• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2026 (2).

05/01/2026 21:34

Quy định chế độ, chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu 

Chính phủ ban hành Nghị định số 349/2025/NĐ-CP quy định chế độ, chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu. 

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2026 (2)
- Ảnh 1.

Nhiều chế độ, chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu

Đối tượng áp dụng

1. Thành viên đội thể thao gồm:

a) Huấn luyện viên, vận động viên đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia; đội tuyển, đội tuyển trẻ, đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước;

b) Huấn luyện viên đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia; đội tuyển, đội tuyên trẻ, đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không hưởng lương từ ngân sách nhà nước;

c) Vận động viên đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia; đội tuyển ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không hưởng lương từ ngân sách nhà nước;

d) Vận động viên đội tuyển trẻ, đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không hưởng lương từ ngân sách nhà nước;

đ) Nhân viên y tế (bác sỹ, kỹ thuật y) đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia hưởng lương hoặc không hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

2. Cơ quan, tổ chức trực tiếp sử dụng huấn luyện viên, vận động viên, nhân viên y tế làm việc hoặc luyện tập, thi đấu thường xuyên trước khi được triệu tập tập huấn, thi đấu (gọi là cơ quan quản lý).

3. Cơ quan, tổ chức trực tiếp sử dụng huấn luyện viên, vận động viên, nhân viên y tế sau khi được triệu tập tập huấn, thi đấu (gọi là cơ quan sử dụng).

Cơ quan quản lý có thể đồng thời là cơ quan sử dụng.

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện các quy định tại Nghị định này.

Nghị định quy định cụ thể các chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu bao gồm: Chính sách tiền lương, chế độ dinh dưỡng; chế độ đãi ngộ đặc thù và chăm sóc sức khỏe; chính sách đào tạo văn hóa, giải quyết việc làm; chế độ bảo hiểm; chế độ tiền thưởng.

Chính sách tiền lương

Điều 4 Nghị định 349/2025/NĐ-CP quy định cụ thể tiền lương tập trung tập huấn, thi đấu

1. Huấn luyện viên, vận động viên đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia; đội tuyển, đội tuyển trẻ, đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng tiền lương như sau:

a) Được hưởng nguyên tiền lương đang hưởng (bao gồm mức lương, phụ cấp lương nếu có) do cơ quan quản lý chi trả.

b) Được hưởng khoản tiền bù chênh lệch trong trường hợp tiền lương quy định tại điểm a khoản 1 Điều này (tính bình quân theo số ngày làm việc bình thường trong tháng) thấp hơn so với tiền lương quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều này.

Tiền lương tính bình quân theo số ngày làm việc bình thường được xác định bằng tiền lương của tháng trước liền kề trước khi huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập tập huấn, thi đấu chia cho 26 ngày.

2. Huấn luyện viên đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia; đội tuyển, đội tuyên trẻ, đội tuyên năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng tiền lương theo ngày thực tế tập trung tập huấn, thi đấu như sau:

Huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia: 1.100.000 đồng/người/ngày;

Huấn luyện viên đội tuyển quốc gia: 750.000 đồng/người/ngày;

Huấn luyện viên trưởng đội tuyển trẻ quốc gia: 750.000 đồng/người/ngày;

Huấn luyện viên đội tuyển trẻ quốc gia: 550.000 đồng/người/ngày;

Huấn luyện viên đội tuyển ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 430.000 đồng/người/ngày;

Huấn luyện viên đội tuyển trẻ ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 360.000 đồng/người/ngày;

Huấn luyện viên đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 360.000 đồng/người/ngày.

3. Vận động viên đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia; đội tuyển ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng tiền lương theo ngày thực tế tập trung tập huấn, thi đấu như sau:

Vận động viên đội tuyển quốc gia: 550.000 đồng/người/ngày;

Vận động viên đội tuyển trẻ quốc gia: 430.000 đồng/người/ngày;

Vận động viên đội tuyển ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 360.000 đồng/người/ngày.

4. Vận động viên đội tuyển trẻ, đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng tiền lương theo ngày thực tế tập trung tập huấn, thi đấu như sau:

Vận động viên đội tuyển trẻ ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 150.000 đồng/người/ngày;

Vận động viên đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 110.000 đồng/người/ngày.

5. Nhân viên y tế (bác sỹ, kỹ thuật y) đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia hưởng lương hoặc không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng tiền lương theo ngày thực tế tập trung tập huấn, thi đấu như sau:

a) Nhân viên y tế không hưởng lương từ ngân sách nhà nước: Bác sỹ được chi trả tiền lương bằng tiền lương của huấn luyện viên đội tuyển tương ứng; kỹ thuật y được chi trả tiền lương bằng tiền lương của vận động viên đội tuyển tương ứng;

b) Nhân viên y tế đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước: Được hưởng nguyên tiền lương đang hưởng (bao gồm mức lương, phụ cấp lương nếu có) do cơ quan quản lý chi trả; được hưởng khoản tiền bù chênh lệch trong trường hợp tiền lương đang hưởng (tính bình quân theo số ngày làm việc bình thường trong tháng) thấp hơn so với tiền lương quy định tại điểm a khoản này.

6. Các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này được hưởng tiền lương làm thêm giờ cho những ngày thực tế tập trung tập huấn, thi đấu vượt quá 26 ngày trong tháng. Khoản tiền lương làm thêm giờ được xác định bằng mức tiền trả theo ngày quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này nhân với mức tương ứng quy định tại khoản 1 Điều 98 Bộ Luật Lao động.

Chế độ dinh dưỡng đối với thành viên đội thể thao trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu

1. Thành viên đội thể thao trong thời gian tập trung tập huấn trong nước theo quyết định của cấp có thẩm quyền được hưởng chế độ dinh dưỡng như sau:

Đội tuyển quốc gia: 400.000 đồng/người/ngày; đội tuyển trẻ quốc gia: 400.000 đồng/người/ngày; đội tuyển ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 300.000 đồng/người/ngày; đội tuyển trẻ ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 250.000 đồng/người/ngày; đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 190.000 đồng/người/ngày.

2. Thành viên đội thể thao trong thời gian tập trung tập huấn ở nước ngoài được hưởng chế độ dinh dưỡng hằng ngày theo thư mời hoặc hợp đồng ký kết giữa cơ quan quản lý ở trong nước với cơ sở đào tạo ở nước ngoài.

3. Thành viên đội thể thao trong thời gian tập trung thi đấu tại các giải thể thao thành tích cao quy định tại các khoản 2, 4, 5, 6, 7 Điều 37 Luật Thể dục thể thao năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) được hưởng chế độ dinh dưỡng như sau:

Đội tuyển trẻ quốc gia: 400.000 đồng/người/ngày; đội tuyển ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 400.000 đồng/người/ngày; đội tuyển trẻ ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 300.000 đồng/người/ngày; đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 300.000 đồng/người/ngày.

4. Thành viên đội thể thao trong thời gian tập trung thi đấu tại các giải thể thao quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 13; giải thể thao cấp khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho người khuyết tật quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật Thể dục thể thao năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) được hưởng mức chi chế độ dinh dưỡng theo quy định của Điều lệ tổ chức giải (không được hưởng chế độ dinh dưỡng quy định tại khoản 3 Điều này).

5. Chế độ dinh dưỡng khác đối với huấn luyện viên, vận động viên:

Huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào các đội tuyển thể thao quốc gia để chuẩn bị tham dự SEA Games, ASIAD, Asian Para Games, Olympic Games và Paralympic Games được hưởng chế độ dinh dưỡng 600.000 đồng/người/ngày trong thời gian không quá 90 ngày;

Huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào các đội tuyển thể thao quốc gia và có khả năng giành huy chương vàng tại ASIAD, giành huy chương vàng tại Youth Olympic Games, có khả năng đạt chuẩn tham dự Olympic Games và huấn luyện viên, vận động viên đạt chuẩn tham dự Paralympic Games được hưởng chế độ dinh dưỡng 800.000 đồng/người/ngày. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định danh sách huấn luyện viên, vận động viên được hưởng chế độ này.

Trong thời gian hưởng mức chi đặc thù quy định tại khoản 5 Điều này, huấn luyện viên, vận động viên không được hưởng chế độ dinh dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này.

Chế độ đãi ngộ đặc thù dành cho vận động viên đạt thành tích xuất sắc

Nghị định quy định vận động viên đạt thành tích xuất sắc được hưởng chế độ hằng tháng theo các mức cụ thể như sau:

Huy chương vàng Olympic Games: 40.000.000 đồng/người/tháng;

Huy chương bạc Olympic Games: 30.000.000 đồng/người/tháng;

Huy chương đồng Olympic Games, Huy chương vàng ASIAD, Huy chương vàng Paralympic Games: 20.000.000 đồng/người/tháng;

Huy chương bạc Paralympic Games: 15.000.000 đồng/người/tháng;

Vượt qua vòng loại tham dự Olympic Games, Huy chương đồng Paralympic Games: 10.000.000 đồng/người/tháng.

Các đối tượng nêu trên được hưởng chế độ tính từ thời điểm đạt được thành tích tại Đại hội đến kỳ Đại hội tiếp theo.

Trường hợp vận động viên cùng lúc đủ điều kiện hưởng nhiều chế độ quy định trên thì chỉ được hưởng chế độ ở mức cao nhất.

Chế độ tiền thưởng

Mửc thưởng bằng tiền đối với vận động viên lập thành tích tại các đại hội, giải thi đấu thể thao quốc tế

1. Vận động viên lập thành tích tại các đại hội, giải thi đấu thể thao quốc tế được hưởng mức thưởng bằng tiền theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Môn thể thao nhóm I, nhóm II, nhóm III quy định trên cơ sở các môn thể thao được đưa vào chương trình thi đấu Olympic Games, ASIAD và các giải thể thao quốc tế khác.

2. Vận động viên lập thành tích tại các giải cúp thế giới, cúp châu Á và cúp Đông Nam Á; giải thi đấu thể thao vô địch trẻ thế giới; các đại hội, giải thi đấu thể thao vô địch trẻ châu Á, Đông Nam Á được hưởng mức thưởng bằng 50% mức thưởng dành cho đại hội, giải vô địch của môn thể thao tương ứng quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Vận động viên lập thành tích tại các giải thi đấu thể thao vô địch trẻ thế giới, châu Á, Đông Nam Á có quy định lứa tuổi được hưởng mức thưởng tối đa bằng 50% mức thưởng quy định tại khoản 1 Điều này, cụ thể như sau:

Giải thi đấu thể thao dành cho vận động viên đến dưới 12 tuổi: Mức thưởng bằng 20% mức thưởng tương ứng quy định tại khoản 1 Điều này;

Giải thi đấu thể thao dành cho vận động viên từ 12 đến dưới 16 tuổi: Mức thưởng bằng 30% mức thưởng tương ứng quy định tại khoản 1 Điều này;

Giải thi đấu thể thao dành cho vận động viên từ 16 đến dưới 18 tuổi: Mức thưởng bằng 40% mức thưởng tương ứng quy định tại khoản 1 Điều này;

Giải thi đấu thể thao dành cho vận động viên từ 18 đến dưới 21 tuổi: Mức thưởng bằng 50% mức thưởng tương ứng quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Vận động viên lập thành tích thi đấu trong các môn thể thao có nội dung thi đấu tập thể được hưởng mức thưởng bằng số lượng người được thưởng theo quy định của điều lệ giải nhân với mức thưởng tương ứng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

5. Đối với các môn, nội dung thi đấu mà thành tích thi đấu được sử dụng để xác định huy chương của các nội dung cá nhân và đồng đội được tính trong cùng một lần thi, thì từ huy chương thứ hai trở lên, mức thưởng chung cho vận động viên bằng số lượng người được thưởng nhân với 50% mức thưởng tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.

Mức thưởng bằng tiền đối với huấn luyện viên lập thành tích tại các đại hội, giải thi đấu thể thao quốc tế

Huấn luyện viên trực tiếp đào tạo vận động viên lập thành tích tại các đại hội, giải thi đấu thể thao quốc tế được hưởng mức thưởng như sau:

Huấn luyện viên trực tiếp đào tạo vận động viên lập thành tích trong các giải thi đấu thể thao quốc tế có nội dung thi đấu cá nhân thì được hưởng mức thưởng chung bằng mức thưởng đối với vận động viên.

Huấn luyện viên trực tiếp đào tạo đội tuyển thi đấu lập thành tích trong các giải thi đấu thể thao quốc tế có môn hoặc nội dung thi đấu tập thể thì được hưởng mức thưởng chung bằng mức thưởng đối với vận động viên đạt giải nhân với số lượng huấn luyện viên, theo quy định như sau: Dưới 04 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 01 huấn luyện viên; từ 04 đến 08 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 02 huấn luyện viên; từ 09 đến 12 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 03 huấn luyện viên; từ 13 đến 15 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 04 huấn luyện viên; trên 15 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 05 huấn luyện viên.

Tỷ lệ phân chia tiền thưởng đối với các huấn luyện viên được thực hiện theo nguyên tắc: Huấn luyện viên trực tiếp huấn luyện đội tuyển được hưởng 60%, trong đó huấn luyện viên chỉ đạo vận động viên đạt thành tích được hưởng 30%, huấn luyện viên còn lại được hưởng 30%; huấn luyện viên trực tiếp đào tạo vận động viên ở cơ sở trước khi tham gia đội tuyển được hưởng 40%.

Đối với các môn, nội dung thi đấu mà thành tích thi đấu được sử dụng để xác định huy chương của các nội dung cá nhân và đồng đội được tính trong cùng một lần thi, thì từ huy chương thứ hai trở lên, mức thưởng chung cho huấn luyện viên bằng số lượng người được thưởng nhân với 50% mức thưởng tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 17 Nghị định này.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/02/2026.

Quy định về khuyến khích phát triển văn học 

Chính phủ ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP quy định về khuyến khích phát triển văn học.

Nghị định này quy định về khuyến khích phát triển văn học bao gồm: Hỗ trợ phát triển văn học; tổ chức trại viết, trại sáng tác văn học; cuộc thi viết, cuộc thi sáng tác tác phẩm văn học; giải thưởng văn học; giới thiệu, quảng bá, phổ biến văn học trong nước và ngoài nước.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2026 (2)
- Ảnh 2.

Tạo điều kiện, hỗ trợ, quảng bá tác phẩm văn học có giá trị cao về nội dung tư tưởng

Tạo điều kiện, hỗ trợ, quảng bá tác phẩm văn học có giá trị cao về nội dung tư tưởng

Nghị định nêu rõ các chính sách của Nhà nước về khuyến khích phát triển văn học:

Nhà nước tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia mạnh mẽ vào hoạt động sáng tác văn học, doanh nghiệp tham gia phát triển văn học trong nước và ngoài nước.

Hỗ trợ về nguồn lực khi văn học tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị được cấp có thẩm quyền giao.

Khuyến khích tổ chức trại viết, trại sáng tác văn học và cuộc thi viết, cuộc thi sáng tác tác phẩm văn học; đặc biệt là dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng.

Tôn vinh các tác giả, đồng tác giả (gọi là tác giả), tác phẩm văn học có giá trị cao về nội dung tư tưởng và nghệ thuật; bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan.

Tạo điều kiện, hỗ trợ, giới thiệu, quảng bá, xuất bản, phổ biến tác phẩm văn học có giá trị cao về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, phát triển không gian sáng tạo, đổi mới tư duy về văn học.

Khuyến khích viết, sáng tác tác phẩm văn học

Theo Nghị định quy định, nhà nước hỗ trợ cho tác giả có tác phẩm văn học được viết, sáng tác, dịch theo các chủ đề, đề tài quy định có giá trị cao về nội dung tư tưởng và nghệ thuật, phong phú, đa dạng về thể loại và ngôn ngữ thể hiện, có giá trị định hướng thẩm mỹ, hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống, góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.

Chủ đề, đề tài viết, sáng tác, dịch tác phẩm văn học được hỗ trợ bao gồm:

Lịch sử và di sản văn hóa truyền thống dân tộc; Đảng Cộng sản Việt Nam; cách mạng; biển, hải đảo và biên giới; bảo vệ chủ quyền, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vì sự bình yên cuộc sống; chống diễn biến hòa bình, bác bỏ luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghệ và chuyển đổi số; biến đổi khí hậu và môi trường.

Con người mới tham gia vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước; phong trào thi đua, học tập theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn; sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn mới.

Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; người yếu thế; dân tộc thiểu số và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; phòng, chống bạo lực gia đình.

Các đề tài khác căn cứ tình hình thực tế do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Giới thiệu, quảng bá tác phẩm văn học

Nghị định nêu rõ, giới thiệu, quảng bá tác phẩm văn học thông qua các hoạt động triển lãm, hội chợ sách, xuất bản phẩm điện tử, thư viện số, xây dựng các chương trình, đề án và tổ chức thực hiện ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật về xuất bản, thư viện, tổ chức triển lãm.

Tác phẩm văn học được lựa chọn giới thiệu, quảng bá là tác phẩm tiêu biểu, có giá trị cao về nội dung tư tưởng và nghệ thuật, có sự đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của văn học Việt Nam hoặc tác phẩm văn học đã đạt các giải thưởng uy tín trong nước và quốc tế.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/02/2026.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ ba Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 6/TB-VPCP ngày 5/1/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ ba Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. 

 Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2026 (2)
- Ảnh 3.

Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế

Thông báo kết luận nêu rõ kết quả đạt được sau gần 8 tháng triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 68-NQ/TW):

Nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc gia đã được thẩm thấu, tăng cường và được củng cố trong xã hội và trong doanh nghiệp, trong đội ngũ cán bộ, công chức.

Toàn bộ các bộ, địa phương đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, phân công được 6 rõ "rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả".

Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu; góp phần triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia; tích cực tham gia vào công cuộc bảo đảm an sinh xã hội.

Tác động của Nghị quyết số 68-NQ/TW đến sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp ngày càng rõ nét, thể hiện qua số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh gia nhập thị trường tăng mạnh. Tính chung cả năm 2025, có hơn 300.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động (tăng trên 30%), tổng số vốn đăng ký đạt trên 6 triệu tỷ đồng (tăng trên 71% so với năm 2024).

Trong năm 2025, Trung ương và địa phương đã khởi công, khánh thành 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 40% GDP), trong đó nguồn vốn tư nhân đóng góp 3,84 triệu tỷ đồng (chiếm 74,6%), nguồn vốn Nhà nước 1,3 triệu tỷ đồng (chiếm 25,4%). Điều này cho thấy vai trò của Nhà nước trong việc kích hoạt, dẫn dắt, huy động nguồn lực của xã hội vào đầu tư và phát triển đất nước.

Vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp được đề cao hơn, tham gia ngày càng thực chất vào quá trình xây dựng, phản biện chính sách. Ý kiến của doanh nghiệp được lắng nghe, được trao đổi thông qua các Hội nghị, Hội thảo, diễn đàn, các cuộc họp của Chính phủ…

Thúc đẩy 3 đột phá chiến lược theo hướng thể chế thông thoáng để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, người dân; hạ tầng thông suốt để giảm chi phí đầu vào, tăng năng lực cạnh tranh, tạo không gian phát triển mới, tạo giá trị gia tăng; nhân lực và quản trị thông minh để nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Một số hạn chế, khó khăn

Bên cạnh các kết quả đạt được, việc triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW còn một số hạn chế, khó khăn như: Công tác quán triệt tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW có lúc, có nơi còn chưa đầy đủ, toàn diện; sự vào cuộc của một số cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là người đứng đầu còn chưa cao; tinh thần triển khai quyết liệt của các Bộ, ngành địa phương còn chưa đồng đều, sự phối hợp còn thiếu chặt chẽ, chưa hiệu quả.

Cải cách thủ tục hành chính ở một số địa bàn, lĩnh vực chưa đạt mục tiêu đề ra; công tác truyền thông, đặc biệt là truyền thông chính sách, chưa được chú trọng đúng mức; phân cấp, phân quyền cho cấp dưới trong giải quyết các vấn đề và tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp chưa triệt để.

Tác động, ảnh hưởng của Nghị quyết số 68-NQ/TW trong một số lĩnh vực, địa bàn còn hạn chế, một số chính sách hỗ trợ trực tiếp (thuế, tín dụng, mặt bằng sản xuất kinh doanh...) còn chưa được thể chế hóa đầy đủ.

Khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh trong một số lĩnh vực vẫn còn nhiều khó khăn, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới; việc hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp lớn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn chưa đồng đều, chưa mạnh mẽ.

Thủ tướng Chính phủ quán triệt, Chính phủ và doanh nghiệp cùng thực hiện phương châm hành động "Niềm tin - Hành động - Thực chất - Hiệu quả - Đột phá", cụ thể: Củng cố và nâng cao niềm tin của doanh nghiệp đối với Chính phủ và chính quyền địa phương, thông qua hành động thực chất, hiệu quả; đã nói là làm, đã cam kết thì phải thực hiện, có kết quả thực chất, định lượng cụ thể; quyết liệt giảm chi phí đầu vào, chi phí tuân thủ, tăng năng suất lao động thông qua 3 đột phá chiến lược.

Quý I/2026, ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân

Trong đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính trình Chính phủ Nghị định về Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoàn thành trước ngày 15/01/2026.

Trước ngày 15/01/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ Quyết định hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).

Bộ Công Thương trình Chính phủ Nghị định sửa đổi Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp, hoàn thành trước ngày 15/01/2026.

Các Bộ, ngành liên quan được giao nhiệm vụ khẩn trương ban hành hoặc trình ban hành trong Quý I năm 2026 các văn bản hướng dẫn chi tiết các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân về tiếp cận mặt bằng sản xuất, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ công nghệ, chuyển đổi số, hỗ trợ đào tạo giám đốc điều hành, hỗ trợ pháp lý, phát triển các doanh nghiệp tiên phong, hỗ trợ các doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế,…

Các địa phương thường xuyên trao đổi, nắm chắc tình hình của doanh nghiệp tại địa bàn; vận hành ổn định chính quyền địa phương hai cấp, đảm bảo việc hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần đồng hành, cộng tác với chính quyền để hướng tới mục tiêu chung, lợi ích chung của quốc gia.

Bộ Tài chính tập trung nghiên cứu xây dựng báo cáo hoàn thiện khung pháp lý đối với kinh doanh cá thể, trong đó đề xuất nghiên cứu xây dựng Luật Kinh doanh cá thể; hoàn thiện khung pháp lý về trái phiếu doanh nghiệp tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế để nâng cao chất lượng và mở rộng kênh huy động vốn ổn định cho kinh tế tư nhân; hoàn thiện chế độ kế toán, bảo hiểm cho doanh nghiệp siêu nhỏ.

Bộ Công an nghiên cứu xây dựng, triển khai các chương trình, cơ chế nhằm bảo vệ, hỗ trợ cho doanh nghiệp chống lừa đảo trên không gian mạng.

Cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp

Về các nhiệm vụ trọng tâm năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật để thúc đẩy kinh tế tư nhân theo tinh thần cải cách mạnh mẽ, thực chất của Nghị quyết số 68-NQ/TW.

Đẩy mạnh cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; chuyển đổi số để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; tăng cường hậu kiểm và giảm tiền kiểm; bãi bỏ các thủ tục "xin - cho".

Tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển đội ngũ doanh nghiệp tư nhân lớn, doanh nghiệp dẫn dắt có khả năng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ; đồng thời hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh; tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh đủ điều kiện chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Tăng cường đối thoại thực chất, trên tinh thần rủi ro chia sẻ, lợi ích hài hòa giữa chính quyền với doanh nghiệp để lắng nghe, phản hồi kịp thời, rõ ràng, đúng thời hạn, đúng thẩm quyền các kiến nghị của doanh nghiệp, người dân.

Phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Tháp Nhạn, tỉnh Đắk Lắk

Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính ký Quyết định số 2838/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Tháp Nhạn, tỉnh Đắk Lắk.

Phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch có tổng diện tích khoảng 10.682 ha, bao gồm địa giới hành chính của các phường Phú Yên, Tuy Hòa và Bình Kiến, tỉnh Đắk Lắk (được xác định theo Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đắk Lắk năm 2025).

Phát huy di tích Tháp Nhạn thành trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của tỉnh Đắk Lắk

Mục tiêu lập quy hoạch nhằm đáp ứng yêu cầu bảo quản, tu bổ, phục hồi phát huy giá trị di tích; làm cơ sở đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, dịch vụ phục vụ khách tham quan du lịch, phát triển kinh tế địa phương.

Bảo tồn giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với di tích Tháp Nhạn thành địa điểm tiêu biểu văn hóa Champa, minh chứng về quá trình hình thành và phát triển lâu dài của mảnh đất Tuy Hòa, sự giao thoa tín ngưỡng, văn hóa Việt - Chăm. Đồng thời, kết nối di tích Tháp Nhạn với hệ thống di tích tháp Chăm ở miền Trung tạo thành tuyến tham quan du lịch và nghiên cứu về văn hóa Chăm.

Phát huy giá trị di tích Tháp Nhạn trở thành một trong những trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của tỉnh Đắk Lắk; điểm du lịch văn hóa, sinh thái núi Nhạn gắn kết đô thị biển, các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thành các chuỗi sản phẩm du lịch hấp dẫn của địa phương; góp phần phát triển Tuy Hòa trở thành đô thị loại I trong tương lai.

Xác định các phân khu chức năng, gồm: khu dân cư, khu vực bảo vệ cảnh quan, môi trường. Tổ chức không gian và bố trí hệ thống hạ tầng giao thông, kỹ thuật phù hợp với các giai đoạn bảo tồn và phát huy giá trị di tích.

Định hướng kế hoạch, lộ trình và các giải pháp tổng thể quản lý, đầu tư xây dựng, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch.

Làm căn cứ pháp lý cho công tác quản lý và triển khai các dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích theo đồ án quy hoạch di tích Tháp Nhạn. Xây dựng quy định quản lý, kiểm soát không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan khu vực di tích và các giải pháp quản lý, bảo vệ di tích và khai thác phát triển kinh tế địa phương.

Đối tượng nghiên cứu lập quy hoạch

Theo phê duyệt, đối tượng nghiên cứu lập quy hoạch di tích gồm:

Khu di tích kiến trúc - nghệ thuật Tháp Nhạn và không gian cảnh quan thiên nhiên, môi trường - sinh thái xung quanh.

Các giá trị di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, cảnh quan môi trường và tài liệu, hiện vật liên quan; các công trình văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng và cộng đồng dân cư sống trong khu vực xung quanh chân núi Nhạn; các lễ hội truyền thống, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, phong tục tập quán, truyền thuyết dân gian; công tác quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị và khai thác di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Nhạn.

Các yếu tố đô thị, kinh tế - xã hội, dân cư; yếu tố thiên nhiên, khí hậu, môi trường sinh thái; hiện trạng hạ tầng kỹ thuật, tình hình sử dụng đất đai của khu vực lập quy hoạch; các thể chế và chính sách có liên quan.

Vai trò của di tích trong mối liên hệ vùng; mối liên hệ với các di tích, công trình, địa điểm trong khu vực nhằm kết nối, phát triển du lịch - văn hóa.

Nội dung lập quy hoạch

Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Tháp Nhạn theo phê duyệt có tính chất là khu vực di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt, thuộc di sản văn hóa Champa có giá trị lớn về kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của quốc gia; tiềm năng hình thành điểm du lịch - văn hóa có giá trị của địa phương.

Theo đó, nội dung Nhiệm vụ lập quy hoạch gồm: yêu cầu về căn cứ pháp lý tổ chức lập quy hoạch; xác định yêu cầu nghiên cứu, khảo sát, đánh giá hiện trạng di tích; xác định, nhận diện đặc trưng, giá trị tiêu biểu của di tích, mối liên hệ di tích với các di tích khác trong khu vực nghiên cứu, mục tiêu của quy hoạch; đề xuất nội dung về định hướng bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; đề xuất định hướng tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và xây dựng công trình mới; định hướng phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch bền vững; định hướng cải tạo, xây dựng hạ tầng kỹ thuật; phân tích, dự báo những tác động ảnh hưởng đến môi trường di tích; định hướng quản lý Quy hoạch…

Kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện

Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 2841/QĐ-TTg về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện.

Theo Quyết định, đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế làm Trưởng Ban Chỉ đạo.

Các Phó Trưởng ban gồm: Đồng chí Đỗ Thị Thu Thảo, Chủ tịch Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (Phó Trưởng ban Thường trực); đồng chí Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế; đồng chí Nguyễn Tường Lâm, Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

Các thành viên Ban Chỉ đạo gồm: Đồng chí Vũ Thanh Mai, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; đồng chí Trung tướng Đặng Hồng Đức, Thứ trưởng Bộ Công an; đồng chí Trịnh Thị Thủy, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; đồng chí Lê Quân, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Trường Giang, Cục trưởng Cục Quân Y, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng; đồng chí Lê Thủy Trung, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính - Kinh tế ngành, Bộ Tài chính; đồng chí Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế; đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; đồng chí Nguyễn Thị Thu Hiền, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; đồng chí Lâm Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam; đồng chí Nguyễn Hữu Tú, Phó Trưởng Ban Công tác Thanh Thiếu nhi, Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng chí Nguyễn Hà Thanh, Viện trưởng Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, Bộ Y tế; đồng chí Phạm Thị Quyên, Phó Trưởng ban phụ trách Ban Chăm sóc sức khỏe, Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện

Quyết định nêu rõ, Ban Chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện có nhiệm vụ lập kế hoạch và chỉ đạo triển khai công tác vận động hiến máu tình nguyện để bảo đảm máu cho nhu cầu điều trị, cứu chữa người bệnh trên toàn quốc; đề xuất, tham gia xây dựng các chính sách về vận động hiến máu tình nguyện.

Tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân tham gia hiến máu tình nguyện; tổ chức các hoạt động cấp quốc gia và khu vực về vận động hiến máu tình nguyện; tổng kết, đánh giá, trao đổi kinh nghiệm, cập nhật thông tin về hiến máu tình nguyện.

Kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ của công tác vận động hiến máu tình nguyện trên toàn quốc.

Thực hiện công tác thi đua, khen thưởng đối với cá nhân, tổ chức có thành tích trong công tác vận động hiến máu tình nguyện; tôn vinh những người hiến máu tình nguyện./.