quyết định đầu tư.

2. Dự án, công trình, hạng mục công trình sử dụng một phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư công, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, vốn ngân sách nhà nước khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đầu tư công: thực hiện thống nhất theo quy định tại Nghị định này, trừ dự án có quy định riêng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Dự án có nguồn đóng góp bằng hiện vật, ngày công lao động hoặc công trình hoàn thành: căn cứ đơn giá hiện vật, giá trị ngày công lao động hoặc giá trị công trình hoàn thành được quyết toán để hạch toán vào giá trị công trình, dự án để theo dõi, quản lý.

Dự án thực hiện theo hình thức sử dụng vốn để hỗ trợ bằng vật liệu xây dựng, các hình thức hỗ trợ hiện vật khác: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể việc quyết toán phần vốn hỗ trợ cho phù hợp với điều kiện thực tế của mình và của Nhà nước.

3. Dự án đầu tư sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ: thực hiện quyết toán vốn đầu tư dự án theo Điều ước quốc tế về ODA và vốn vay ưu đãi đã ký kết, Nghị định hướng dẫn riêng của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính. Trường hợp không có quy định tại Điều ước quốc tế, Nghị định và Thông tư hướng dẫn riêng thì thực hiện theo Nghị định này.

4. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể áp dụng quy định tại Nghị định này để lập báo cáo quyết toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án đối với các dự án không thuộc phạm vi điều chỉnh tại khoản 1, khoản 2 nêu trên và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

5. Dự án thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật bảo vệ bí mật nhà nước do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện và Dự án đầu tư của các cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định việc lập báo cáo quyết toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư phù hợp với yêu cầu đặc thù quản lý ngành và chịu trách nhiệm về quy định của mình.

Quyết toán vốn đầu tư dự án thành phần, tiểu dự án, công trình, hạng mục công trình độc lập

Nghị định quy định việc quyết toán vốn đầu tư dự án thành phần, tiểu dự án, công trình, hạng mục công trình độc lập được thực hiện như sau:

1. Trường hợp tại văn bản phê duyệt chủ trương đầu tư dự án có phân chia dự án thành phần, tiểu dự án độc lập (có thể vận hành độc lập, khai thác sử dụng độc lập hoặc được phân kỳ đầu tư) và có quyết định đầu tư dự án riêng biệt: mỗi dự án thành phần hoặc tiểu dự án độc lập thực hiện báo cáo quyết toán, thẩm tra và phê duyệt quyết toán như một dự án đầu tư độc lập. Dự án thành phần hoặc tiểu dự án đã được thẩm tra và phê duyệt quyết toán theo quy định không phải thẩm tra và phê duyệt quyết toán lại, trừ trường hợp người có thẩm quyền quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư toàn bộ dự án yêu cầu.

Các bộ, cơ quan trung ương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao quản lý dự án thành phần chính hoặc làm đầu mối tổng hợp dự án chịu trách nhiệm báo cáo kết quả phê duyệt tổng quyết toán vốn đầu tư dự án quan trọng quốc gia gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính.

2. Đối với dự án chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị dự án (sau đây gọi chung là dự án chuẩn bị đầu tư), Nghị định quy định:

a) Trường hợp dự án chuẩn bị đầu tư được bố trí vốn chuẩn bị đầu tư trong chi phí của dự án đầu tư được duyệt để triển khai thực hiện dự án, việc quyết toán riêng dự án chuẩn bị đầu tư hoặc quyết toán chung với dự án đầu tư do người có thẩm quyền đầu tư dự án quyết định.

b) Trường hợp dự án chuẩn bị đầu tư được bố trí vốn riêng, việc quyết toán được thực hiện như tiểu dự án độc lập và tổng hợp quyết toán dự án theo quy định tại khoản 1 nêu trên.

c) Trường hợp dự án chuẩn bị đầu tư không được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, thì các khoản chi phí đã thực hiện của dự án chuẩn bị đầu tư được quyết toán như dự án dừng thực hiện.

3. Đối với bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Nghị định quy định:

a) Trường hợp trong chủ trương đầu tư dự án nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng được tách thành dự án độc lập: việc lập báo cáo quyết toán và thẩm tra, phê duyệt quyết toán được thực hiện như một dự án độc lập.

b) Đối với các trường hợp còn lại: đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chịu trách nhiệm báo cáo quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp với cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để phê duyệt quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và gửi quyết định phê duyệt tới chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng để tổng hợp vào báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án của toàn bộ dự án.

c) Trường hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án đã được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thì đơn vị, tổ chức được cấp có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án (sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp) có trách nhiệm tiếp tục tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án theo đúng quy định của pháp luật về đất đai và thực hiện báo cáo quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân quản lý đơn vị, tổ chức được giao thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án phê duyệt quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

d) Cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán toàn bộ dự án không phải thẩm tra lại phần chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt quyết toán, trừ trường hợp người có thẩm quyền quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư toàn bộ dự án yêu cầu thẩm tra lại chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt quyết toán.

Người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giao đơn vị chuyên môn thuộc quyền quản lý hoặc công chức chuyên môn thuộc quyền quản lý (đối với cấp xã không tổ chức phòng) chủ trì thẩm tra quyết toán và quy định cụ thể thời gian lập, thẩm tra, phê duyệt quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm không được làm ảnh hưởng đến chủ đầu tư dự án khi lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư dự án.

4. Đối với công trình, hạng mục công trình độc lập (có thể vận hành độc lập, khai thác sử dụng độc lập) hoàn thành đưa vào sử dụng của dự án, Nghị định quy định:

Trường hợp cần thiết phải thẩm tra, phê duyệt quyết toán thì chủ đầu tư báo cáo người có thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án đầu tư xem xét, quyết định cho phép quyết toán. Giá trị quyết toán của công trình, hạng mục công trình bao gồm: chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, các khoản chi phí tư vấn và chi khác có liên quan trực tiếp đến công trình, hạng mục công trình đó.

Sau khi dự án hoàn thành toàn bộ hoặc dừng thực hiện, chủ đầu tư tổng hợp giá trị quyết toán được duyệt của công trình, hạng mục công trình vào báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án trình người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án.

5. Đối với dự án có toàn bộ dự án thành phần, tiểu dự án, công trình hoặc hạng mục xây dựng và thiết bị đã hoàn thành bàn giao đưa vào khai thác sử dụng nhưng chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa hoàn thành: chủ đầu tư báo cáo người có thẩm quyền quyết định đầu tư dự án cho phép thực hiện báo cáo quyết toán chi phí đã thực hiện dự án để gửi cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán thẩm tra; chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quyết toán là giá trị hợp pháp đã thực hiện. Trường hợp chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tiếp tục thực hiện bổ sung, việc quyết toán chi phí bổ sung thực hiện theo quy định tại điểm b, điểm c, điểm d khoản 3 nêu trên.

Các nội dung liên quan đến lập báo cáo quyết toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư thực hiện theo quy định tại Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.

Dự án, dự án thành phần, tiểu dự án, công trình, hạng mục công trình độc lập đã nộp hồ sơ quyết toán về cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán và các hợp đồng kiểm toán độc lập đã ký trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực: thực hiện theo quy định tại Nghị định số 254/2025/NĐ-CP ngày 26/9/2025 của Chính phủ quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sửdụng vốn đầu tư công.

Tiếp tục thực hiện phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Công văn số 596/TTg-CĐS ngày 3/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), điều kiện kinh doanh (ĐKKD).

Văn bản nêu: Triển khai Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số", ngày 29 tháng 4 năm 2026, Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD và cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Thủ tướng Chính phủ đã có Văn bản chỉ đạo các bộ, cơ quan, địa phương triển khai các Nghị quyết.

Trên cơ sở Báo cáo số 361/BC-BTP ngày 26 tháng 5 năm 2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả thực hiện 11 Nghị quyết của Chính phủ về phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD và đề xuất của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan: Y tế; Giáo dục và Đào tạo; Xây dựng; Công Thương; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Khoa học và Công nghệ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rà soát lại kết quả thực hiện phân quyền, phân cấp TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ, cơ quan để tiếp tục phân cấp theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật phân cấp việc thực hiện TTHC, phấn đấu đạt yêu cầu, mục tiêu tại Kết luận số 18-KL/TW.

Các Bộ: Tài chính; Khoa học và Công nghệ rà soát lại các TTHC, ĐKKD tương ứng với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã được cắt giảm để tiếp tục cắt giảm thực chất theo đúng chỉ đạo tại Kết luận số 18-KL/TW và của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Các Bộ: Y tế; Giáo dục và Đào tạo; Dân tộc và Tôn giáo; Ngoại giao; Nông nghiệp và Môi trường; Công Thương; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Khoa học và Công nghệ khẩn trương hoàn thành việc ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thành ngay việc thực thi phương án phân cấp 69 TTHC, cắt giảm 31 TTHC, đơn giản hóa 24 TTHC, cắt giảm 82 ĐKKD còn thiếu theo đúng phương án đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Tái cấu trúc quy trình thực hiện TTHC để tích hợp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ công bố TTHC đã được cắt giảm, đơn giản hóa tại 11 Nghị quyết và cập nhật, công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, tái cấu trúc quy trình để tích hợp trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tập trung, Cổng Dịch vụ công quốc gia phục vụ giải quyết TTHC, hoàn thành chậm nhất trước ngày 05 tháng 6 năm 2026 đối với chùm 08 Nghị quyết ban hành ngày 29 tháng 4 năm 2026 và các Thông tư đã ban hành để đồng bộ với các Nghị quyết; chậm nhất trước ngày 10 tháng 6 năm 2026 đối với 03 Nghị quyết còn lại; đồng thời, chủ trì thực hiện cấu hình, cung cấp TTHC đã được phân cấp, đơn giản hóa theo 11 Nghị quyết.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao nêu trên, gửi Bộ Tư pháp trước ngày 12 tháng 6 năm 2026.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổng hợp, báo cáo Bộ Tư pháp tình hình bố trí, sắp xếp, phân bổ nguồn lực để tiếp nhận các TTHC được phân cấp từ Trung ương, khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị cụ thể (nếu có), hoàn thành trước ngày 12 tháng 6 năm 2026.

Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ rà soát, cập nhật số liệu về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD, bảo đảm tính chính xác, thống nhất; tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ các bộ, cơ quan, địa phương được giao ở trên và các nội dung phát sinh (nếu có), hoàn thành trước ngày 15 tháng 6 năm 2026./.