• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Sửa đổi, bổ sung quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh

(Chinhphu.vn) - Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh.

02/04/2026 12:09
Sửa đổi, bổ sung quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh- Ảnh 1.

Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh.

Thay đổi mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về cạnh tranh

Trong đó, Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP về mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về cạnh tranh. 

Cụ thể, Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 theo hướng nâng mức phạt tiền trong trường hợp tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm bằng 0 và mở rộng trường hợp áp dụng quy định này trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế không trên cùng thị trường liên quan, không kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định và không có ngành, nghề kinh doanh là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau; sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 4 theo hướng quy định rõ hơn cách xác định tổng doanh thu trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; sửa đổi, bổ sung khoản 8 về mức phạt tiền cụ thể đối với hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp có 1 hoặc 2 tình tiết giảm nhẹ, 1 hoặc 2 tình tiết tăng nặng và trong trường hợp vừa có tình tiết tăng nặng vừa có tình tiết giảm nhẹ như sau:

“3. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với doanh nghiệp có hành vi vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và khoản 2 của Điều này được xác định bằng 0 (không);

b) Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này không trên cùng thị trường liên quan; không kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định và không có ngành, nghề kinh doanh là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau.”.

“4. Trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành, nghề kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau hoặc các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm là các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định, thì tổng doanh thu trên thị trường liên quan quy định tại các khoản 1 và khoản 2 Điều này được xác định là tổng doanh thu của tất cả các thị trường liên quan đến hành vi vi phạm.”

“8. Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó.

Nếu có 01 tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt cụ thể được xác định trong khoảng từ trên mức tối thiểu đến dưới mức trung bình của khung tiền phạt, nhưng không thấp hơn mức trung bình của mức tối thiểu và mức trung bình của khung tiền phạt. Trường hợp có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt.

Nếu có 01 tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt cụ thể được xác định trong khoảng từ trên mức trung bình đến dưới mức tối đa của khung tiền phạt, nhưng không cao hơn mức trung bình của mức tối đa và mức trung bình của khung tiền phạt. Trong trường hợp có từ 02 tình tiết tăng nặng trở lên, thì áp dụng mức tối đa của khung tiền phạt.

Nếu vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ, thì giảm trừ một tình tiết tăng nặng với một tình tiết giảm nhẹ.”.

Quy định mới về hành vi không thông báo tập trung kinh tế và hành vi vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế khác

Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 14 về hành vi không thông báo tập trung kinh tế theo hướng xác định cụ thể mức phạt tiền tương ứng đối với từng trường hợp doanh nghiệp thuộc ngưỡng hoặc không thuộc ngưỡng phải thông báo tập trung kinh tế theo quy định của Luật Cạnh tranh và Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh, đảm bảo mức phạt tiền phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi vi phạm như sau:

" Điều 14. Hành vi không thông báo tập trung kinh tế

Phạt tiền đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế khi thực hiện hành vi không thông báo tập trung kinh tế theo quy định của Luật Cạnh tranh như sau:

Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam, tổng doanh thu bán ra và tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt dưới 3.000 tỷ đồng trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.

Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam hoặc tổng doanh thu bán ra hoặc tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt từ 3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.".

Đồng thời, Nghị định số 102/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 15 về hành vi vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế khác theo cách tiếp cận có tính logic với quy định sửa đổi, bổ sung tại Điều 14 và bổ sung 03 khoản tiếp theo vào sau khoản 2 tại Điều này nhằm cụ thể hoá các quy định về việc áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm như sau:

“1. Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam, tổng doanh thu bán ra và tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt dưới 3.000 tỷ đồng trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm; phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam hoặc tổng doanh thu bán ra hoặc tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt từ 3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm khi thực hiện một trong các hành vi sau đây:

a) Thực hiện tập trung kinh tế khi chưa có thông báo kết quả thẩm định sơ bộ của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Cạnh tranh, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Cạnh tranh;

b) Thực hiện việc tập trung kinh tế khi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chưa ra quyết định quy định tại Điều 41 Luật Cạnh tranh trong trường hợp hành vi tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức.

2. Phạt tiền từ 01% đến 03% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ điều kiện được thể hiện trong quyết định về tập trung kinh tế quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Cạnh tranh.

3. Phạt tiền từ 01% đến 05% tổng doanh thu trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm đối với hành vi thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Luật Cạnh tranh.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc thực hiện đầy đủ điều kiện được thể hiện trong quyết định về tập trung kinh tế quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Cạnh tranh đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập hoặc hợp nhất đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Buộc bán lại một phần hoặc toàn bộ vốn góp, tài sản mà doanh nghiệp đã mua đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này;

d) Buộc chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp nhận sáp nhập, doanh nghiệp mới hình thành sau tập trung kinh tế, doanh nghiệp mua lại hoặc doanh nghiệp liên doanh đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.”.

Nâng mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin, tài liệu

Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 22 về hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin, tài liệu theo hướng: Nâng mức phạt tiền tại khoản 2; mở rộng chủ thể áp dụng đối với khoản 3; sửa đổi, bổ sung khoản 4 nhằm thể hiện cụ thể hơn các biện pháp khắc phục hậu quả; bổ sung khoản 5 để quy định chế tài áp dụng trong trường hợp hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin, tài liệu gây ảnh hưởng đến việc kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ thông báo tập trung kinh tế; ảnh hưởng kết quả thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế hoặc quyết định về việc tập trung kinh tế của Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia như sau:

“2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với bên bị điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc cạnh tranh, các bên tham gia tập trung kinh tế, các bên nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm về hành vi cung cấp không đầy đủ thông tin, tài liệu theo yêu cầu của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh trong quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, xem xét hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.

“3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với bên bị điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc cạnh tranh, các bên tham gia tập trung kinh tế, các bên nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế, các bên nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm về một trong các hành vi sau đây:

a) Không cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh trong quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, xem xét hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm;

b) Cung cấp thông tin, tài liệu gian dối, không trung thực hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu;

c) Cưỡng ép người khác cung cấp thông tin, tài liệu gian dối, không trung thực hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu;

d) Che giấu, tiêu hủy các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc cạnh tranh.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc cung cấp thông tin, tài liệu đầy đủ, trung thực.

5. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định bãi bỏ thông báo về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ thông báo tập trung kinh tế; thông báo kết quả thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế hoặc quyết định về việc tập trung kinh tế nếu phát hiện một trong các bên nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế thực hiện một hoặc các hành vi quy định tại điểm b, c và d khoản 3 Điều này dẫn đến làm sai lệch kết quả quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 36 và Điều 41 Luật Cạnh tranh.”.

2 hình thức nộp tiền phạt

Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Điều 32 theo hướng mở rộng các hình thức nộp phạt. 

Theo quy định mới, tổ chức, cá nhân bị phạt tiền theo quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác thực hiện nộp tiền phạt theo một trong các hình thức sau đây:

- Nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc tại ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản được ghi trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác;

- Chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20/5/2026.

Phương Nhi