• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân 5 năm 2026-2030 từ 10% trở lên

(Chinhphu.vn) – Để hiện thực hóa mục tiêu, tầm nhìn phát triển đến năm 2030 và năm 2045, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Chính phủ xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước, phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân 5 năm 2026-2030 từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

09/04/2026 15:25
Phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân 5 năm 2026-2030 từ 10% trở lên- Ảnh 1.

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng báo cáo dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 – 2030 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tăng trưởng cao gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô

Họp phiên toàn thể tại Hội trường vào chiều nay (9/4), Quốc hội nghe Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng báo cáo dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 – 2030.

Báo cáo nêu rõ: Giai đoạn 2026-2030, tình hình thế giới tiếp tục biến động rất nhanh, mạnh, khó lường… Để hiện thực hóa mục tiêu, tầm nhìn phát triển đến năm 2030 và năm 2045, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Chính phủ xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước, phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân 5 năm 2026-2030 từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 8.500 USD, gấp 1,7 lần năm 2025; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân, để nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của phát triển.

Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại

Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn và với quyết tâm cao, Chính phủ trình Quốc hội 5 quan điểm chỉ đạo, điều hành, 59 chỉ tiêu chủ yếu, 11 nhóm giải pháp trọng tâm trong giai đoạn 2026-2030 và 92 nhiệm vụ cần thực hiện ngay trong năm 2026.

Trong đó, bao gồm các nhiệm vụ trọng tâm lớn như: Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng, xác lập mô hình tăng trưởng mới; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật; tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn, hoàn thiện thể chế, pháp luật để phát triển nền kinh tế số, đầu tư kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 nước hàng đầu thế giới vào năm 2028. Tăng cường hơn nữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới. Thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, phát triển mạnh các mô hình kinh tế mới, khai thác không gian phát triển mới. Hiện đại hoá nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với triển khai hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng; mở rộng, đa dạng hóa thị trường, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng chiến lược của các nước lớn.

Thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô

Thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế; khơi thông và đa dạng hoá các chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác. Phát triển thị trường vốn thành kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế. Hiện đại hoá hệ thống các tổ chức tín dụng, đẩy mạnh xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống.

Tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hoàn thiện thể chế, pháp luật, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng, làm chủ các công nghệ nền tảng, công nghệ chiến lược, công nghệ số… Chú trọng nghiên cứu cơ bản, nhất là những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế. Đến năm 2030, tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.

Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Phát triển mạnh công nghiệp văn hoá, giải trí, kinh tế di sản… Nâng cao đời sống văn hoá, thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hoá giữa các vùng, miền, các tầng lớp nhân dân.

Hiện đại hoá nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là trong các ngành nghề kỹ thuật, công nghệ và phục vụ các chương trình, dự án chiến lược, trọng điểm. Phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu trở thành các trung tâm ngang tầm các nước tiên tiến. Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo.

Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hoá và phát triển đô thị, liên kết vùng. Tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị; đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao gắn với đảm bảo an ninh năng lượng. Ưu tiên đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng số; phát triển đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, các cơ sở dữ liệu lớn, trung tâm dữ liệu lớn. Quyết liệt xử lý các dự án tồn đọng.

Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng hiện đại, hội nhập, bao phủ toàn bộ lực lượng lao động. Phát triển thị trường lao động linh hoạt, đồng bộ, hiện đại và hội nhập. Khuyến khích làm giàu chính đáng, phát triển mạnh tầng lớp trung lưu. Đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội và nhà ở thương mại giá rẻ. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả; kiểm soát tốt dịch bệnh. Thực hiện tốt chính sách, chế độ đối với người có công, đối tượng chính sách, dân tộc, tôn giáo…

Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản quan trọng, nhất là tài nguyên biển, đất hiếm. Xử lý cơ bản ô nhiễm không khí, ngập úng, tắc nghẽn giao thông tại một số đô thị lớn như Hà Nội, TPHCM.

Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá. Chú trọng phân tích, đánh giá, dự báo tình hình quốc tế, đề xuất các kịch bản ứng phó kịp thời, chủ động.

Thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi, xác định tăng trưởng "2 con số" là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, củng cố niềm tin, khát vọng phát triển của toàn xã hội.

"Trong tổ chức thực hiện, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo các cơ quan theo dõi sát tình hình, dự báo, đánh giá tác động để có các giải pháp điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; bảo đảm thực hiện mục tiêu đề ra", Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng phát biểu.

Phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân 5 năm 2026-2030 từ 10% trở lên- Ảnh 2.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi thẩm tra Tờ trình của Chính phủ - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Năng lực điều hành, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế được nâng lên

Thẩm tra Tờ trình của Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính (KTTC) của Quốc hội Phan Văn Mãi nhấn mạnh, Ủy ban KTTC cho rằng, Kế hoạch KTXH 5 năm 2021 - 2025 diễn ra trong bối cảnh đặc biệt nhiều biến động, trong đó dịch bệnh, rủi ro địa chính trị, cạnh tranh chiến lược và yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số đan xen, tạo sức ép lớn lên tăng trưởng. Hai năm đầu chịu tác động nặng nề của COVID-19; giai đoạn cuối ghi nhận các cải cách mang tính bước ngoặt về thể chế, tổ chức bộ máy, kinh tế tư nhân và hạ tầng chiến lược, tạo nền tảng cho phát triển dài hạn.

Giai đoạn 5 năm 2021 - 2025 đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu, tăng trưởng bình quân khoảng 6,2%, các năm cuối cải thiện rõ rệt; phản ánh năng lực điều hành, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế được nâng lên, ổn định vĩ mô được giữ vững, các động lực tăng trưởng mới dần hình thành, niềm tin thị trường được củng cố, tạo nền tảng cho giai đoạn 2026 - 2030.

Bên cạnh đó, vẫn còn 4/26 chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2021 - 2025 chưa đạt hoặc chỉ xấp xỉ mục tiêu, cho thấy một số nhiệm vụ, mục tiêu phát triển còn gặp khó khăn, cần tiếp tục được phân tích, đánh giá kỹ để có giải pháp khắc phục hiệu quả trong giai đoạn tới.

Xây dựng và triển khai Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2026 - 2030 phải được đặt trong bối cảnh mới

Về Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2026 – 2030, Ủy ban KTTC nhấn mạnh, khó khăn, thách thức trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 là rất lớn, gay gắt hơn giai đoạn trước, điều này đòi hỏi việc xây dựng và triển khai Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2026 - 2030 phải được đặt trong bối cảnh mới, với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Đây là giai đoạn cần tư duy phát triển mới, quyết tâm chính trị cao và sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cấp, các ngành để tạo đột phá trong phát triển KTXH, qua đó củng cố nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Ủy ban KTTC cơ bản thống nhất với các quan điểm, mục tiêu tổng quát, chỉ tiêu chủ yếu và 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Báo cáo của Chính phủ. Một số ý kiến đề nghị lưu ý áp lực lớn đối với cân đối ngân sách, huy động và sử dụng vốn đầu tư trong bối cảnh nhu cầu nguồn lực rất cao cho tăng trưởng. Việc xây dựng và tổ chức thực hiện Kế hoạch KTXH giai đoạn 2026 - 2030 cần bám sát và cụ thể hóa đầy đủ các định hướng tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kết luận Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, các nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị; đồng thời kiên định nguyên tắc tăng trưởng thực chất, giữ vững ổn định vĩ mô, sử dụng hiệu quả nguồn lực và gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội; bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, rõ thứ tự ưu tiên, gắn với nguồn lực, lộ trình thực hiện, tạo chuyển biến rõ nét ngay từ đầu giai đoạn 2026 - 2030, trong đó nhấn mạnh một số nội dung trọng tâm.

Cụ thể, thứ nhất, hoàn thiện thể chế phải thực sự là đột phá chiến lược, không chỉ dừng ở sửa đổi văn bản mà cần nâng cao chất lượng, tính đồng bộ và hiệu lực thực thi của hệ thống pháp luật. Cần rà soát tổng thể, xử lý triệt để tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu nhất quán giữa các luật và văn bản dưới luật; đồng thời gắn chặt công tác xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành, lấy kết quả thực thi làm thước đo chất lượng thể chế.

Nhiều ý kiến đề nghị hoàn thiện Chiến lược pháp luật Việt Nam, hướng tới nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường kinh doanh, với cách tiếp cận rà soát theo lĩnh vực, bảo đảm tính đồng bộ, thay vì chạy theo số lượng văn bản cần ban hành hoặc sửa đổi.

Thứ hai, việc đồng thời theo đuổi tăng trưởng cao và giữ vững ổn định vĩ mô là thách thức lớn, đòi hỏi điều hành chính sách thận trọng, linh hoạt và kỷ luật. Đề nghị làm rõ dư địa, giới hạn của chính sách tài khóa, tiền tệ; bảo đảm phối hợp nhất quán, tránh "giật cục". Đồng thời, tăng cường kỷ luật ngân sách, cơ cấu lại chi theo hướng ưu tiên đầu tư; chủ động bảo đảm an ninh năng lượng và kiểm soát tác động đến lạm phát, tỉ giá, thị trường tài chính. Xây dựng lộ trình phát triển thị trường vốn, giảm dần phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Thứ ba, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới cần được cụ thể hóa bằng lộ trình rõ ràng, có trọng tâm, tránh dàn trải; đồng thời làm rõ các điều kiện nền tảng và xác định các ngành, lĩnh vực, vùng động lực ưu tiên để phân bổ nguồn lực hiệu quả. Một số ý kiến đề nghị bổ sung xây dựng Chương trình Năng suất quốc gia, Chiến lược quản lý rủi ro quốc gia và bộ tiêu chí đo lường đóng góp của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào tăng trưởng, làm cơ sở định hướng đầu tư, tránh dàn trải, lãng phí.

Thứ tư, cần có giải pháp căn cơ xử lý bài toán năng lượng, nút thắt lớn của tăng trưởng. Cần ưu tiên phát triển hạ tầng năng lượng, rà soát quy hoạch, đẩy nhanh các dự án trọng điểm; đồng thời hoàn thiện thị trường điện cạnh tranh, cơ chế giá linh hoạt, minh bạch để thu hút đầu tư và kiểm soát chi phí. Về dài hạn, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng tự chủ, gắn với kinh tế xanh, tuần hoàn; phát triển năng lượng tái tạo theo hướng bền vững, tránh phát triển nóng, thiếu đồng bộ.

Thứ năm, hạ tầng là "điểm nghẽn" lớn cần ưu tiên tháo gỡ, trong đó tập trung vào các dự án chiến lược, có sức lan tỏa. Đầu tư công phải giữ vai trò dẫn dắt, cơ cấu lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Đồng thời, xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư, chiến lược huy động và phân bổ nguồn lực. Đẩy mạnh huy động khu vực tư nhân qua phương thức hợp tác công tư (PPP) minh bạch, chia sẻ rủi ro hợp lý; tăng cường liên kết vùng, phát huy các cực tăng trưởng và tổ chức lại không gian phát triển.

Thứ sáu, nâng cao năng lực nội tại thông qua tái cấu trúc chuỗi cung ứng, phát triển công nghiệp trong nước và tăng liên kết với khu vực FDI nhằm gia tăng giá trị nội địa, từng bước làm chủ công nghệ. Phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành động lực chủ yếu; doanh nghiệp nhà nước tập trung vào lĩnh vực then chốt, thiết yếu và hình thành một số doanh nghiệp quy mô lớn, cạnh tranh quốc tế. Một số ý kiến đề nghị xây dựng chiến lược đồng bộ về phát triển doanh nghiệp, khoa học công nghệ, sản xuất nền tảng và dự trữ quốc gia để nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, phát triển kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và bền vững, không đánh đổi môi trường, an sinh để lấy tăng trưởng. Chú trọng phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, động lực nội sinh quan trọng của phát triển; tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, gắn với nhu cầu thị trường lao động và yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới, đồng thời chủ động thích ứng với xu hướng già hóa dân số, biến động thị trường lao động và chuyển dịch cơ cấu việc làm.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu mô hình chính quyền địa phương hai cấp; bảo đảm tính khả thi của mục tiêu bao phủ và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Đồng thời, tăng cường quốc phòng, an ninh, ứng phó với các rủi ro an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh kinh tế, an ninh mạng trong bối cảnh mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.

Ủy ban KTTC cũng nhấn mạnh nâng cao năng lực điều hành và tổ chức thực thi là khâu then chốt, quyết định hiệu quả chính sách. Thực tiễn cho thấy nhiều hạn chế không nằm ở thiếu cơ chế mà ở khâu điều hành, triển khai thực hiện. Cần làm rõ cơ chế phân công, phối hợp, kiểm tra, giám sát; tăng cường kỷ luật, làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, bảo đảm thực thi minh bạch, hiệu quả, đúng mục tiêu.

Nguyễn Hoàng