Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Ông Nguyễn Xuân Anh (huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội) và vợ ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án. Hai bên đã thỏa thuận giao hai con cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, bố có nghĩa vụ cấp dưỡng, có quyền thăm nom, chăm sóc con.
Tuy nhiên, ngay sau khi ly hôn, vợ cũ của ông Xuân Anh đã đến UBND xã yêu cầu thay đổi từ họ cha sang họ mẹ cho hai con mà không có ý kiến của ông. UBND xã đã ra hai quyết định thay đổi họ cho hai con của ông Xuân Anh.
Khi con có quyết định mang họ mẹ, vợ cũ đã ngăn cản ông Xuân Anh cấp dưỡng, thăm nom con. Ông Xuân Anh hỏi, UBND xã ban hành quyết định thay đổi họ trong trường hợp này có đúng không?
Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng, Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời thắc mắc của ông Nguyễn Xuân Anh như sau:
Thay đổi họ phải có lý do chính đáng
Theo Điều 27 Bộ luật Dân sự thì cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ tên trong hai trường hợp sau: Việc sử dụng họ tên đang dùng gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của người đó; Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại.
Khoản 1, Điều 36, Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: "Thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự".
Căn cứ các quy định nêu trên thì việc thay đổi họ cho con phải có lý do chính đáng, vì quyền và lợi ích hợp pháp của con và việc thay đổi họ không được gây ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, nhân phẩm, tinh thần của người khác.
Nếu việc yêu cầu thay đổi từ họ cha sang họ mẹ cho con không vì quyền lợi hợp pháp của con mà còn gây ảnh hưởng đến tâm lý của con, xáo trộn đến đời sống, việc học hành của con trẻ, với động cơ, mục đích cản trở quyền và nghĩa vụ người cha trong việc cấp dưỡng, thăm nom, chăm sóc, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của con, chia rẽ tình cảm của con với cha, thì việc yêu cầu đó được coi là không có lý do chính đáng và không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Phải có sự đồng ý của cả cha và mẹ
Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án đã công nhận sự thỏa thuận: mẹ trực tiếp nuôi hai con; cha có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, có quyền thăm nom, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con.
Như vậy, mặc dù quan hệ hôn nhân giữa ông Xuân Anh và vợ cũ đã chấm dứt, ông Xuân Anh là người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn, nhưng quyền và nghĩa vụ của ông đối với hai con ông không thay đổi và được pháp luật thừa nhận.
Hiện nay, hai con của ông Xuân Anh chưa thành niên, cả cha và mẹ là người đại diện theo pháp luật của con, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với các con của mình.
Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 141 Bộ Luật Dân sự quy định, người đại diện theo pháp luật bao gồm: cha, mẹ đối với con chưa thành niên. Tương tự, tại Điều 39 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng nêu rõ, cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên.
Đồng thời, theo Khoản 1, Điều 38 Nghị định 158/2005/NĐ-CP thì việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch cho người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người giám hộ.
Như vậy, trường hợp yêu cầu thay đổi họ cho hai con của ông Nguyễn Xuân Anh từ họ cha sang họ mẹ phải xuất phát từ quyền lợi hợp pháp của hai con và phải được sự thỏa thuận, đồng ý của cả cha và mẹ.
Việc UBND xã ban hành quyết định thay đổi họ từ họ cha sang họ mẹ đối với hai con của ông Xuân Anh theo yêu cầu đơn phương của vợ cũ ông mà không có lý do chính đáng, không có sự thỏa thuận và ý kiến đồng ý của ông là không phù hợp với quy định tại Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân Gia đình và các quy định của pháp luật về hộ tịch.
Luật sư Lê Văn Đài
VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội
* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.