Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.11/2026/NQ-CP ngày 6/1/2026 quy định xử lý khó khăn, vướng mắc về đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở theo quy định của Luật Đất đai.

Chính phủ ban hành Nghị quyết xử lý khó khăn, vướng mắc về đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở.
Nghị quyết này quy định về tiền đặt trước tham gia đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở cho cá nhân; xử lý vi phạm đối với người trúng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở vi phạm nghĩa vụ nộp tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.
Nghị quyết quy định một số giải pháp, cơ chế để ngăn chặn các hành vi trục lợi, sai phạm, trong đó có việc bỏ cọc đấu giá đất. Cụ thể, Nghị quyết quy định về tiền đặt trước tham gia đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở cho cá nhân theo quy định của Luật Đất đai.
Điều 39 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2024) quy định, đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất ở cho cá nhân, tiền đặt trước tham gia đấu giá tối thiểu là 5% và tối đa là 20% giá khởi điểm.
Nghị quyết quy định trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở cho cá nhân theo quy định của Luật Đất đai thì tiền đặt trước tối thiểu là 10% và tối đa là 50% giá khởi điểm. Việc nâng mức tiền đặt trước đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất là một giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng trả giá cao nhằm trục lợi rồi sau đó bỏ cọc.
Đồng thời, Nghị quyết cũng đưa ra quy định cụ thể để xử lý vi phạm đối với người trúng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở.
Theo Nghị quyết, người trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất ở vi phạm nghĩa vụ nộp tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất dẫn đến quyết định công nhận kết quả đấu giá bị hủy, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm thì bị cấm tham gia đấu giá đối với quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở như sau:
- Từ 02 năm đến 05 năm đối với trường hợp người trúng đấu giá không nộp tiền trúng đấu giá;
- Từ 06 tháng đến 03 năm đối với trường hợp người trúng đấu giá nộp không đầy đủ tiền trúng đấu giá.
Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất ở cho cá nhân là cơ quan có thẩm quyền quyết định cấm tham gia đấu giá quy định ở trên.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành quyết định hủy quyết định công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền quyết định cấm tham gia đấu giá xem xét, ban hành quyết định cấm tham gia đấu giá đối với người trúng đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định.
Nội dung của quyết định cấm tham gia đấu giá, việc gửi, đăng tải quyết định cấm tham gia đấu giá trên Cổng Đấu giá tài sản quốc gia, việc khiếu nại, khởi kiện và thời hiệu xử lý vi phạm được thực hiện theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 25, Điều 26 Nghị định số 172/2024/NĐ-CP ngày 27/12/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2024/QH15.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 6/1/2026 đến hết ngày 28/2/2027.
Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới có hiệu lực thi hành sau ngày Nghị quyết này được thông qua và trước ngày 1/3/2027 thì các quy định tương ứng được ban hành trong Nghị quyết này chấm dứt hiệu lực.
Trong thời gian các quy định của Nghị quyết này có hiệu lực, nếu quy định về tiền đặt trước, cấm tham gia đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở trong Nghị quyết này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này.
Chính phủ ban hành Nghị định số 372/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2021/NĐ-CP ngày 10/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Sửa một số quy định về việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Nghị định số 372/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 11 Nghị định số 112/2021/NĐ-CP về thủ tục đổi Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo hướng giảm thời gian xử lý hồ sơ từ 10 ngày xuống còn 7 ngày; gửi hồ sơ trực tiếp tới Bộ Nội vụ và trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Cụ thể:
"2. Thủ tục:
a) Doanh nghiệp dịch vụ nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính tới Bộ Nội vụ hoặc trực tuyến tại Cổng dịch vụ công quốc gia https://dichvucong.gov.vn.
b) Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, Bộ trưởng Bộ Nội vụ xem xét, cấp đổi Giấy phép cho doanh nghiệp dịch vụ. Trường hợp không cấp đổi Giấy phép, Bộ Nội vụ trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do."
Nghị định số 372/2025/NĐ-CP bổ sung Điều 15a quy định về việc doanh nghiệp dịch vụ đáp ứng các điều kiện theo quy định có văn bản thông báo về việc đáp ứng điều kiện của thị trường, ngành nghề, cụ thể như sau:
"Điều 15a. Thông báo đáp ứng điều kiện của thị trường, ngành nghề
1. Trước khi thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản và nghề hộ lý tại Nhật Bản, doanh nghiệp thực hiện việc thông báo trực tuyến trên Hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về việc đáp ứng điều kiện của thị trường, ngành, nghề theo quy định tại Điều 12, Điều 15 của Nghị định này.
2. Ngay sau khi doanh nghiệp thực hiện việc thông báo trực tuyến tại khoản 1 Điều này thành công, doanh nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại các thị trường, ngành nghề đã thông báo.
3. Trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại thị trường, ngành, nghề đã thông báo đáp ứng điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp thực hiện thông báo chấm dứt hoạt động trực tuyến trên Hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Sau khi thông báo chấm dứt hoạt động thành công, doanh nghiệp không phải duy trì các điều kiện tương ứng quy định tại Điều 12, Điều 15 của Nghị định này.
4. Bộ Nội vụ có trách nhiệm thông báo, cập nhật thông tin các doanh nghiệp đáp ứng điều kiện hoạt động, không đáp ứng điều kiện hoạt động hoặc doanh nghiệp chấm dứt hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản và nghề hộ lý tại Nhật Bản đến các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận lao động để phối hợp quản lý.
5. Trong trường hợp Hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng gặp sự cố đường truyền, kỹ thuật, sự kiện bất khả kháng làm gián đoạn quá trình thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp nộp 01 bản giấy Thông báo theo Mẫu số 10 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này đến Bộ Nội vụ."
Nghị định số 372/2025/NĐ-CP cũng bổ sung các quy định về việc thông báo danh sách người lao động dự kiến đi làm việc ở nước ngoài. Cụ thể:
"Điều 15b. Thông báo danh sách người lao động dự kiến đi làm việc ở nước ngoài
1. Việc thông báo danh sách người lao động dự kiến đi làm việc ở nước ngoài theo yêu cầu của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận lao động được thực hiện trực tuyến trên Hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
2. Doanh nghiệp nhập thông báo danh sách người lao động dự kiến đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cung ứng lao động đã được chấp thuận, thông tin người lao động tại thông báo bao gồm:
a) Họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính;
b) Quê quán;
c) Nơi thường trú;
d) Số định danh cá nhân;
đ) Số hộ chiếu;
e) Số điện thoại liên hệ tại Việt Nam;
g) Ngày dự kiến xuất cảnh;
h) Số điện thoại liên hệ của người thân tại Việt Nam.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách người lao động, Bộ Nội Vụ có trách nhiệm xác nhận thông báo của doanh nghiệp.
4. Trong trường hợp Hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng gặp sự cố đường truyền, kỹ thuật, sự kiện bất khả kháng làm gián đoạn quá trình thực hiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều này, doanh nghiệp nộp 01 bản giấy danh sách người lao động dự kiến đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cung ứng lao động đã được chấp thuận và bao gồm các thông tin tại khoản 2 Điều này đến Bộ Nội vụ."
Ngoài ra, Nghị định số 372/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 12 và Điều 15 Nghị định số 112/2021/NĐ-CP về điều kiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc) và Nhật Bản theo hướng bổ sung điều kiện doanh nghiệp được cấp Giấy phép và đã thực hiện việc thông báo đáp ứng điều kiện thị trường, ngành, nghề; đồng thời không quy định yêu cầu số lượng cụ thể nhân viên có năng lực ngoại ngữ (tiếng Trung, tiếng Nhật) để thực hiện các nội dung hoạt động liên quan. Cụ thể:
1. Doanh nghiệp được cấp Giấy phép và đã thông báo đáp ứng điều kiện thị trường, ngành, nghề theo quy định tại Điều 15a Nghị định này.
2. Doanh nghiệp có nhân viên nghiệp vụ có năng lực tiếng Trung trình độ tối thiểu HSK5 hoặc tương đương và có kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc).
3. Doanh nghiệp không bị xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong thời hạn 02 năm tính đến ngày thông báo đáp ứng điều kiện đưa người lao động đi làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc)."
1. Doanh nghiệp được cấp Giấy phép và đã thông báo đáp ứng điều kiện thị trường, ngành, nghề theo quy định tại Điều 15a Nghị định này.
2. Doanh nghiệp có nhân viên nghiệp vụ có năng lực tiếng Nhật trình độ tối thiểu N2 (chuẩn JLPT) hoặc tương đương và có kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại Nhật Bản.
3. Trường hợp doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc nghề hộ lý tại Nhật Bản, ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, doanh nghiệp cần đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có giáo viên để bồi dưỡng kỹ năng nghề hộ lý cho người lao động theo chương trình của Nhật Bản;
b) Có cơ sở đào tạo hoặc cơ sở liên kết đào tạo của doanh nghiệp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp có các trang bị, thiết bị nghe nhìn cơ bản để phục vụ đào tạo tiếng Nhật, có phòng thực hành được trang bị xe lăn, khung hỗ trợ di chuyển, giường y tế, bàn ghế ăn, tay vịn gắn tường, ghế tắm, bồn tắm, bồn cầu tự động và tủ đựng dụng cụ y tế để phục vụ bồi dưỡng kỹ năng nghề hộ lý theo chương trình của Nhật Bản."
Về hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm giúp việc gia đình ở nước ngoài, Nghị định số 372/2025/NĐ-CP sửa đổi theo hướng đơn giản hóa các điều kiện về số lượng và tiêu chuẩn đối với nhân viên nghiệp vụ để thực hiện nội dung hoạt động liên quan, cụ thể như sau:
"Điều 20. Điều kiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm giúp việc gia đình ở nước ngoài
1. Doanh nghiệp đã được cấp Giấy phép.
2. Doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện:
a) Có nhân viên của doanh nghiệp thường trực ở nước ngoài có năng lực ngoại ngữ phù hợp và kinh nghiệm về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước tiếp nhận.
b) Có nhân viên nghiệp vụ có kinh nghiệm về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước tiếp nhận."
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc ký Quyết định số 2844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh giảm dự toán và kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách trung ương năm 2025 để bổ sung dự phòng ngân sách trung ương năm 2025.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh giảm 11.140,678 tỷ đồng dự toán chi đầu tư phát triển nguồn ngân sách trung ương đã được phân bổ trong năm 2025 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương để bổ sung dự phòng ngân sách trung ương năm 2025.
Chi tiết điều chỉnh dự toán và kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách trung ương năm 2025
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu căn cứ dự toán và kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách trung ương năm 2025 điều chỉnh ở trên và nội dung Tờ trình số 68/TTr-CP ngày 07/12/2025 của Chính phủ trình Quốc hội, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện điều chỉnh giảm dự toán và kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách trung ương năm 2025 của các nhiệm vụ, dự án theo đúng quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan.
Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương liên quan chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và cơ quan liên quan về việc điều chỉnh giảm dự toán và kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách trung ương năm 2025 của các dự án; tính chính xác của các thông tin, số liệu báo cáo, danh mục nhiệm vụ, dự án và mức vốn điều chỉnh cho từng nhiệm vụ, dự án bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 01/2026/QĐ-TTg quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; trong đó hướng dẫn cụ thể về xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.

Xét tôn vinh doanh nhân, doanh nghiệp phạm vi cấp tỉnh 2 năm một lần.
Quyết định quy định, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác gồm:
- Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (bộ, ngành, đoàn thể trung ương);
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).
Đối tượng được tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng gồm:
- Doanh nhân là người Việt Nam hoặc người nước ngoài có hoạt động sản xuất, kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật;
- Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và tổ chức kinh tế khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Tổ chức xét tôn vinh và trao giải thưởng phạm vi toàn quốc 3 năm một lần
Về phạm vi tổ chức, Quyết định quy định phạm vi tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng toàn quốc là danh hiệu, giải thưởng do bộ, ngành, đoàn thể trung ương hoặc liên bộ, liên ngành, liên tỉnh tổ chức; đối tượng tham dự là doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác trong cả nước. Hoạt động tổ chức tôn vinh phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng cấp trên trực tiếp và phải tuân thủ nghiêm ngặt quy chế tổ chức do cơ quan Trung ương ban hành.
Phạm vi tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cấp tỉnh là danh hiệu, giải thưởng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức; đối tượng tham dự là doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác có đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý của cấp tỉnh.
Về thời gian tổ chức, Quyết định quy định thời gian tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng phạm vi toàn quốc là 03 năm một lần; phạm vi cấp tỉnh là 02 năm một lần.
Thời gian tổ chức lần tiếp theo được tính từ khi tổ chức Lễ trao tặng danh hiệu, giải thưởng của lần tổ chức trước đó.
Theo quy định, Thủ trưởng bộ, ngành, đoàn thể trung ương quyết định việc tổ chức tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác thuộc ngành, lĩnh vực, phạm vi quản lý.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác có đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý của cấp tỉnh.
Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam quyết định việc tổ chức tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác thuộc phạm vi, chức năng của Liên đoàn.
Điều kiện tham dự được xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng
Quyết định quy định rõ điều kiện của doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác được tham gia xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng.
Điều kiện tham dự của doanh nhân
- Có phẩm chất đạo đức tốt, thực hiện nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức và nơi cư trú.
- Giữ chức vụ quản lý doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác ổn định và phát triển liên tục từ 05 năm trở lên khi tham gia danh hiệu, giải thưởng của bộ, ngành, đoàn thể trung ương, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và từ 03 năm trở lên khi tham gia xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị). Trường hợp doanh nhân tham gia điều hành nhiều doanh nghiệp khác nhau hoặc chuyển việc thì được cộng dồn thời gian tham gia điều hành các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác để tính làm điều kiện tham gia xét danh hiệu, giải thưởng.
- Tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực quản trị doanh nghiệp.
- Có sáng kiến cải tiến, biện pháp quản lý hoặc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; có nhiều đổi mới sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
- Quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác. Thực hiện tốt, đầy đủ các chế độ đối với người lao động theo quy định của pháp luật.
- Tích cực tham gia các phong trào thi đua, có đóng góp, ủng hộ và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh nhân và tổ chức kinh tế khác tại địa phương; quan tâm phát triển tổ chức Đảng, Công đoàn, các tổ chức quần chúng (nếu có) trong doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
- Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác do doanh nhân quản lý phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật; có doanh thu; lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước, thu nhập người lao động ổn định (không thấp hơn mức thu nhập trung bình ngành, lĩnh vực) và có tăng trưởng dương. Các chỉ tiêu về ổn định và tăng trưởng phải được cụ thể hóa trong Quy chế xét tặng danh hiệu, giải thưởng của cơ quan, đơn vị tổ chức. Không bị khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, đình công, ngừng việc tập thể; không có tai nạn lao động chết người.
Điều kiện tham dự của doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác
- Thực hiện đúng các điều kiện theo ngành, nghề đã đăng ký hoặc được cấp giấy phép đầu tư, các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, lao động, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, sở hữu trí tuệ, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các quy định pháp luật khác liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Hoạt động sản xuất, kinh doanh mang lại lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước ổn định và có tăng trưởng dương. Các chỉ tiêu về lợi nhuận, nộp ngân sách, tăng trưởng phải được cụ thể hóa bằng các chỉ số định lượng trong Quy chế xét tặng danh hiệu, giải thưởng của cơ quan, đơn vị tổ chức.
- Có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hoặc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; có nhiều đổi mới, sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo ra những giá trị đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của xã hội, đất nước.
- Chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ về tài chính, thuế và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; tích cực đóng góp vào ngân sách nhà nước và quỹ phúc lợi xã hội.
- Đảm bảo cho người lao động có việc làm ổn định và mức thu nhập không thấp hơn mức thu nhập trung bình ngành, lĩnh vực; thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động.
- Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, tích cực tham gia hiệu quả các phong trào thi đua do bộ, ngành, địa phương hoặc trung ương phát động; tích cực phát triển tổ chức Đảng, Công đoàn, các tổ chức quần chúng (nếu có) trong doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
- Không bị khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, đình công, ngừng việc tập thể; không có tai nạn lao động chết người.
Quyết định nêu rõ, cơ quan, đơn vị tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng công khai các tiêu chí xét tặng và điều kiện tham dự theo đúng quy định của pháp luật, đề án tổ chức và quy chế xét tặng; lấy ý kiến các cơ quan liên quan và ý kiến nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với các doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác tham gia; tổng hợp, giải trình các ý kiến phản ánh và công bố công khai kết quả xét tặng danh hiệu, giải thưởng trên cổng thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị.
Việc tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng của bộ, ngành, đoàn thể trung ương cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác do lãnh đạo bộ, ngành, đoàn thể trung ương trao tặng; danh hiệu, giải thưởng của tỉnh, thành phố do lãnh đạo tỉnh, thành phố trao tặng.
Doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác được trao tặng danh hiệu, giải thưởng sẽ được nhận Cúp, Giấy chứng nhận và tiền thưởng (nếu có) do cơ quan, đơn vị tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng quy định và chứng nhận. Có quyền sử dụng, khai thác thương mại biểu trưng danh hiệu, giải thưởng theo quy định của Quy chế xét tặng và không được gây nhầm lẫn về bản chất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ hoặc vi phạm quy định về quảng cáo.
Doanh nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác bị hủy bỏ kết quả xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng khi có một trong những hành vi sau:
- Kê khai gian dối thành tích để tham gia xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng;
- Lợi dụng danh hiệu, giải thưởng đã được trao tặng để có hành vi vi phạm pháp luật;
- Có hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian tính thành tích để xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 16/QĐ-TTg ngày 5/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Israel (VIFTA).

Hiệp định VIFTA tạo động lực thúc đẩy thương mại – đầu tư, gia tăng xuất khẩu của Việt Nam.
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện VIFTA nhằm phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cho các cơ quan, tổ chức liên quan, quyết định biện pháp chỉ đạo, điều hành và các biện pháp khác triển khai thực hiện đầy đủ và có hiệu quả Hiệp định này.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trong thời gian tới, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần cụ thể hoá và tổ chức triển khai thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau: Tuyên truyền, phổ biến thông tin về VIFTA và thị trường Israel; xây dựng pháp luật, thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực.
Về công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về VIFTA và thị trường Israel, kế hoạch yêu cầu tăng cường phổ biến về VIFTA cho các đối tượng có liên quan, cơ quan quản lý cấp trung ương và địa phương, hiệp hội doanh nghiệp, hợp tác xã, cộng đồng doanh nghiệp, thông qua các phương tiện truyền thông, trang thông tin điện tử, in ấn các ấn phẩm, tài liệu, các chương trình phát thanh và truyền hình, các lớp tập huấn, khóa đào tạo, hội thảo nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết về nội dung cam kết cũng như các công việc cần triển khai để thực thi hiệu quả VIFTA.
Chú trọng tập huấn cho các cán bộ thuộc cơ quan quản lý nhà nước cũng như các doanh nghiệp về một số lĩnh vực như thuế, quy tắc xuất xứ, tiếp cận thị trường Israel, đầu tư, dịch vụ, hải quan, mua sắm của Chính phủ, phòng vệ thương mại, hàng rào kỹ thuật trong thương mại v.v... bảo đảm các doanh nghiệp và các cán bộ thuộc cơ quan quản lý nhà nước hiểu rõ, hiểu đúng, từ đó giúp việc tận dụng và thực thi Hiệp định được đầy đủ và hiệu quả.
Thiết lập Đầu mối thông tin về VIFTA tại Bộ Công Thương để cung cấp thông tin, hướng dẫn và làm rõ các nội dung cam kết và các vấn đề có liên quan đến Hiệp định.
Củng cố mạng lưới, tăng cường năng lực và đẩy mạnh công tác cung cấp thông tin, dự báo về thị trường Israel và thị trường trong nước của các cơ quan nhà nước có chức năng cung cấp thông tin về thương mại – đầu tư để các doanh nghiệp Việt Nam có thể kịp thời nắm bắt các thông tin, yêu cầu về kỹ thuật, quy định về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa của Israel.
Đẩy mạnh các chương trình xúc tiến thương mại – đầu tư tại Israel nhằm thông tin cho cộng đồng doanh nghiệp Israel về cơ hội và lợi thế môi trường kinh doanh đầu tư của Việt Nam, qua đó phát triển quan hệ thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực trọng điểm, đồng thời kết nối doanh nghiệp để tăng cường thông tin và quảng bá hàng hóa Việt Nam cho người tiêu dùng và doanh nghiệp nhập khẩu của Israel.
Về xây dựng pháp luật, thể chế, các Bộ, ngành liên quan tiếp tục thực hiện rà soát pháp luật trong quá trình thực thi Hiệp định và báo cáo Chính phủ nếu có đề xuất sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật khác để phù hợp với yêu cầu của Hiệp định; sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật và trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt ban hành theo đúng với lộ trình đã quy định của VIFTA; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thiết chế cần thiết để thực thi Hiệp định...
Để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực, theo kế hoạch, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngành hàng, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; đồng thời, chuẩn bị những giải pháp ứng phó, hỗ trợ đối với những ngành hàng, mặt hàng chịu tác động lớn, trực tiếp từ việc thực thi Hiệp định.
Hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới sản xuất, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng có sự tham gia của các doanh nghiệp Israel để tận dụng lợi ích của Hiệp định; tăng cường các biện pháp, cơ chế khuyến khích, định hướng các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Israel kết nối với doanh nghiệp nội địa, góp phần vào việc hình thành và phát triển chuỗi cung ứng.
Thúc đẩy việc công nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp với Israel, đặc biệt đối với sản phẩm, hàng hoá xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam sang Israel; xây dựng các chương trình hỗ trợ, đào tạo, công nhận năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn đặc thù ở thị trường Israel cho doanh nghiệp các ngành hàng liên quan, đặc biệt là tiêu chuẩn Halah.
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 8/TB-VPCP ngày 06/01/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi họp về tình hình triển khai một số dự án trọng điểm trên địa bàn thành phố Cần Thơ, các tỉnh An Giang và Cà Mau.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính kiểm tra tiến độ thi công tuyến giao thông ra đảo Hòn Khoai và Cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai - Ảnh: TTXVN
Thông báo nêu, việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trọng điểm trên địa bàn thành phố Cần Thơ, các tỉnh Cà Mau và An Giang nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung có ý nghĩa hết sức quan trọng, mang tính chiến lược, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng địa đầu cực Nam của Tổ quốc, của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương có liên quan phải quyết tâm, nỗ lực triển khai thực hiện trong thời gian tới.
Đối với các dự án cao tốc Cà Mau - Cái Nước - Đất Mũi, đường ra đảo Hòn Khoai và dự án cải tạo hạ tầng đảo Thổ Chu, Thủ tướng Chính phủ hoan nghênh và biểu dương Bộ Quốc phòng, tỉnh Cà Mau đã triển khai, thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ, bảo đảm yêu cầu tiến độ các dự án. Trân trọng cảm ơn và biểu dương những gia đình, người dân, cộng đồng đã tích cực hỗ trợ, đồng thuận cao, nhanh chóng bàn giao mặt bằng để thi công, góp phần thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án.
Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, quan tâm thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách để sớm ổn định đời sống, sản xuất của người dân, cộng đồng trong vùng bị ảnh hưởng, bảo đảm nơi ở mới của những gia đình, người dân thuộc trường hợp phải di dời tối thiểu phải bằng và phấn đấu tốt hơn nơi ở cũ.
Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang sớm hoàn thiện thủ tục bàn giao diện tích rừng cho Quân khu 9 để làm thủ tục giao đất phục vụ thi công các dự án cải tạo hạ tầng đảo Thổ Chu, hoàn thành trước ngày 15/01/2026.
Các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp khẩn trương hoàn thành thủ tục cấp phép khai thác mỏ cát theo đề nghị của nhà thầu theo quy định, bảo đảm hoạt động khai thác cát theo yêu cầu tiến độ các dự án. Bộ Quốc phòng chỉ đạo huy động phương tiện khai thác cát đáp ứng nhu cầu công suất, tiến độ và bảo đảm an toàn, bảo vệ môi trường. Hai tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 15/01/2026.
Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hướng dẫn tỉnh An Giang cấp phép khai thác mỏ cát, đá trực tiếp cho các nhà thầu của các dự án để triển khai thi công các dự án nêu trên đáp ứng tiến độ; hoàn thành trong tháng 01/2026.
Trình tự, thủ tục thực hiện phải hướng dẫn thật cụ thể, khẩn trương, dứt điểm từng nội dung, đúng với tinh thần chỉ đạo và quy định pháp luật đối với dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải và công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp phục vụ quốc phòng, an ninh.
Trường hợp cần thiết phải có Nghị quyết của Chính phủ hoặc ý kiến của cấp có thẩm quyền để bảo đảm cơ sở pháp lý theo quy định, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục quy định trước ngày 15/01/2026.
Bộ Quốc phòng chỉ đạo sử dụng mỏ vật liệu được cấp phép để triển khai các dự án bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định pháp luật; nếu có khó khăn báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 31/01/2026.
Về công tác thiết kế, thi công, Thủ tướng yêu cầu rà soát phương án bố trí nút giao, đường nhánh bảo đảm tăng cường kết nối; nghiên cứu có phương án thiết kế tuyến đường, đặc biệt tại các vị trí cầu lớn như cầu Cửa Lớn, cầu ra đảo Hòn Khoai… tạo điểm nhấn về cảnh quan, kiến trúc, với mục tiêu thông qua các dự án để hình thành một công trình du lịch đặc biệt.
Bộ Quốc phòng chỉ đạo chủ đầu tư, nhà thầu thi công, đơn vị tư vấn huy động tối đa lực lượng, thiết bị, tăng ca, tăng kíp, tăng mũi thi công để đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án cả trên biển và đất liền theo đúng tinh thần khẩn cấp; chỉ đạo Quân khu 9 sẵn sàng hỗ trợ các lực lượng thi công để đẩy nhanh tiến độ các dự án khi cần, bảo đảm đúng và vượt tiến độ; lưu ý phối hợp thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự, giữ gìn vệ sinh môi trường; quan tâm hỗ trợ ổn định cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng, những người đã nhường đất, nhường nhà, nơi sinh kế và nơi thờ tự để bàn giao mặt bằng thi công dự án.
Bộ Tài chính rà soát, xem xét cân đối bố trí nguồn vốn cho các dự án cải tạo hạ tầng trên đảo Thổ Chu theo quy định, bảo đảm tiến độ triển khai dự án.
Đối với dự án cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng đoạn trên địa bàn thành phố Cần Thơ, đây là tuyến cao tốc trục ngang quan trọng, đi qua địa bàn thành phố Cần Thơ và tỉnh An Giang. Tiến độ triển khai dự án đoạn qua tỉnh An Giang bảo đảm yêu cầu, đã thông xe kỹ thuật vào ngày 19/12/2025. Tuy nhiên đoạn qua thành phố Cần Thơ tiến độ thi công còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu.
Để đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm đưa dự án vào vận hành khai thác đồng bộ với đoạn tuyến cao tốc trên địa bàn tỉnh An Giang, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ tập trung chỉ đạo các chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án và các cơ quan, đơn vị liên quan:
Rà soát, xây dựng lại tiến độ chi tiết, xác định rõ các hạng mục là đường găng tiến độ để tập trung chỉ đạo; rà soát toàn bộ nguồn nguyên vật liệu có khả năng cung cấp cho dự án, bảo đảm không để xảy tình trạng thiếu nguyên vật liệu phục vụ thực hiện dự án như thời gian vừa qua; tranh thủ thời tiết thuận lợi, huy động tối đa lực lượng, thiết bị, tăng ca, tăng kíp, tăng mũi thi công bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn lao động, vệ sinh môi trường; bảo đảm thông xe kỹ thuật trước ngày 30/6/2026.
Chủ động rà soát việc phân chia các gói thầu của dự án, bảo đảm không chia nhỏ các gói thầu, kịp thời chủ động điều chỉnh, khắc phục tuyệt đối không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; thanh tra việc thực hiện dự án chậm; xác định rõ nguyên nhân, giải pháp khắc phục; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trong tháng 1/2026.
Tiếp tục quan tâm đến việc tái định cư cho người dân bị ảnh hưởng bởi dự án, bảo đảm người dân có cuộc sống mới, nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ.
Về các đề xuất, kiến nghị của tỉnh Cà Mau (xây dựng kè chống sạt lở và lấn biển; đầu tư xây dựng cống ngăn chiều cường tại cửa biển Gành Hào và các khu vực sông lớn để điều tiết, chống ngập trung tâm đô thị tỉnh Cà Mau; đầu tư đường cao tốc kết nối nhanh giữa hai trung tâm hành chính của hai tỉnh trước đây), tỉnh Cà Mau chủ động triển khai các thủ tục lập dự án đầu tư xây dựng, trong đó có đánh giá, lựa chọn hình thức đầu tư tối ưu theo quy định (đầu tư công, đầu tư theo hình thức đối tác công tư,…), hoàn thành trong quý II/2026.
Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan nghiên cứu, xem xét kiến nghị của tỉnh Cà Mau về việc bố trí nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ thực hiện các dự án nêu trên, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trong tháng 01/2026, tinh thần là tỉnh bố trí ngân sách giải phóng mặt bằng, Trung ương bố trí ngân sách xây lắp.
Bộ Xây dựng tập trung chỉ đạo các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, nhà thầu và các đơn vị liên quan huy động tối đa lực lượng, thiết bị, tăng ca, tăng kíp, tăng mũi thi công để đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông đoạn Hậu Giang - Cà Mau; bảo đảm hoàn thành, đưa dự án vào khai thác, vận hành đồng bộ trước ngày 31/01/2026; báo cáo Thủ tướng Chính phủ các giải pháp khắc phục và đẩy mạnh thi công trước ngày 08/01/2026./.