Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Việt kiều ở Pháp đón chào bà Nguyễn Thị Bình tại Pari, tháng 11/1968. Ảnh tư liệu
Phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp có bề dày lịch sử gắn liền với hành trình tự do của dân tộc. Hơn một thế kỷ trước, chính tại Paris, thủ đô của nước Pháp, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã đặt viên gạch đầu tiên khi thành lập nhóm "Người An Nam yêu nước". Trong suốt chiều dài lịch sử với biết bao thăng trầm, nhiều thế hệ người Việt tại Pháp vẫn giữ một lòng son sắt, gắn bó với dân tộc. Khi tiếng súng kháng chiến chống Mỹ vang lên nơi quê nhà, qua màn hình vô tuyến truyền hình, chứng kiến cảnh bom đạn cày xới quê hương, lòng bà con kiều bào đau thắt. Nỗi đau ấy đã trở thành mệnh lệnh từ trái tim thôi thúc mỗi người con xa quê "phải làm một điều gì đó cho Tổ quốc". Đến thời điểm Hội nghị Paris khai màn, phong trào yêu nước đã chuyển mình mạnh mẽ, kết tinh thành khối thống nhất trong Liên hiệp Việt kiều tại Pháp (thành lập năm 1969), là nguồn nội lực vô giá hỗ trợ đắc lực cho hai đoàn đàm phán: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Việc mở ra "mặt trận ngoại giao" giữa kinh đô ánh sáng đã chính thức biến cộng đồng kiều bào thành một "binh chủng đặc biệt": vừa là hậu phương tại chỗ vững chắc, vừa là tiền phương trực tiếp đầy mưu lược. Đối với bà con, đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là một vận hội lớn lao để dấn thân vào sự nghiệp cứu nước. Bằng tình yêu sắt son, họ đã biến trụ sở đoàn tại Choisy-le-Roi thành "mảnh đất thiêng của Tổ quốc" và biến căn biệt thự tại Verrières-le-Buisson thành "vùng giải phóng miền Nam" rực rỡ sắc cờ giữa lòng Paris. Đó không còn là những địa danh trên bản đồ nước Pháp mà đã trở thành những pháo đài niềm tin, nơi ý chí của người Việt ở hải ngoại hòa chung nhịp đập với khát vọng độc lập của cả dân tộc.
Giữa lòng nước Pháp, hai phái đoàn đàm phán Việt Nam không hề đơn độc bởi luôn có sự đùm bọc, chở che của bà con kiều bào như những người thân ruột thịt. Với tâm niệm phục vụ đoàn là "trách nhiệm thiêng liêng và niềm vinh dự hiếm có", cộng đồng người Việt tại Pháp đã tự nguyện trở thành một hậu phương tại chỗ vững chắc, dốc hết trí tuệ và tình cảm sâu nặng để tiếp sức cho tiền tuyến.
Ít ai biết rằng, để phái đoàn có những trụ sở khang trang tại Choisy-le-Roi hay Verrières-le-Buisson, hàng trăm kỹ sư, kiến trúc sư và công nhân Việt kiều đã miệt mài tình nguyện làm việc vào những ngày nghỉ cuối tuần suốt nhiều năm. Nghĩa tình ấy còn gửi gắm trong từng bữa ăn đậm chất quê hương: là mớ rau muống tự trồng, miếng đậu phụ tự làm hay bát xôi chè ngọt ngào từ tận Bordeaux và các tỉnh miền Nam nước Pháp gửi về. Không dừng lại ở đó, bà con còn chăm lo cho đoàn từ sức khỏe đến diện mạo. Các bác sĩ Việt kiều túc trực ngày đêm, sẵn sàng có mặt khi cán bộ đau yếu; các chị em chăm chút diện mạo cho các nữ ngoại giao để có hình ảnh chỉn chu, phong thái trang trọng nhất trước truyền thông quốc tế. Nhiều kiều bào thậm chí đã tạm gác việc riêng, tình nguyện làm phiên dịch, cần vụ, cấp dưỡng, cùng sinh hoạt với đoàn như một gia đình lớn. Những đêm giao thừa đã trở thành biểu tượng của sự đoàn viên. Hình ảnh bà con Việt kiều quây quần bên các thành viên trong đoàn đàm phán, tiếng hát "cây nhà lá vườn" hòa cùng hành khúc giải phóng đã tạo nên một không gian gia đình ấm cúng. Những vở kịch thơ, bản đại hợp xướng "Bài ca khởi nghĩa" hay màn "Táo quân" được "Paris hóa" dí dỏm không chỉ giúp giải tỏa những căng thẳng trong tâm trí, khỏa lấp nỗi nhớ nhà, thương quê hương, đất nước đang chìm trong khói lửa mà còn trở thành vũ khí tinh thần sắc bén, tiếp thêm sức mạnh cho các nhà ngoại giao trên bàn đàm phán đầy cam go, kịch tính.
Hội Liên hiệp Việt kiều đã huy động tối đa nhân tài, vật lực, tiềm năng của cộng đồng kiều bào dốc sức, dốc lòng cho Hội nghị Paris. Không chỉ đóng góp tài chính đều đặn hàng tháng, bà con còn gom góp mua sắm máy móc, thiết bị in ấn gửi về nước phục vụ kháng chiến. Xúc động hơn cả là hình ảnh những người con xa xứ thầm lặng mang tiền đến ủng hộ Cơ quan thông tấn của Mặt trận, đề nghị không nêu tên vì với họ đó là mệnh lệnh từ con tim và lương tri.
Không dừng lại ở vai trò hậu phương vững chắc, cộng đồng kiều bào tại Pháp đã thực sự trở thành một "binh chủng" tinh nhuệ, "cánh tay nối dài" đắc lực của hai đoàn đàm phán trên mặt trận truyền thông và ngoại giao quốc tế.
Đội ngũ trí thức Việt kiều giỏi ngoại ngữ đã tạm gác công việc, sẵn sàng làm phiên dịch và biên dịch các văn kiện quan trọng, giúp phái đoàn ta tiếp cận báo chí quốc tế một cách chuyên nghiệp nhất. Thông qua các buổi hội thảo, mít tinh diễn ra định kỳ tại các nghiệp đoàn và tổ chức quần chúng Pháp, họ kiên trì thuyết phục, tranh luận, bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc của đối phương. Bằng tri thức và bản lĩnh, kiều bào đã đề cao uy tín của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành biểu tượng rực rỡ của khát vọng tự do, lay động lương tri bạn bè quốc tế về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.
Mỗi lần đón, tiễn hai đoàn đàm phán, bất chấp thời tiết khắc nghiệt, đường sá xa xôi, hàng ngàn kiều bào đều có mặt từ sớm, tạo nên bầu không khí vừa trang trọng vừa thân thiết, thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận. Điển hình là phiên họp chính thức ngày 25/01/1969, bà con đã khéo léo "chiếm lĩnh trận địa" quanh Hội trường Kléber trước giờ cảnh sát ngăn cản, tạo nên một rừng cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ rực rỡ, gây hiệu ứng truyền thông vang dội ngay từ phút đầu. Không chỉ có vậy, các thành viên trong phong trào yêu nước tại Pháp cũng đã tổ chức nhiều hoạt động để cung cấp thông tin, vận động số bà con chưa quan tâm đến tình hình đất nước. Kết quả là có thêm rất nhiều người hưởng ứng phong trào đấu tranh vì hòa bình hay thậm chí thu hút được cả những người ủng hộ chính quyền Sài Gòn nhận ra rằng cuộc đấu tranh ở Việt Nam là cuộc đấu tranh chính nghĩa của một dân tộc quyết giành lại độc lập, tự do…
Sự tin cậy tuyệt đối gửi gắm vào kiều bào được minh chứng qua những nhiệm vụ cân não. Điển hình là việc in ấn văn bản Hiệp định Paris vào tháng 01/1973. Yêu cầu đặt ra là phải in đồng thời cả tiếng Việt và tiếng Anh trong điều kiện bí mật tuyệt đối, không được để lọt ra ngoài bất kỳ thông tin nào trước giờ ký kết. Ông Phùng Công Khải, một chủ cơ sở ấn loát Việt kiều đã cùng đội ngũ của mình làm việc xuyên đêm với nguyên tắc "cấm trại" để hoàn thành văn bản lịch sử này.
Tầm nhìn chính trị của tầng lớp trí thức xa xứ còn thể hiện qua sự dấn thân đầy hiểm nguy. Nhiều người đã bí mật rời Paris về Sài Gòn để thâm nhập, vận động "lực lượng thứ ba", tham gia chuẩn bị các phương án chính trị của đất nước. Đó là sự hy sinh thầm lặng nhưng cao cả, khẳng định trí tuệ và ý chí của người Việt dù ở bất cứ đâu cũng luôn sẵn sàng phụng sự cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Cộng đồng người Việt tại Pháp còn phát huy hiệu quả vai trò "nhịp cầu" kết nối, lan tỏa chính nghĩa Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Với sự thông tuệ và lòng nhiệt thành, kiều bào đã biến Paris thành trung tâm của phong trào phản chiến toàn cầu, nơi tiếng nói đòi hòa bình cho Việt Nam vang vọng khắp các châu lục.
Dưới sự vận động kiên trì của Hội Liên hiệp Việt kiều, phong trào ủng hộ Việt Nam đã thu hút được những nhân vật tầm cỡ và có sức ảnh hưởng lớn. Những nghệ sĩ huyền thoại như Jane Fonda, Joan Baez (Mỹ) hay Hugues Aufray (Pháp) đã gạt bỏ rào cản địa lý và chính trị để đứng cùng hàng ngũ với kiều bào, dùng tiếng hát và uy tín cá nhân để phản đối cuộc chiến phi nghĩa. Sự hiện diện của họ tại các buổi gặp mặt do Việt kiều tổ chức đã tạo nên một làn sóng dư luận mạnh mẽ, trực tiếp đánh vào tâm lý giới cầm quyền phương Tây.
Những chuyến lưu diễn văn nghệ dân tộc tại Thụy Sĩ (1970), Italy (1972) hay Hà Lan (1973) không đơn thuần là giới thiệu âm nhạc mà là nỗ lực đề cao vị thế và uy tín của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trước công luận châu Âu. Thông qua đó, họ kiên quyết vận động dư luận, tạo sức ép buộc chính quyền Sài Gòn phải trả tự do cho tù nhân chính trị, biến cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam thành sứ mệnh chung của những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.
Bên đại lộ Kléber, khoảnh khắc rực rỡ nhất minh chứng cho sức mạnh kết nối này chính là sáng ngày 27/1/1973. Đúng 10 giờ sáng, khi các phái đoàn tiến về để ký kết hiệp định lịch sử, dọc hai bên hè đường, trước cửa Trung tâm Hội nghị Quốc tế là một "rừng" cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận giải phóng, tung bay trong sự reo hò của hàng vạn người. Đứng ở vị trí trung tâm của "trận địa lòng dân" ấy chính là bà con kiều bào - những người đóng vai trò hạt nhân kết nối các bạn hữu từ Đảng Cộng sản Pháp, bạn bè năm châu từ châu Âu, châu Phi cho đến những người Mỹ tiến bộ. Sự hiện diện đông đảo của họ không chỉ là để chia vui trong ngày toàn thắng, mà còn là minh chứng hùng hồn cho sự thành công của công tác ngoại giao nhân dân. Suốt nhiều năm ròng rã, bằng sự kiên trì và lòng tận hiến, kiều bào đã biến lòng yêu nước thành một thứ ngôn ngữ chung để lay động lương tri nhân loại, kết nối những bàn tay từ khắp các lục địa, tạo nên một vòng vây chính nghĩa bao quanh bàn đàm phán, góp phần trực tiếp buộc đối phương phải đặt bút ký vào bản hiệp định hòa bình cho dân tộc.
Nhìn lại hành trình đàm phán đầy sóng gió, ông Dương Đình Thảo- phát ngôn viên đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã dành những dòng hồi ức đầy xúc động: "Tôi muốn ghi nhận và từ đáy lòng mình xin bày tỏ lòng biết ơn về những gì bà con đủ các giới, các lứa tuổi đã đóng góp. Bà con giàu tình, giàu nghĩa đảm nhận hậu phương với đầy đủ ý nghĩa của nó, và cũng đủ trí tuệ, bản lĩnh đảm nhận vai trò tiền tuyến... Làm sao kể cho xiết, làm sao quên được tình cảm và những nghĩa cử ấy". Đó không chỉ là sự tri ân mà còn là sự xác tín lịch sử về một mạch nguồn trí tuệ và nghĩa tình càng lắng lại càng sâu theo năm tháng.
Thắng lợi của Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 là kết quả của cuộc đấu tranh kiên trì, bền bỉ trên cả ba mặt trận: Quân sự, chính trị và ngoại giao. Nhưng đồng thời cũng là thắng lợi của chính nghĩa và lòng dân. Trong chiến thắng huy hoàng ấy, cộng đồng người Việt tại Pháp đã tạc vào lịch sử một dấu ấn không thể phai mờ về hình ảnh một "hậu phương - tiền phương" đặc biệt. Bằng trí tuệ sắc bén, bằng những giọt mồ hôi lặng lẽ và bằng một tình yêu sắt son dành cho Tổ quốc, họ đã cùng dân tộc viết nên những trang sử vàng, tạo bản lề vững chắc đưa Việt Nam tiến đến ngày toàn thắng 30/4/1975. Họ là minh chứng rõ nét nhất cho nội lực của kiều bào: Khi lòng yêu nước được khơi dậy và đặt đúng môi trường, nó sẽ tạo nên sức mạnh xoay chuyển cục diện. Đúng như lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng khẳng định: "...có gì đẹp hơn lòng yêu nước của bà con Việt kiều". Những đóng góp thầm lặng của những người con "ngày đất khách, đêm quê hương" mãi là một thiên anh hùng ca bất hủ về tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.
"Binh chủng đặc biệt" tại Paris năm xưa không chỉ là niềm tự hào của quá khứ, mà còn để lại bài học vô giá cho hiện tại. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay, tinh thần ấy vẫn vẹn nguyên giá trị thực tiễn. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giờ đây không chỉ là bộ phận không tách rời của dân tộc, mà còn là nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa bản sắc, trí tuệ và vị thế Việt Nam vươn xa trên bản đồ thế giới./.
Thu Hoàn