• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2026 (1)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2026 (1).

05/01/2026 17:38

Sửa đổi, bổ sung quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia 

Chính phủ ban hành Nghị định số 367/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 9/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2026 (1)- Ảnh 1.

Nghị định nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả tổ chức và vận hành cơ chế một cửa, một cửa liên thông, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giải quyết thủ tục hành chính, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng thuận tiện, minh bạch.

Theo quy định mới, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính là nền tảng thống nhất của bộ, ngành, địa phương, có chức năng tiếp nhận, giải quyết, theo dõi tình hình tiếp nhận, giải quyết, kết quả giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan, đơn vị; kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia để cung cấp và thực hiện các dịch vụ công trực tuyến.

Sửa đổi quy định liên quan đến tổ chức Bộ phận Một cửa tại các địa phương

Nghị định số 367/2025/NĐ-CP sửa đổi quy định liên quan đến tổ chức Bộ phận Một cửa tại các địa phương theo hướng Ủy ban nhân dân thành phố không quyết định thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp mà trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định.

Cụ thể, tại các thành phố trực thuộc trung ương, trên cơ sở xem xét đặc thù về quản lý dân cư, tổ chức đời sống dân cư đô thị, đánh giá mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh là tổ chức hành chính trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố (Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp) và quyết định số lượng chi nhánh trực thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp để thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi địa phương.

Trường hợp không lựa chọn mô hình này, Ủy ban nhân dân thành phố quyết định thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh theo quy định.

Tương tự, đối với cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã là tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, có con dấu và tài khoản riêng để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Không tổ chức Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã tại các địa phương lựa chọn mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Quy định mới về người làm việc tại Bộ phận Một cửa

Về quy định người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Nghị định 367/2025/NĐ-CP sửa đổi: Lãnh đạo Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định bổ nhiệm, gồm 01 Giám đốc tương đương Phó Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc do Phó Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiêm nhiệm; không quá 03 Phó Giám đốc tương đương Trưởng phòng thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giúp Giám đốc Trung tâm thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ cụ thể do Giám đốc Trung tâm phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Trung tâm và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ được phân công.

Đồng thời, Nghị định 367/2025/NĐ-CP bổ sung quy định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định việc thành lập phòng thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, bảo đảm phù hợp với tiêu chí thành lập phòng thuộc chi cục thuộc sở theo quy định của pháp luật.

Đối với Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, lãnh đạo Trung tâm gồm 01 Giám đốc tương đương Giám đốc sở; các Phó Giám đốc tương đương Phó Giám đốc sở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định bổ nhiệm, giúp Giám đốc Trung tâm thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ cụ thể do Giám đốc Trung tâm phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Trung tâm và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ được phân công. Số lượng Phó Giám đốc thực hiện theo quy định của Chính phủ về số lượng cấp phó cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp.

Lãnh đạo Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã gồm Giám đốc tương đương Trưởng phòng; Phó Giám đốc tương đương Phó Trưởng phòng thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã giúp Giám đốc thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ cụ thể do Giám đốc phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ được phân công. Số lượng Phó Giám đốc thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Bổ sung cách thức nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại Ứng dụng định danh quốc gia

Về cách thức tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính, Nghị định 118/2025/NĐ-CP quy định 3 cách thức gồm: Trực tiếp tại Bộ phận Một cửa; Thông qua dịch vụ bưu chính công ích, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật; Trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Ngoài các cách thức nêu trên, Nghị định số 367/2025/NĐ-CP bổ sung quy định cho phép tổ chức, cá nhân có thể nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến tại Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID).

Bổ sung hợp phần cấu thành Cổng Dịch vụ công quốc gia

Về hợp phần cấu thành Cổng Dịch vụ công quốc gia, Nghị định 367/2025/NĐ-CP bổ sung 1 hợp phần là Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính.

Như vậy, các hợp phần cấu thành Cổng Dịch vụ công quốc gia bao gồm: 1-Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; 2- Hệ thống tiếp nhận, trả lời phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân; 3- Hệ thống trao đổi định danh, xác thực điện tử của Cổng Dịch vụ công quốc gia; 4- Hệ thống thanh toán trực tuyến; 5- Hệ thống đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính của bộ, ngành, địa phương; 6- Hệ thống hỗ trợ giải đáp những vấn đề thường gặp trong giải quyết thủ tục hành chính; 7- Giao diện Cổng Dịch vụ công quốc gia; 8- Hệ thống quản trị của Cổng Dịch vụ công quốc gia; 9- Nền tảng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức; cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến; 10- Nền tảng phân tích dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đánh giá tình hình giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công của các bộ, ngành, địa phương; 11- Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính; 12- Các hợp phần khác theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Nghị định 367/2025/NĐ-CP cũng bổ sung quy định: Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của địa phương không thực hiện tiếp nhận và giải quyết đối với các thủ tục hành chính đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo mô hình tập trung tại Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của bộ, ngành. Trong trường hợp này, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của địa phương được kết nối, đồng bộ dữ liệu giải quyết các thủ tục hành chính từ Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của bộ, ngành để tra cứu, khai thác, theo dõi, thống kê, tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện thủ tục hành chính tại địa phương.

Sửa đổi chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ 

Chính phủ ban hành Nghị định số 369/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 36/2025/NĐ-CP ngày 25/2/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ. 

Bãi bỏ nhiệm vụ, quyền hạn về kiểm soát thủ tục hành chính

Nghị định số 369/2025/NĐ-CP bỏ cụm từ "kiểm soát thủ tục hành chính" tại Điều 1 Nghị định số 36/2025/NĐ-CP. Như vậy, Văn phòng Chính phủ không còn chức năng về kiểm soát thủ tục hành chính.

Cùng với đó, Nghị định số 369/2025/NĐ-CP cũng bãi bỏ nhiệm vụ, quyền hạn về kiểm soát thủ tục hành chính quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số 36/2025/NĐ-CP.

Cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ gồm 17 đơn vị

Nghị định số 369/2025/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị định 36/2025/NĐ-CP về cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ.

Theo quy định mới, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ giảm từ 18 đơn vị xuống còn 17 đơn vị, gồm:

1- Vụ Tổng hợp.

2- Vụ Pháp luật.

3- Vụ Kinh tế tổng hợp.

4- Vụ Công nghiệp.

5- Vụ Nông nghiệp.

6- Vụ Khoa giáo - Văn xã.

7- Vụ Quan hệ quốc tế.

8- Vụ Nội chính.

9- Vụ Tổ chức công vụ.

10- Vụ Theo dõi công tác thanh tra (Vụ I).

11- Vụ Công tác Quốc hội, Địa phương và Đoàn thể.

12- Vụ Thư ký - Biên tập.

13- Vụ Hành chính.

14- Vụ Tổ chức cán bộ.

15- Cục Chuyển đổi số.

16- Cục Quản trị - Tài vụ.

17- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ là các tổ chức hành chính do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức.

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ được sử dụng con dấu hình Quốc huy.

Vụ Hành chính có 03 phòng.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Văn phòng Chính phủ.

Như vậy, so với quy định cũ, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ không còn Vụ Đổi mới doanh nghiệp và Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, đồng thời bổ sung thêm Cục Chuyển đổi số.

Nghị định số 369/2025/NĐ-CP nêu rõ, Vụ Đổi mới doanh nghiệp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định hiện hành cho đến khi Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Vụ Kinh tế tổng hợp.

Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (quy định tại khoản 16 Điều 3 Nghị định số 36/2025/NĐ-CP ngày 25/2/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ) tiếp tục thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định hiện hành cho đến khi cấp có thẩm quyền ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Chuyển đổi số thuộc Văn phòng Chính phủ và Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành.

Nghị định số 369/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2026.

Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2026 - 2030

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 2836/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình) với mục tiêu tổng quát là tất cả sự kiện hộ tịch đều được đăng ký, quản lý trên môi trường điện tử. 

Mọi người dân được thiết lập hồ sơ hộ tịch điện tử cá nhân

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2026 (1)- Ảnh 2.

Hướng tới mục tiêu tất cả sự kiện hộ tịch đều được đăng ký, quản lý trên môi trường điện tử.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là bảo đảm các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam; người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam; người nước ngoài, người gốc Việt Nam được đăng ký kịp thời, đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật; chất lượng và tỷ lệ đăng ký hộ tịch được nâng cao, tập trung vào tỷ lệ đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử đúng hạn, bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch của nhóm đối tượng yếu thế, vùng sâu, vùng xa; hướng tới mục tiêu tất cả sự kiện hộ tịch đều được đăng ký, quản lý trên môi trường điện tử; dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đầy đủ, chính xác, thống nhất, cập nhật kịp thời, kết nối, khai thác, sử dụng hiệu quả.

Đồng thời, bảo đảm mọi người dân được thiết lập hồ sơ hộ tịch điện tử cá nhân, được cấp giấy tờ hộ tịch hợp lệ (bản điện tử, bản giấy) đặc biệt là Giấy khai sinh có đầy đủ, thống nhất nội dung, phù hợp với thông lệ quốc tế; đẩy mạnh truyền thông, tăng cường nhận thức, thúc đẩy thay đổi hành vi, mức độ ủng hộ, khai thác, sử dụng của xã hội đối với giấy tờ, dữ liệu điện tử, đăng ký trực tuyến, sử dụng số định danh cá nhân, Ứng dụng định danh điện tử quốc gia - VNeID.

Số liệu đăng ký hộ tịch được thống kê, tổng hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời, có các chỉ tiêu thống kê cơ bản theo thông lệ quốc tế và được công bố công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật; số liệu hộ tịch được thống kê kịp thời, đầy đủ; thống kê nguyên nhân tử vong được cải thiện về chất lượng; tăng cường tính tin cậy, minh bạch, hiệu quả của số liệu thống kê hộ tịch, bảo đảm dữ liệu "đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung", kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu hiệu quả...

Bảo đảm 100% công dân Việt Nam có Giấy khai sinh hợp lệ

Về đăng ký khai sinh, phấn đấu đến năm năm 2030 tỷ lệ đăng ký khai sinh đúng hạn cho trẻ em (tiêu chí đúng hạn theo quy định pháp luật hộ tịch của Việt Nam) đạt 98,5%. Tỷ lệ đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra sống trong vòng 1 năm kể từ ngày sinh (tiêu chí thống kê theo thông lệ quốc tế) đạt 99%.

Tạo lập bản điện tử Giấy khai sinh cho toàn bộ công dân Việt Nam đã đăng ký khai sinh từ ngày 01/01/2016 trở về trước và còn sống tại thời điểm tạo lập (tạo lập hồi tố giai đoạn 2); bảo đảm 100% công dân Việt Nam (còn sống) có Giấy khai sinh hợp lệ.

Về đăng ký khai tử, đến năm 2030 phấn đấu tỷ lệ đăng ký khai tử đúng hạn (tiêu chí thống kê theo quy định pháp luật hộ tịch của Việt Nam) đạt 90%. Tỷ lệ đăng ký khai tử trong vòng 1 năm kể từ ngày chết (tiêu chí thống kê theo thông lệ quốc tế) đạt 95%. Tỷ lệ đăng ký khai tử đúng hạn cho các trường hợp chết tại cơ sở y tế và được cấp Giấy báo tử, đạt 100%.

Về cập nhật tình trạng hôn nhân khi có thay đổi do ly hôn, hủy việc kết hôn, đến năm 2030 dữ liệu về các trường hợp ly hôn theo bản án/quyết định đã có hiệu lực của Tòa án được đồng bộ ngay (theo thời gian thực) từ Cơ sở dữ liệu của Tòa án nhân dân tối cao sang Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, được cơ quan đăng ký hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch; rà soát, đối chiếu, cập nhật thông tin về các trường hợp ly hôn từ 31/12/2025 trở về trước và đủ điều kiện được đồng bộ từ Cơ sở dữ liệu của Tòa án sang Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đạt 95%.

Chương trình có 7 nội dung chính và 5 giải pháp thực hiện.

7 Nội dung của Chương trình

1. Thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia thực hiện Chương trình: Ban Chỉ đạo do Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Trưởng ban, thành viên là đại diện Lãnh đạo Bộ Tư pháp và một số bộ, ngành có liên quan.

Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm điều phối, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện Chương trình; đôn đốc các bộ, ngành, địa phương thực hiện và báo cáo kết quả thực hiện; giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện theo thẩm quyền; tổng hợp, báo cáo kết quả và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện Chương trình.

2. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đăng ký, thống kê hộ tịch: Rà soát, đánh giá toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch và lĩnh vực liên quan; nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Hộ tịch và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong năm 2026 và các năm tiếp theo, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, hiện đại hoá phương thức đăng ký hộ tịch, đăng ký hộ tịch trực tuyến toàn trình, phân quyền triệt để cho chính quyền cơ sở trong đăng ký hộ tịch, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân...

3. Cải thiện cơ sở vật chất, kỹ thuật; hiện đại hóa phương thức đăng ký, thống kê hộ tịch: Nâng cấp, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thành Cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm về an ninh, an toàn dữ liệu, phù hợp với vai trò, vị trí thực tế của Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, tăng cường hiệu quả kết nối, chia sẻ dữ liệu hộ tịch...

4. Nghiên cứu, đề xuất đổi mới, hoàn thiện quy trình, việc bố trí nhân sự và cơ cấu nhân sự làm công tác đăng ký, thống kê hộ tịch, bảo đảm chuyên nghiệp, hiện đại, tập trung; năng lực đáp ứng cả về trình độ, tiêu chuẩn chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng bổ trợ và thái độ thực hiện công vụ.

5. Xây dựng, thực hiện Kế hoạch truyền thông về đăng ký, thống kê hộ tịch; tuyên truyền thường xuyên, toàn diện, hiệu quả, bảo đảm nhận thức đầy đủ, chính xác của các cơ quan, tổ chức, các cấp chính quyền và người dân về ý nghĩa, vai trò của đăng ký, thống kê hộ tịch, quyền và trách nhiệm đăng ký hộ tịch, tiện ích, giá trị pháp lý của việc đăng ký hộ tịch điện tử, các giấy tờ hộ tịch điện tử, các kết quả nổi bật của hoạt động đăng ký, thống kê hộ tịch; hướng tới thay đổi hành vi từ "thụ động" sang "chủ động" đăng ký đúng hạn, sử dụng dịch vụ công trực tuyến đối với người dân, nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ, kỹ năng truyền thông, hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử đối với cán bộ, công chức.

6. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ y tế thực hiện việc cấp Giấy chứng sinh, Giấy báo tử, ghi nhận, xác định nguyên nhân tử vong; xây dựng, hoàn thiện, bảo đảm tính đầy đủ, kịp thời, toàn diện của Cơ sở dữ liệu về Giấy chứng sinh, Giấy báo tử; cải thiện chất lượng ghi nhận thông tin nguyên nhân tử vong.

7. Thu thập chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin thống kê hộ tịch, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu khai thác, sử dụng của tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật...

5 Giải pháp thực hiện

1- Đẩy mạnh công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật đa phương tiện;

2- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác đăng ký, thống kê hộ tịch; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá, tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và có các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành;

3- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác đăng ký và quản lý hộ tịch về chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch;

4- Duy trì và phát huy hiệu quả của công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và địa phương trong công tác đăng ký, thống kê hộ tịch;

5- Ưu tiên bố trí nguồn lực ngân sách phù hợp để thực hiện Chương trình; tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế cho công tác đăng ký, thống kê hộ tịch...

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Diễn đàn quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ 3 

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 4/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Diễn đàn quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ 3.

Thông báo nêu, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số thời gian qua có sự chuyển biến rõ nét về cả nhận thức, tư duy và hành động, lan tỏa đến "mọi nhà, mọi người" tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Thể chế, cơ chế, chính sách được hoàn thiện. Hạ tầng số đã có bước "đột phá" về năng lực, công nghệ và chất lượng. Phủ sóng 5G gần 59% dân số; Internet vào top 20 thế giới.

Kinh tế số tăng trưởng nhanh. Số lượng doanh nghiệp công nghệ số tăng từ 58 nghìn năm 2020 lên khoảng 80 nghìn năm 2025; kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghệ số năm 2025 ước đạt 172 tỷ USD, tăng gấp hơn 1,7 lần so với năm 2020; thương mại điện tử ước đạt 36 tỷ USD năm 2025, tăng 3 lần so với năm 2020, tăng trưởng 22-25%/năm. Đến cuối năm 2025, ước giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 26 lần GDP với hơn 20,2 tỷ giao dịch/năm. Công tác quản lý thuế, hóa đơn điện tử được triển khai quyết liệt, hiệu quả, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước.

Xã hội số phát triển rộng khắp trên tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau; cắt giảm thủ tục hành chính, vận hành chính quyền 02 cấp, thiết lập các Trung tâm phục vụ hành chính công mang lại những kết quả tích cực; 100% cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đã dùng căn cước công dân gắn chip; thực hiện chi trả trợ cấp qua tài khoản ngân hàng cho khoảng 3 triệu người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội và người có công với cách mạng với trên 40 nghìn tỷ đồng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển kinh tế số, xã hội số vẫn còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc về thể chế, chính sách; dữ liệu số chưa đầy đủ; phát triển hạ tầng số chưa đồng bộ; nguồn nhân lực số còn yếu và thiếu; năng lực đổi mới sáng tạo và nghiên cứu - phát triển (R&D) còn khiêm tốn; vấn đề an toàn an ninh mạng nhiều nơi còn chưa được quan tâm đúng mức; lừa đảo trực tuyến, lộ lọt thông tin cá nhân vẫn còn diễn biến rất phức tạp...

Thúc đẩy mạnh mẽ "chuyển đổi kép" - kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên nhằm thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế số, xã hội số trong thời gian tới, Thủ tướng đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá như sau:

Đẩy mạnh chuyển đổi số ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số bao trùm, nhân văn, cụ thể:

Về công nghiệp: Đẩy mạnh số hóa và tái cấu trúc các ngành công nghiệp; sớm hình thành các "Tổ hợp công nghiệp kỹ thuật số", "Siêu trung tâm dữ liệu" có quy mô lớn, có giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn.

Về nông nghiệp: Phát triển "Nông nghiệp công nghệ cao - Nông dân số - Nông thôn thông minh".

Về dịch vụ, thương mại: Tập trung xây dựng các hệ sinh thái dịch vụ số thông minh, hiện đại; kích cầu tiêu dùng trên môi trường số, phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử; thanh toán không dùng tiền mặt. Phát động, triển khai hiệu quả chương trình "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên không gian số".

Về môi trường: Thúc đẩy mạnh mẽ "chuyển đổi kép" - kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để chuyển từ "bị động, chống đỡ" sang "chủ động thích ứng" với biến đổi khí hậu, thông qua tăng cường giám sát tự động...

Về xã hội số: Đẩy mạnh chuyển đổi số để "tối ưu hóa" các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế (Sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử…), giáo dục (học bạ số, quản lý học sinh, sinh viên…), lao động (tuyển dụng, đào tạo, phúc lợi xã hội...). Xây dựng mạng lưới an sinh xã hội số minh bạch, hiệu quả trên tinh thần "không ai bị bỏ lại phía sau"...

Hoàn thiện thể chế, chính sách và thu hút đầu tư, tạo ra cơ chế cạnh tranh

Thủ tướng giao Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn các Luật liên quan đến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được Quốc hội thông qua. Sớm nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý hợp tác công - tư cho lĩnh vực công nghệ, áp dụng cơ chế thử nghiệm cho mô hình kinh doanh mới.

Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp thu đầy đủ ý kiến tham luận của các đại biểu tại Diễn đàn, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phát triển kinh tế số, xã hội giai đoạn 2026-2030.

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và trình ban hành Khung Kinh tế dữ liệu quốc gia và lộ trình triển khai, trong đó xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư và khung pháp lý về định giá, thương mại hóa, khai thác và quản trị dữ liệu, hoàn thành trong tháng 01/2026.

Triển khai đồng bộ các giải pháp để thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế số, xã hội số theo nguyên tắc "đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, kích hoạt mọi nguồn lực cho xã hội, tư nhân là động lực và FDI là đòn bẩy công nghệ".

Phát triển hạ tầng số, nhân lực số quốc gia

Thủ tướng yêu cầu đẩy nhanh phủ sóng 5G trên toàn quốc; phát triển nền tảng điện toán đám mây Việt Nam, bảo đảm năng lực xử lý dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với các trường, doanh nghiệp nhanh chóng triển khai có hiệu quả Chương trình "Học từ làm".

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ và các đơn vị liên quan xây dựng Báo cáo tổng thể về các ngành, nghề bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi trí tuệ nhân tạo để xây dựng kế hoạch đào tạo lại, nâng cấp, chuyển đổi kỹ năng cho người lao động, trình Thủ tướng Chính phủ trong Quý I/2026.

Khẩn trương hoàn thiện Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số trong tháng 01/2026

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì khẩn trương hoàn thiện Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 01/2026; xây dựng Kế hoạch hành động triển khai Đề án sau khi được phê duyệt trong Quý I/2026.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc thù hình thành doanh nghiệp dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

Triển khai hiệu quả các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trên không gian mạng

Bộ Công an chủ trì nghiên cứu, xây dựng và tổ chức triển khai hiệu quả các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trên không gian mạng, nhất là cho các nhóm yếu thế (như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo…).

Bộ Công Thương đẩy nhanh tiến độ, sớm kết thúc đàm phán và hoàn thành thủ tục để Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác Kinh tế số (DEPA).

Phát triển xã hội số, bảo vệ các nhóm yếu thế, tạo công bằng xã hội

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với doanh nghiệp công nghệ nghiên cứu, xây dựng và tổ chức triển khai hiệu quả các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trên không gian mạng, nhất là cho các nhóm yếu thế.

Đồng thời, đẩy mạnh triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" với tinh thần "Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người", các chương trình phổ cập kỹ năng số, kỹ năng an toàn thông tin cho người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.

Phân công soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành 52 luật, nghị quyết 

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 2835/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành 46 luật, 6 nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phân công các Bộ, ngành, cơ quan liên quan chủ trì soạn thảo 252 văn bản quy định chi tiết thi hành 46 luật, 6 nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10.

Để hướng dẫn Luật Quản lý thuế (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ Tài chính chủ trì soạn thảo 7 Nghị định, 10 Thông tư hướng dẫn: Nghị định quy định về quản lý thuế hộ kinh doanh; Nghị định quy định hóa đơn, chứng từ; Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hồ sơ, thủ tục quản lý thuế hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; Thông tư hướng dẫn về đăng ký thuế... Thời hạn trình các văn bản trên trong tháng 4/2026.

Bộ Nội vụ được phân công chủ trì soạn thảo 5 Nghị định hướng dẫn Luật viên chức (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 gồm: Nghị định quy định tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức; Nghị định quy định về hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của viên chức; Nghị định quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức và Nghị định quy định về vị trí việc làm viên chức. Thời hạn trình 5 nghị định là tháng 4/2026.

Phân công soạn thảo nghị định về miễn phí sách giáo khoa, phạm vi và lộ trình thực hiện miễn viện phí

Nhằm hướng dẫn Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo có hiệu lực từ 1/1/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chủ trì soạn thảo 2 Nghị định gồm: Nghị định quy định cơ chế tài chính, chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian và tự chủ đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; Nghị định quy định về việc miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông và lộ trình để miễn học phí, giáo trình môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.

Bộ Y tế được phân công chủ trì soạn thảo 4 Nghị định hướng dẫn Nghị quyết số 261/2025/QH15 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 gồm: Nghị định quy định về đối tượng và lộ trình tăng mức hưởng trong phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế; danh mục bệnh và lộ trình thực hiện quy định Quỹ bảo hiểm y tế chi cho khám sàng lọc, chẩn đoán và điều trị sớm một số bệnh phù hợp với việc tăng mức đóng bảo hiểm y tế từ năm 2027; Nghị định quy định về phạm vi và lộ trình thực hiện miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế; Nghị định quy định việc thí điểm đa dạng hóa các gói bảo hiểm y tế, đa dạng các loại hình cung ứng dịch vụ bảo hiểm y tế và thực hiện bảo hiểm y tế bổ sung do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp theo nhu cầu của người dân khi đủ điều kiện thực hiện; Nghị định quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhân viên y tế.

Bảo đảm chất lượng, tiến độ ban hành văn bản có hiệu lực đồng thời với luật, nghị quyết

Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này, tổ chức soạn thảo các văn bản quy định chi tiết bảo đảm chất lượng, tiến độ để ban hành văn bản có hiệu lực đồng thời với luật, nghị quyết hoặc nội dung giao quy định chi tiết.

Trường hợp cần thiết, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các bộ, cơ quan ngang bộ báo cáo Lãnh đạo Chính phủ phụ trách ngành, lĩnh vực xem xét, quyết định điều chỉnh Danh mục văn bản quy định chi tiết. Việc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định sửa đổi tên gọi, phạm vi điều chỉnh của văn bản đã có trong Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này có thể được thực hiện đồng thời với việc trình dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Các bộ, cơ quan ngang bộ chủ động rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật quy định biện pháp cụ thể để bảo đảm kịp thời tổ chức, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10.

Đồng thời, chủ động rà soát, xác định các nội dung của văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết tiếp tục có hiệu lực; công bố toàn bộ hoặc một phần văn bản quy định chi tiết quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15./.