Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Quy định hoạt động chiết khấu của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
Thông tư này quy định về hoạt động chiết khấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (tổ chức tín dụng) đối với khách hàng.
Tổ chức tín dụng được thực hiện hoạt động chiết khấu bao gồm: Ngân hàng thương mại; Công ty tài chính tổng hợp; Công ty tài chính chuyên ngành (trừ công ty cho thuê tài chính); Ngân hàng hợp tác xã; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo Luật Các tổ chức tín dụng, chiết khấu là hình thức cấp tín dụng thông qua việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của bên thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
Khách hàng chiết khấu là bên thụ hưởng công cụ chuyển nhượng được phép giao dịch tại Việt Nam, chủ sở hữu giấy tờ có giá được phát hành trên lãnh thổ Việt Nam (khách hàng), bao gồm: Tổ chức trong nước (không bao gồm tổ chức tín dụng) và cá nhân trong nước; pháp nhân, cá nhân nước ngoài đang hoạt động, cư trú hợp pháp tại Việt Nam, có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, cá nhân nước ngoài.
Thông tư nêu rõ, tổ chức tín dụng lựa chọn chiết khấu các công cụ chuyển nhượng bao gồm: Hối phiếu đòi nợ; hối phiếu nhận nợ; séc; các loại công cụ chuyển nhượng khác được chiết khấu theo quy định của pháp luật.
Tổ chức tín dụng lựa chọn chiết khấu các loại giấy tờ có giá khác bao gồm: Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước; trái phiếu Chính phủ; trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; trái phiếu chính quyền địa phương; chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng phát hành theo quy định của pháp luật; trái phiếu do tổ chức khác phát hành và được chiết khấu theo quy định của pháp luật.
Theo Thông tư, công cụ chuyển nhượng được tổ chức tín dụng nhận chiết khấu khi có đủ các điều kiện sau:
Được phát hành hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước phát hành hoặc tập quán thương mại quốc tế do Phòng Thương mại quốc tế ban hành, Tập quán thương mại khác không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật của Việt Nam.
Thuộc quyền thụ hưởng hợp pháp của khách hàng; tại thời điểm chiết khấu không có tranh chấp, không sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ khác.
Trên công cụ chuyển nhượng không ghi cụm từ "Không được chuyển nhượng", "Cấm chuyển nhượng", "Không trả theo lệnh" hoặc cụm từ có ý nghĩa tương tự.
Chưa đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng.
Còn nguyên vẹn, không tẩy xóa, sửa chữa.
Giấy tờ có giá khác được tổ chức tín dụng nhận chiết khấu khi có đủ các điều kiện sau:
Được phát hành hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng; tại thời điểm chiết khấu không có tranh chấp, không sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ khác.
Được phép giao dịch (mua, bán, tặng, cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, bảo lãnh và các giao dịch hợp pháp khác) theo quy định của pháp luật.
Chưa đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên giấy tờ có giá khác.
Còn nguyên vẹn, không tẩy xóa, sửa chữa.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận, lựa chọn các phương thức chiết khấu sau đây:
1. Mua có kỳ hạn công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là việc tổ chức tín dụng mua và nhận chuyển nhượng quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác từ khách hàng, đồng thời khách hàng cam kết sẽ mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đó sau một khoảng thời gian được xác định tại hợp đồng chiết khấu.
2. Mua có bảo lưu quyền truy đòi công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là việc tổ chức tín dụng mua và nhận quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác từ khách hàng; khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đối với số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu, các loại phí có liên quan đến hoạt động chiết khấu theo thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu trong trường hợp tổ chức tín dụng không nhận được đầy đủ số tiền được thanh toán từ người có trách nhiệm thanh toán công cụ chuyển nhượng, người phát hành giấy tờ có giá khác.
Giá chiết khấu do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu trên cơ sở giá trị thanh toán khi đến hạn thanh toán, mức độ rủi ro của công cụ chuyển nhượng, giá trị giấy tờ có giá khác, lãi suất chiết khấu, thời hạn còn lại của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác và các yếu tố khác.
Thời hạn chiết khấu do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu nhưng không vượt quá thời hạn thanh toán còn lại của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác; đối với giấy tờ có giá khác do tổ chức tín dụng khác phát hành, thời hạn chiết khấu tối đa là dưới 01 năm.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu về mức lãi suất chiết khấu phù hợp với quy định của pháp luật.
Lãi suất áp dụng đối với số tiền chiết khấu quá hạn do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu nhưng không vượt quá 150% lãi suất chiết khấu đã áp dụng trong thời hạn chiết khấu.
Lãi suất áp dụng đối với số tiền lãi chậm trả do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Trường hợp đồng tiền chiết khấu là ngoại tệ, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu thu lãi chiết khấu bằng ngoại tệ hoặc quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá thỏa thuận.
Thông tư nêu rõ, các loại phí có liên quan đến hoạt động chiết khấu do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu, phù hợp với quy định của pháp luật.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 02/3/2026./.