Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Ông Huỳnh Văn Tiểng (ngoài cùng bên phải) tham dự Hội nghị Nhân dân Đông Dương tại Campuchia, năm 1965. Ảnh tư liệu
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nền độc lập non trẻ của nước ta đứng trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Tại miền Nam, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp đã vang lên từ ngày 23/9/1945 với âm mưu chiếm đóng vĩnh viễn Nam Bộ, tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam để trở thành lãnh thổ thuộc địa của Pháp và dùng Nam Bộ làm bàn đạp để mở rộng sự chiếm đóng Trung Kỳ, Bắc Kỳ, xóa bỏ chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhận rõ âm mưu chiến lược này, Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết tâm tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trên cả nước vào ngày 06/01/1946 để nêu cao uy tín to lớn của chính quyền cách mạng được toàn dân ủng hộ và tận dụng sự ủng hộ này để đẩy lùi, đánh bại âm mưu chia cắt, tái xâm chiếm Việt Nam của Pháp.
Tại Sài Gòn và Nam Bộ , việc tổ chức bầu cử là một cuộc đấu trí, đấu lực đầy cam go. Quân Pháp vây chặt nội đô, thiết quân luật gắt gao, mật thám rình rập khắp các ngõ ngách. Chấp hành chủ trương của Trung ương, Huỳnh Văn Tiểng đã tham gia thực hiện hai nhiệm vụ song song vô cùng khó khăn: Tổ chức lực lượng và cơ sở kháng chiến; Tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ tạo điều kiện cho nhân dân được bầu những đại biểu chân chính của mình.
Tại vùng ngoại thành, do đã phát động được chiến tranh du kích, xây dựng được hệ thống chính quyền cách mạng nên có điều kiện thuận lợi hơn để tổ chức họp dân ngày, đêm tuyên truyền, hướng dẫn về Tổng tuyển cử. Tuy nhiên, ở nội thành, quân Pháp và mật thám bủa vây ráo riết. Ông cùng các đồng chí trong Ban Tổ chức Tổng tuyển cử Sài Gòn đã bí mật len lỏi đến từng gia đình, vận động, đưa từng đoàn đại biểu vượt vòng vây, băng qua đầm lầy… để đến các vùng ven đô thực hiện quyền công dân. Những cuộc phục kích của địch làm đổ máu hàng chục người, trong đó có 37 cán bộ, chiến sĩ hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ hòm phiếu tại Nam Bộ đã khiến Huỳnh Văn Tiểng xúc động thốt lên: "Lá phiếu máu". Kết quả Tổng tuyển cử ở Sài Gòn như một huyền thoại trong bao nhiêu huyền thoại khác về tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí thống nhất cao cả của nhân dân ta. Chính từ những "lá phiếu máu" ấy, Huỳnh Văn Tiểng càng ý thức sâu sắc vai trò, trọng trách to lớn của mình khi được nhân dân tin tưởng bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I của Sài Gòn-Chợ Lớn.
Bản lĩnh nghị trường
Hành trình cùng các đại biểu Sài Gòn-Chợ Lớn ra Hà Nội họp kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vô cùng gian nan và nguy hiểm. Dù không dự được phiên họp đầu tiên do lý do sức khỏe, nhưng đến phiên họp thứ hai ngày 15/3/1946, ông Huỳnh Văn Tiểng được phân công chất vấn Chính phủ về việc ký Hiệp định sơ bộ 06/3/1946 với nhà cầm quyền Pháp trong bối cảnh đất nước đầy rẫy những phức tạp chính trị. Các đảng phái phản động như Việt Quốc, Việt Cách dựa thế quân Tưởng Giới Thạch gây áp lực đòi Chính phủ ta nhường cho chúng 70 ghế trong Quốc hội mà không qua bầu cử, liên tục công kích Chính phủ về việc ký kết Hiệp định Sơ bộ. Trong không khí căng thẳng đó, Huỳnh Văn Tiểng - với tư cách đại biểu Đảng Dân chủ Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh của một nhà báo chính luận sắc sảo. Ông là người đăng ký đọc tham luận đầu tiên về Hiệp định Sơ bộ. Bài tham luận của ông không chỉ là một văn bản chính trị mà còn là một áng văn chương hùng hồn với 4 phần mạch lạc, phân tích sâu sắc rằng việc ký Hiệp định không phải là sự hèn nhát mà là một bước lùi chiến thuật để tiến hai bước về chiến lược. Bằng những lý lẽ không thể chối cãi, ông đã "bịt miệng" hoàn toàn các đại biểu phản động đang tìm cách bêu xấu Chính phủ. Ông nhấn mạnh: Việc thực dân Pháp - một cường quốc buộc phải ngồi lại đàm phán và công nhận Việt Nam là một nước tự do trong Khối Liên hiệp Pháp đã là một thắng lợi ngoại giao, tạo tiền đề để đấu tranh giành độc lập sau này. Bài tham luận của ông được các đại biểu nhiệt tình hoan nghênh. Sự sắc sảo của Huỳnh Văn Tiểng đã góp phần ổn định tình hình nghị trường, tạo sự đồng thuận cao độ để Quốc hội thông qua các quyết sách quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tháng 4/1946, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử một đoàn đại biểu sang thăm và làm việc với Quốc hội Pháp do đồng chí Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn và Huỳnh Văn Tiểng làm Tổng thư ký với nhiệm vụ đối ngoại trọng đại: Làm cho nhân dân Pháp và thế giới hiểu rõ khát vọng hòa bình nhưng không khoan nhượng về độc lập của Việt Nam. Tại Paris, với tư cách Tổng thư ký, ông đã trực tiếp đấu tranh đòi Pháp phải thực hiện nghi thức đón tiếp dành cho một quốc gia độc lập: quốc kỳ Việt Nam phải được kéo lên cột cờ cao nhất tại sân bay Orly và nơi ở của đoàn tại khách sạn Le Louvre. Với vốn tiếng Pháp điêu luyện và phong thái lịch lãm, ông tổ chức các cuộc họp báo, tiếp xúc với các đảng phái và nhân dân Pháp. Cuộc họp báo do ông tổ chức với sự tham gia của hàng trăm phóng viên quốc tế nhằm ca ngợi tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Pháp, lên án chính sách thực dân, đòi Pháp phải chấm dứt chiếm đóng trái phép ở Nam Bộ. Ông cũng đã làm cho giới trí thức Pháp hiểu rằng: Người Việt Nam yêu hòa bình, nhưng nếu bị dồn vào đường cùng, họ sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ Nam Bộ - phần máu thịt không thể tách rời. Chuyến đi đã thành công vang dội trong việc tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, tạo ra một hành lang pháp lý và dư luận thuận lợi cho cuộc kháng chiến trường kỳ sau này.
Trong quá trình công tác Quốc hội, Huỳnh Văn Tiểng còn tham gia nhiều đoàn công tác đến các nước trên thế giới. Chuyến thăm Liên Xô năm 1956 với mục đích kêu gọi nhân dân Liên Xô và thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà của Việt Nam. Tại đây, cảm kích trước lịch sử hào hùng và tình cảm của đất nước Nga Xô viết dành cho Việt Nam ông đã sáng tác bài thơ "Thăm chiến hạm Rạng Đông" rất xúc động. Ông cũng đã có nhiều chuyến đi đến các nước trong khu vực như: Indonesia, Myanmar, Nhật Bản... Từ những chuyến đi này, ông đã đúc rút được những bài học quý giá về việc xây dựng liên minh chống đế quốc và đưa những kinh nghiệm này vào việc tham mưu chính sách đối ngoại cho Quốc hội.
Không những sôi nổi về hoạt động ngoại giao, là một trí thức uyên bác, Huỳnh Văn Tiểng còn có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng nền tảng pháp lý của đất nước. Ông đã được Ủy ban Thường trực Quốc hội cử vào chức vụ ủy viên trong Ban Thư ký của các phiên họp Quốc hội với nội dung theo dõi các phiên họp, chuẩn bị các văn bản dự thảo Luật, dưới Luật, tổ chức các cuộc chất vấn của đại biểu Quốc hội, tổng hợp lấy ý kiến phát biểu của đại biểu và dự thảo các văn bản cuối cùng đưa ra Quốc hội biểu quyết. Đến năm 1960, ông được cử vào Ủy ban Sửa đổi Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo. Trong quá trình này, ông đã có những đề xuất quan trọng về việc xác lập cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo hướng dân chủ, tăng cường vai trò giám sát của đại biểu đối với các cơ quan hành pháp.
Trong suốt cuộc đời làm đại biểu Quốc hội, Huỳnh Văn Tiểng luôn nhận được sự dạy bảo sát sao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông luôn khắc cốt ghi tâm lời Bác dặn dò: "Làm đại biểu của dân thì phải hiểu dân, phải nói tiếng nói của dân, đừng nói lời trống rỗng". Chính tư tưởng "lấy dân làm gốc" của Hồ Chí Minh đã soi sáng cho mọi hoạt động nghị trường của Huỳnh Văn Tiểng, giúp ông luôn giữ được sự liêm chính và tận tụy.
Trong những năm tháng đất nước chia cắt, Huỳnh Văn Tiểng đã được cử tri các tỉnh phía Bắc như Vĩnh Phú, Thái Bình tin tưởng bầu làm đại biểu Quốc hội khóa IV, khóa V. Không bao giờ ngồi yên trong phòng làm việc, ông thường xuyên xuống tận các hợp tác xã, các công trường để lắng nghe ý kiến người dân. Cử tri Thái Bình những năm 1970-1975 vẫn nhớ hình ảnh vị đại biểu Quốc hội giọng miền Nam ấm áp, đi ủng lội ruộng cùng nông dân để hỏi về tình hình năng suất lúa, về việc cung cấp phân bón. Ông không chỉ nghe để biết mà để mang những nỗi trăn trở ấy ra chất vấn tại nghị trường.
Trong mỗi kỳ họp Quốc hội, mỗi khi Huỳnh Văn Tiểng bước lên diễn đàn, cả hội trường thường im lặng lắng nghe. Bởi ông chính là hiện diện của miền Nam trong lòng miền Bắc. Những bài phát biểu của ông luôn tràn đầy niềm tin vào ngày toàn thắng. Ông từng nói: "Mỗi nhịp đập của trái tim tôi đều hướng về Sài Gòn, nơi cử tri đã trao cho tôi lá phiếu đầu tiên giữa vòng vây quân thù. Tôi chưa bao giờ quên trách nhiệm phải mang độc lập, tự do thực sự về cho mảnh đất ấy". Ông đã sử dụng uy tín của một đại biểu Quốc hội để vận động các phong trào thi đua "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt". Với ông, hoạt động Quốc hội là một hình thức đấu tranh chính trị cao cấp để thống nhất đất nước.
Ngay cả khi đã nghỉ hưu, ông vẫn luôn đau đáu với vận mệnh đất nước và sự phát triển của Quốc hội. Ông trăn trở về việc làm sao để Quốc hội không chỉ là nơi "giơ tay biểu quyết" mà phải là một diễn đàn tranh biện thực sự vì lợi ích quốc gia.
Cả cuộc đời, ông Huỳnh Văn Tiểng đã sống trọn vẹn và xứng đáng với niềm tin son sắt của nhân dân. Với những cống hiến không mệt mỏi, nhà báo Huỳnh Văn Tiểng đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất đối với ông chính là sự tin yêu của cử tri từ Nam ra Bắc.
Cuộc đời và sự nghiệp của nhà báo Huỳnh Văn Tiểng tại Quốc hội Việt Nam là một tấm gương về lòng yêu nước và sự tận hiến. Từ một trí thức tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn, đến người đại biểu của "lá phiếu máu", và sau đó là một chính khách bản lĩnh trên trường quốc tế, ông đã chứng minh rằng: Sức mạnh của một đại biểu Quốc hội nằm ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân, dùng trí tuệ để bảo vệ chân lý và dùng bản lĩnh để khẳng định vị thế quốc gia.
Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, tinh thần "vì dân" và tư duy đổi mới của ông về một Quốc hội tranh biện, dân chủ vẫn là kim chỉ nam cho các thế hệ kế cận. Những bài học từ cuộc đời Huỳnh Văn Tiểng vẫn còn nguyên tính thời sự. Đó là sự dũng cảm trong đấu tranh, sự tinh tế trong đối ngoại và trên hết là sự tận tụy, liêm chính của người đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, trọn đời cống hiến, phụng sự cho sự thống nhất và phồn vinh của Tổ quốc./.
Thu Hoàn