Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Mô hình trồng rau sạch áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm giúp đảm bảo năng suất và sản lượng đồng đều - Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Chuyển đổi xanh - từ chủ trương lớn đến hành động tại cơ sở
Với hàng loạt chính sách và đề án được triển khai đồng bộ, phát triển nông nghiệp xanh, sinh thái, giảm phát thải ở Việt Nam đang chuyển mạnh từ định hướng sang hành động cụ thể.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp không chỉ nhằm tăng năng suất hay giá trị xuất khẩu, mà quan trọng hơn là giảm rủi ro khí hậu, bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao chất lượng sống ở nông thôn và nâng vị thế nông sản Việt trên thị trường quốc tế. Cách tiếp cận này cho thấy sự thay đổi tư duy từ sản xuất đơn thuần sang kinh tế nông nghiệp, từ chạy theo sản lượng sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và bền vững.
Trên thực tế, chuyển đổi xanh không diễn ra đồng loạt mà được hiện thực hóa bằng các mô hình cụ thể, bắt đầu từ vùng sản xuất, hợp tác xã và từng hộ nông dân. Chính ở cơ sở, những lợi ích kinh tế – môi trường – xã hội của nông nghiệp xanh dần trở nên rõ ràng, thúc đẩy người sản xuất thay đổi tập quán canh tác lâu nay.
Tại phường Tân Thành, TP. Hồ Chí Minh, Hợp tác xã Bưởi Da xanh Hắc Dịch là một ví dụ tiêu biểu cho quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang canh tác xanh, bài bản và có liên kết chuỗi giá trị. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, hợp tác xã áp dụng kỹ thuật xử lý cho trái rải vụ, duy trì nguồn cung ổn định quanh năm. Trung bình mỗi tháng, đơn vị cung ứng 60–100 tấn bưởi da xanh ra thị trường.
Theo bà Nguyễn Thị Thùy Dung, Giám đốc hợp tác xã, trước đây các hộ trồng bưởi chủ yếu sản xuất manh mún, thiếu liên kết, phụ thuộc vào thương lái. Việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật không chỉ làm suy giảm chất lượng đất, nước, không khí mà còn khiến giá cả bấp bênh, đầu ra thiếu ổn định. Những hạn chế này bộc lộ rõ khi dịch COVID-19 bùng phát, do người dân không có pháp nhân để ký kết với doanh nghiệp, siêu thị, dẫn đến khó khăn trong tiêu thụ.
Từ thực tế đó, các hộ đã thống nhất thành lập hợp tác xã, hướng tới xây dựng vùng sản xuất tập trung với quy trình thống nhất, minh bạch. Khi tham gia, các thành viên được hướng dẫn sản xuất theo VietGAP, có sự hỗ trợ của cán bộ kỹ thuật và chính quyền địa phương trong phòng trừ sâu bệnh. Nhờ áp dụng quy trình mới, năng suất bưởi tăng từ khoảng 20 tấn/ha lên 30-35 tấn/ha.
Các khâu như tạo tán, xử lý ra hoa, ghi chép nhật ký sản xuất, thời gian cách ly thuốc được chuẩn hóa, giúp kiểm soát chất lượng trái và mẫu mã. VietGAP cũng giúp hợp tác xã minh bạch nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu truy xuất xuất xứ của đối tác và hệ thống siêu thị. Nhờ đó, giá bán bưởi cao hơn 2.000-3.000 đồng/kg so với trước đây.
Song song với đó, hợp tác xã ứng dụng nhiều giải pháp như tưới tiết kiệm nước, quản lý độ ẩm và pH đất, cơ giới hóa khâu phun thuốc để giảm nhân công và chi phí. Đáng chú ý, mô hình thả kiến vàng diệt rệp sáp thay cho thuốc hóa học giúp giảm đầu vào, đồng thời góp phần giảm phát thải và bảo vệ hệ sinh thái vườn cây.
Mô hình ở Hắc Dịch chỉ là một lát cắt trong bức tranh chuyển đổi xanh của ngành nông nghiệp. Trên phạm vi cả nước, trồng trọt đang được định hướng lại theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính. Các mô hình như “1 phải 5 giảm”, tưới ngập khô xen kẽ trong sản xuất lúa được xem là giải pháp quan trọng nhằm giảm phát thải khí mê-tan, đồng thời tiết kiệm nước và chi phí đầu vào.

Nhà vườn trồng chanh không hạt xuất khẩu giúp người dân ở những nơi đất cằn cỗi vẫn thu được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao - Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Giảm phát thải từ cây lúa - trụ cột an ninh lương thực được coi là một điểm nhấn mạnh mẽ trong phát triển các mô hình sản xuất giảm phát thải của nông nghiệp. Đề án "Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030" đã được triển khai thí điểm. Trong đó, nhiều mô hình cho thấy chi phí sản xuất giảm từ 10-20%, lượng giống gieo sạ giảm, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý hơn, trong khi năng suất và chất lượng lúa được nâng lên.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam khẳng định, kết quả quan trọng nhất không chỉ nằm ở con số giảm phát thải hay tăng lợi nhuận, mà là sự thay đổi tư duy của nông dân: từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, từ làm riêng lẻ sang liên kết theo chuỗi giá trị, từ chú trọng sản lượng sang đáp ứng yêu cầu thị trường.
Từ cây lúa, các giải pháp giảm phát thải đang lan tỏa sang nhiều ngành hàng khác, trong đó có cà phê - một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tại Lâm Đồng, các dự án cà phê bền vững đang được triển khai rộng rãi ở nhiều địa phương như Di Linh, Lâm Hà, Nâm Nung, Quảng Phú, Quảng Sơn, giúp người dân tiếp cận quy trình canh tác phù hợp với tiêu chí tăng trưởng xanh.
Theo ông Lang Thế Thành, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp công bằng Thanh Thái, chất lượng cà phê của nông dân là yếu tố quyết định khả năng tham gia chuỗi giá trị. Mô hình canh tác giảm phát thải giúp hạt cà phê đồng đều hơn, đạt chuẩn kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, từ đó mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường trong và ngoài nước.
Không chỉ Lâm Đồng, các tỉnh trồng cà phê như Đắk Lắk, Gia Lai cũng đang mở rộng các chương trình chứng nhận Rainforest Alliance, UTZ, Fair Trade, Organic…, hướng tới sử dụng vật tư đầu vào có trách nhiệm và tiếp cận các phân khúc thị trường cao cấp.
Trong chăn nuôi - một lĩnh vực phát thải lớn, nhiều trang trại đã áp dụng hầm biogas, xử lý chất thải bằng vi sinh, điều chỉnh khẩu phần ăn để giảm phát thải nitơ và mê-tan. Việc tách rắn - lỏng, tái sử dụng phân làm phân hữu cơ, sử dụng khí sinh học để phát điện đang hình thành các mô hình chăn nuôi tuần hoàn, vừa giảm phát thải tại chỗ, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế.
Ở lĩnh vực lâm nghiệp, vai trò hấp thụ carbon và cân bằng tổng phát thải ngày càng được khẳng định. Các địa phương đẩy mạnh quản lý rừng bền vững, phát triển rừng gỗ lớn, cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC hoặc tương đương), bảo vệ rừng tự nhiên và số hóa diện tích rừng bằng công nghệ viễn thám. Cùng với đó, cơ chế REDD+ tiếp tục được mở rộng, từng bước chuẩn bị cho việc tham gia thị trường tín chỉ carbon.
Theo ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp (Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam), trước tác động của biến đổi khí hậu, sản xuất nông sản, đặc biệt là trái cây, đang chuyển dịch mạnh mẽ sang VietGAP và hữu cơ. Điều này đòi hỏi xây dựng lại toàn bộ quy trình kỹ thuật, giảm thuốc hóa học, tăng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học, bao trái… nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và bảo vệ môi trường.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng nhấn mạnh, nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn không chỉ là định hướng, mà đã trở thành hành động cụ thể, mang lại kết quả rõ nét trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu. Thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường carbon, tín dụng xanh, khuyến khích doanh nghiệp và nông dân mở rộng các mô hình sản xuất ít phát thải, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam và đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng xanh của quốc gia.
Từ những mô hình cụ thể tại cơ sở đến các chương trình quy mô vùng và quốc gia, có thể thấy nông nghiệp xanh ở Việt Nam đang từng bước đi vào chiều sâu. Hiệu quả không chỉ được đo bằng con số tăng trưởng, mà còn bằng sự bền vững của hệ sinh thái, thu nhập ổn định của người nông dân và niềm tin ngày càng lớn của thị trường đối với nông sản Việt Nam.
Đỗ Hương