• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/4.

27/04/2017 07:55

Mức lương cơ sở mới áp dụng từ 1/7/2017

Theo Nghị định 47/2017/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang vừa được Chính phủ ban hành, từ ngày 1/7/2017 mức lương cơ sở là 1.300.000 đồng/tháng (thay cho mức cũ là 1.210.000 đồng/tháng).

Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động (gọi chung là người hưởng lương, phụ cấp) làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (cấp huyện), ở xã, phường, thị trấn (cấp xã), ở đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.

Người hưởng lương, phụ cấp nêu trên gồm:

1-  Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp huyện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

2- Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

3- Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Luật Viên chức năm 2010.

4- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, gồm:

- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp;

- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong số lượng người làm việc đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

5- Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế trong các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

6- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ và công nhân, viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.

7- Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân.

8- Người làm việc trong tổ chức cơ yếu.

9- Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố.

Mức lương cơ sở dùng làm căn cứ tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng nêu trên; tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.

Mức lương cơ sở được điều chỉnh trên cơ sở khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Kinh phí thực hiện

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương  sắp xếp trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước được giao, phấn đấu tăng nguồn thu sự nghiệp và sử dụng nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương chưa sử dụng hết năm 2016 chuyển sang (nếu có) để cân đối nguồn thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở năm 2017.

Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể các khoản chi tiền lương, phụ cấp theo lương, các khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao năm 2017 của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; sử dụng một phần nguồn thu được để lại theo chế độ của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.

Bên cạnh đó, sử dụng 50% nguồn tăng thu ngân sách địa phương thực hiện so với dự toán năm 2016 do Thủ tướng Chính phủ giao (không kể thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết); nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương năm 2016 chưa sử dụng hết chuyển sang (nếu có).

Đối với một số địa phương ngân sách khó khăn, sau khi thực hiện quy định nêu trên mà vẫn thiếu nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2017 thì ngân sách trung ương bổ sung số thiếu để địa phương thực hiện.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/7/2017.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 38/NQ-CP chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về “Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”.

Ngày 5/11/2016, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về “Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị  - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” (Nghị quyết 06).

Đây là Nghị quyết có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và chủ trương coi “hội nhập quốc tế là định hướng lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 06 với mục tiêu tiếp tục cụ thể hóa các nhiệm vụ chủ yếu nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết. Chương trình hành động này sẽ xác định các nội dung công việc cụ thể, lộ trình, thời gian thực hiện mà các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương cần tập trung triển khai trong thời gian tới.

Để đạt được mục tiêu trên, trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần cụ thể hóa và tập trung thông tin, tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết.

Thực hiện hiệu quả cải cách hành chính

Để nâng cao năng lực thực hiện hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết nêu rõ cần xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là Chính phủ kiến tạo. Thực hiện hiệu quả cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính cải cách tư pháp, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương.

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là nâng cao nhận thức về đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế cùng với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội và phát triển năng lực hội nhập quốc tế.

Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục quốc dân; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, dạy nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp; ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất kinh doanh.

Phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tính kết nối, gia tăng liên kết vùng, khu vực và quốc tế; cung cấp dịch vụ, phát triển hệ thống phân phối và lưu thông hàng hóa với chất lượng cao. Ưu tiên đầu tư và đa dạng hóa các loại hình thu hút vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, trọng tâm là giao thông.

Rà soát kỹ các cam kết quốc tế và trên cơ sở luật pháp Việt Nam, chuẩn bị những giải pháp kỹ thuật phù hợp (tiêu chuẩn công nghệ, vệ sinh an toàn thực phẩm, xuất xứ - nguồn gốc, bảo vệ môi trường…) nhằm bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế song song với bảo vệ lợi ích của Việt Nam, hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp, các mặt hàng của Việt Nam.

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế

Chương trình hành động cũng đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Cụ thể, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế, thúc đẩy hội nhập và giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Trọng tâm là thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt; phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách khác, bảo đảm an toàn nợ công, giảm bội chi ngân sách; giữ vững an ninh tài chính - tiền tệ quốc gia.

Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy nhanh quá trình hình thành, phát triển đồng bộ và thông suốt các loại thị trường. Đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng gắn với xử lý nợ xấu trên cơ sở đảm bảo an toàn hệ thống, nâng cao hiệu quả hoạt động các tổ chức tín dụng, từng bước cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Triển khai mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh. Tập trung cơ cấu lại công nghiệp, tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, cải thiện đời sống nhân dân ở nông thôn; thực hiện các biện pháp nâng cao năng suất lao động; huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế; tạo động lực cho các thành phần kinh tế tiếp tục sáng tạo, phát huy tiềm năng sẵn có.

Bổ sung và kiện toàn cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển doanh nghiệp. Xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích các doanh nghiệp khởi nghiệp… bảo đảm nguyên tắc phù hợp với các cam kết mà Việt Nam đã tham gia.

Khẩn trương điều chỉnh và hoàn thiện chiến lược thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI theo hướng chú trọng các FDI sử dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, tạo hiệu ứng phát triển lan tỏa rộng, kết nối với công nghiệp trong nước. Xây dựng và triển khai các chính sách khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Triệt để thực hiện giảm nghèo bền vững theo cách tiếp cận đa chiều

Đối với vấn đề lao động và xã hội, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, thiết chế về lao động, việc làm, an sinh xã hội phù hợp với các cam kết, tiêu chuẩn quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Tăng cường năng lực thanh tra lao động.

Sớm hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các quan hệ lao động, quan hệ xã hội, đặc biệt là những hoạt động phát sinh khi hình thành các tổ chức xã hội về quan hệ lao động, bao gồm sửa đổi bổ sung Bộ luật Lao động.

Chủ động và triệt để thực hiện giảm nghèo bền vững theo cách tiếp cận đa chiều; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội. Chủ động xây dựng và thực hiện chính sách đảm bảo trợ giúp xã hội cho nhóm đối tượng chịu tác động không thuận của quá trình hội nhập.

Bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động, mức tối thiểu về các dịch vụ xã hội cơ bản cho con người như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở tất cả các tuyến. Nhân rộng mô hình bệnh viện vệ tinh và bác sĩ gia đình. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu, tham gia vào thị trường lao động khu vực và toàn cầu.

Làm rõ phản ánh phá rừng phòng hộ tại Phú Yên

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Thanh tra Chính phủ chủ trì kiểm tra, làm rõ các vấn đề báo Tuổi trẻ phản ánh qua phóng sự: Tan tác rừng Phú Yên.

Trước đó, báo Tuổi trẻ số ra ngày 24, 25/4/2017 có bài phóng sự: Tan tác rừng Phú Yên, kỳ 1 có tiêu đề: "Đốn rừng phòng hộ làm sân" phản ánh hơn 100ha rừng phòng hộ ở Phú Yên đang bị phá để làm sân golf, khách sạn, resort nhưng đến nay vẫn chưa có hồ sơ xin phép Thủ tướng Chính phủ cho chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định.

Kỳ 2 có tiêu đề: "Xẻ thịt 1.000 ha rừng cho 20 dự án" phản ánh không chỉ có dự án sân golf của New City, Phú Yên dành hơn 1.000ha rừng cho 20 dự án đầu tư khác. Phá rừng nhiều nhất là các dự án nuôi bò, thủy điện, trường đua ngựa và nhà máy lọc dầu.

Thủ tướng Chính phủ giao Thanh tra Chính phủ chủ trì kiểm tra, làm rõ các vấn đề báo Tuổi trẻ nêu tại các bài báo trên, báo cáo kết quả Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/5/2017.

Lập kế hoạch tài chính 5 năm, kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 45/2017/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ngân sách nhà nước về lập kế hoạch tài chính 5 năm và lập kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc lập các kế hoạch này.

Lập kế hoạch tài chính 5 năm

Theo quy định, kế hoạch tài chính 5 năm là kế hoạch tài chính để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia, địa phương trong giai đoạn 5 năm kế hoạch; đưa ra các mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản về tài chính-ngân sách nhà nước trong thời gian 5 năm kế hoạch; giữ vai trò định hướng cho kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm và dự toán ngân sách nhà nước hằng năm.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, cơ quan trung ương có liên quan lập kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định.

UBND cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan có liên quan khác ở địa phương xây dựng kế hoạch tài chính 5 năm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

Nghị định yêu cầu việc lập kế hoạch tài chính 5 năm phải phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đề ra trong Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế-xã hội; các chiến lược về tài chính, nợ công, cải cách hệ thống thuế; mục tiêu, chỉ tiêu, định hướng phát triển kinh tế-xã hội 5 năm kế hoạch của cả nước, địa phương; phù hợp với dự báo tình hình kinh tế-xã hội, khả năng cân đối nguồn thu ngân sách nhà nước, huy động và trả nợ và các yêu cầu giới hạn an toàn tài chính quốc gia trong thời gian 5 năm kế hoạch; phù hợp với các nguyên tắc cân đối, quản lý, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước, nguyên tắc quản lý an toàn nợ công; ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước để thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ cụ thể.

Lập kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm

Kế hoạch tài chính- ngân sách nhà nước 3 năm là kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước được lập hằng năm theo phương thức cuốn chiếu cho thời gian 3 năm, kể từ năm dự toán ngân sách và 2 năm tiếp theo.

Kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm để triển khai kế hoạch tài chính 5 năm, thể hiện những nội dung lớn về khung cân đối ngân sách nhà nước và trần chi ngân sách cho các bộ, cơ quan, đơn vị và địa phương trong thời gian 3 năm, có tính đến diễn biến tình hình kinh tế-xã hội và tài chính-ngân sách hiện tại và cập nhật dự báo trong thời gian 3 năm kế hoạch, làm cơ sở cho việc lập, xem xét, quyết định dự toán ngân sách nhà nước hằng năm.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia báo cáo Chính phủ trình Quốc hội để tham khảo khi thảo luận, xem xét, thông qua dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương hằng năm.

Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp để tham khảo khi thảo luận, xem xét, thông qua dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách địa phương hằng năm.

Các bộ, cơ quan trung ương và các cơ quan, đơn vị dự toán cấp I ở cấp tỉnh lập kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm thuộc phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị mình gửi cơ quan tài chính, kế hoạch và đầu tư cùng cấp để tổng hợp.

Nghị định quy định kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm phải phù hợp với tình hình thực tế thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu, định hướng phát triển kinh tế-xã hội và tài chính 5 năm và hằng năm; dự báo trong thời gian 3 năm kế hoạch; phản ánh đầy đủ các khoản thu ngân sách nhà nước và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; chi ngân sách được lập theo cơ cấu lĩnh vực và các khoản chi lớn, trong phạm vi trần chi ngân sách do cơ quan có thẩm quyền thông báo; đảm bảo các nguyên tắc về cân đối, quản lý, phân cấp ngân sách, quản lý nợ công theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý nợ công...

Giao kế hoạch đầu tư vốn cho 19 dự án giao thông

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định giao Bộ Giao thông vận tải kế hoạch đầu tư vốn trái phiếu Chính phủ và danh mục dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ năm 2017 từ nguồn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2012-2015 và bổ sung giai đoạn 2014-2016.

Theo quyết định, có 19 dự án sử dụng vốn dư từ các dự án mở rộng QL1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên (theo Quyết định số 1977/QĐ-TTg ngày 14/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ) với tổng mức đầu tư là 16.638.035 triệu đồng, trong đó vốn trái phiếu Chính phủ là 11.350.519 triệu đồng (theo Quyết định đầu tư hoặc Quyết định đầu tư điều chỉnh theo quy định tại các Quyết định giao kế hoạch trái phiếu Chính phủ các năm 2012-2016 của Thủ tướng Chính phủ). Kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ năm 2017 là 6.298.832 triệu đồng.

Các dự án trên gồm: Dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn Năm Căn-Đất Mũi, tỉnh Cà Mau; Dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn Chơn Thành-Đức Hòa, thuộc các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh và Long An; Dự án đầu tư xây dựng quốc lộ 12B đoạn Tam Điệp-Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Dự án đầu tư xây dựng công trình tuyến tránh quốc lộ 1 đoạn qua thị xã Quảng Trị (hạng mục cầu Thành Cổ và đường dẫn); Dự án đầu tư xây dựng đường Hồ Chí minh đoạn tuyến tránh đô thị Pleiku, tỉnh Gia Lai; đầu tư xây dựng cầu Bình Ca thuộc đường Hồ Chí Minh...

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư căn cứ tổng số kế hoạch đầu tư vốn trái phiếu Chính phủ năm 2017, danh mục dự án, quyết định giao Bộ Giao thông vận tải chi tiết kế hoạch đầu tư vốn trái phiếu Chính phủ năm 2017 cho từng dự án.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan thanh tra, kiểm toán về tính chính xác của các thông tin, số liệu và mức vốn phân bổ cho các dự án; chủ trì kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư vốn trái phiếu Chính phủ năm 2017 và định kỳ hàng quý báo cáo Chính phủ tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư vốn trái phiếu Chính phủ năm 2017.

Tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách xây dựng nông thôn mới

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

Theo đó, các nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương được phân bổ cho các bộ, ngành Trung ương và địa phương để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 và phải tuân thủ theo quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan.

Bảo đảm quản lý tập trung, thống nhất về mục tiêu, cơ chế, chính sách; thực hiện phân cấp trong quản lý đầu tư theo quy định của pháp luật, tạo quyền chủ động cho bộ, ngành trung ương và các cấp chính quyền địa phương.

Ưu tiên hỗ trợ cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; xã nghèo thuộc các huyện nghèo; xã nghèo thuộc huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng như các huyện nghèo.

Tập trung đầu tư cho các xã mới đạt dưới 05 tiêu chí và các xã đã đạt trên 15 tiêu chí để phấn đấu hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới; chú trọng đầu tư cho các xã chưa hoàn thành các công trình hạ tầng cơ bản (giao thông, điện, trường học, trạm y tế, nước sạch, thủy lợi); hỗ trợ phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường.

Không bố trí vốn ngân sách trung ương cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có điều tiết về ngân sách Trung ương (trừ tỉnh Quảng Ngãi).

Dành khoảng 10% tổng các nguồn vốn ngân sách trung ương của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới để thực hiện các nhiệm vụ như: Thưởng công trình phúc lợi cho các địa phương tiêu biểu, có thành tích xuất sắc trong thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" giai đoạn 2016-2020; hỗ trợ bổ sung 163,34 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển cho một số xã vùng đồng bằng sông Cửu Long thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; triển khai Đề án thí điểm về tổ chức sản xuất tại 7 vùng kinh tế của cả nước; các Đề án xây dựng nông thôn mới ở các vùng đặc thù; các Đề án thí điểm ở cấp trung ương phục vụ xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt;...

Tiêu chí phân bổ

Tiêu chí phân bổ vốn ngân sách Trung ương cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được xác định dựa trên số xã của các địa phương đến năm 2016 với hệ số ưu tiên.

Cụ thể, hệ số ưu tiên theo đối tượng xã, với các xã đặc biệt khó khăn: Các xã dưới 5 tiêu chí hệ số 5; các xã còn lại hệ số 4. Các xã đạt từ 15 tiêu chí trở lên hệ số 1,3. Hệ số 1 được áp dụng với các xã còn lại, không thuộc đối tượng ưu tiên nêu trên (bao gồm cả các xã đã được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, để tiếp tục nâng cao chất lượng các tiêu chí và đạt chuẩn bền vững).

Hệ số ưu tiên theo tỷ lệ nhận hỗ trợ từ ngân sách Trung ương của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Căn cứ dự toán thu, chi ngân sách năm 2014 của từng địa phương) và tỉnh Quảng Ngãi: Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tỉ lệ nhận hỗ trợ từ ngân sách Trung ương dưới 50% và tỉnh Quảng Ngãi hệ số 1; các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có tỷ lệ nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương từ 50% trở lên hệ số 1,2.

Định mức phân bổ

Quyết định cũng quy định định mức phân bổ vốn cho các bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Cụ thể, căn cứ vào tổng mức vốn ngân sách trung ương của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được cấp có thẩm quyền giao; trên cơ sở phối hợp với các cơ quan chủ trì nội dung thành phần Chương trình và các cơ quan liên quan, căn cứ báo cáo của các địa phương, dựa trên các tiêu chí phân bổ nêu trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì dự kiến mục tiêu, nhiệm vụ, xác định định mức và xây dựng phương án phân bổ vốn ngân sách trung ương hỗ trợ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện Chương trình, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp.

Căn cứ các nhiệm vụ được quy định, các bộ, ngành trung ương và địa phương đề xuất phương án phân bổ cụ thể vốn thực hiện các nhiệm vụ được giao gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ.

Căn cứ kế hoạch vốn được hỗ trợ từ ngân sách trung ương được cấp có thẩm quyền thông báo và điều kiện thực tế của từng địa phương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ, phương án phân bổ vốn để thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.

Tạo môi trường sống an toàn cho trẻ em

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020 với mục tiêu tạo môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh cho trẻ em; giảm tỷ lệ gia tăng số trẻ em bị xâm hại...

Chương trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020 được thực hiện với tổng kinh phí là 10.266 tỷ đồng gồm 4 dự án: 1- Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội đối với các đối tượng yếu thế; 2- Phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em; 3- Hỗ trợ thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; 4- Phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ người cai nghiện ma túy, người bán dâm và nạn nhân bị mua bán.

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội là đơn vị chủ trì tổ chức triển khai thực hiện Chương trình.

Giảm tỉ lệ gia tăng số trẻ em bị xâm hại

Mục tiêu của Chương trình nhằm phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp xã hội cho đối tượng yếu thế theo hướng hội nhập quốc tế; tạo môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh cho trẻ em; giảm khoảng cách giới trong những lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao; nâng cao chất lượng, hiệu quả cai nghiện ma túy, tuyên truyền phòng, chống mại dâm, hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trở về, góp phần đảm bảo an sinh trật tự và an toàn xã hội, hướng tới mục tiêu công bằng và phát triển kinh tế-xã hội bền vững.

Chương trình phấn đấu đến năm 2020 nâng tỉ lệ cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập lên 55%; tăng tỉ lệ người có hoàn cảnh khó khăn được tư vấn, hỗ trợ và quản lý ca từ các cơ sở trợ giúp xã hội lên 30%; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng cho 30% số cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội.

80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển; giảm tỉ lệ gia tăng số trẻ em bị xâm hại; có kế hoạch hỗ trợ, can thiệp 90% trẻ em có nguy cơ cao bị xâm hại, trẻ em bị xâm hại; 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được quản lý, theo dõi.

Chương trình phấn đấu ít nhất 70% nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV, nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, nữ cán bộ quản lý, lãnh đạo và 50% nữ cán bộ trong diện quy hoạch được trang bị kiến thức về bình đẳng giới, kỹ năng quản lý, lãnh đạo và các kỹ năng mềm; 50% nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ hỗ trợ; 50% số người gây bạo lực hoặc có nguy cơ gây bạo lực được phát hiện, tư vấn.

90% người nghiện ma túy có quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; 90% xã, phường được tuyên truyền về phòng, chống tệ nạn mại dâm; 90% số nạn nhân bị mua bán được phát hiện, được tư vấn, hỗ trợ và chăm sóc.

Sửa đổi quy chế hoạt động BCĐ 389 quốc gia

Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình - Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia) vừa ký Quyết định sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo này.

Theo Quyết định, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo gồm: Ông Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính (thường trực); ông Trần Tuấn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương; ông Lê Quý Vương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an; ông Lê Chiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ủy viên Ban Chỉ đạo là lãnh đạo một số cơ quan liên quan.

Ban Chỉ đạo 389 quốc gia hoạt động thường xuyên thông qua hoạt động của các Thành viên và của Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia; trên cơ sở phân công nhiệm vụ rõ ràng, đề cao trách nhiệm cá nhân của Trưởng Ban, các Phó Trưởng Ban và các Ủy viên.

Các Thành viên Ban Chỉ đạo 389 quốc gia chịu trách nhiệm trước Trưởng Ban về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả thuộc lĩnh vực của Bộ, ngành mình và các nhiệm vụ được Trưởng Ban phân công.

Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia sử dụng con dấu của Thủ tướng Chính phủ; các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia sử dụng con dấu của Bộ mình; Văn phòng Thường trực sử dụng con dấu riêng.

Ban Chỉ đạo 389 các Bộ, ngành sử dụng con dấu của Bộ, ngành mình; Trưởng Ban Chỉ đạo 389 tỉnh (thành phố) sử dụng con dấu của UBND tỉnh (thành phố); các Phó Trưởng ban Chỉ đạo 389 tỉnh (thành phố) sử dụng con dấu của sở, ngành mình.

Bộ Tài chính là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị chức năng của bộ phối hợp với Văn phòng Thường trực nghiên cứu, đề xuất xây dựng cơ chế, chính sách liên quan đến công tác của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, đồng thời bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia và Văn phòng Thường trực.

Công khai việc kỷ luật cán bộ liên quan đến khiếu nại đất đai

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình vừa có ý kiến chỉ đạo về việc xử lý trách nhiệm đối với cán bộ liên quan đến việc giải quyết khiếu nại của bà Đàm Thị Lích (tỉnh Lâm Đồng).

Xét báo cáo của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Thi hành kỷ luật bằng hình thức triển trách đối với ông Lê Công Tuấn, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Đức Trọng do có những vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại của bà Đàm Thị Lích, tạo dư luận không tốt ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng và chính quyền địa phương, Phó Thủ tướng có ý kiến: Việc Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng thi hành kỷ luật bằng hình thức triển trách đối với ông Lê Công Tuấn là cần thiết và phù hợp quy định của pháp luật.

Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Lâm Đồng thông báo công khai hình thức kỷ luật đối với ông Lê Công Tuấn trên các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao tinh thần trách nhiệm và hạn chế những vi phạm của cán bộ, công chức trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, giải quyết khiếu nại của công dân.

Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa DNNN

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa ký văn bản 588/TTg-ĐMDN yêu cầu các bộ, UBND cấp tỉnh, Hội đồng thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đẩy nhanh tiến độ triển khai công tác sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý.

Căn cứ tình hình triển khai các công việc liên quan đến công tác sắp xếp, cổ phần hóa, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước thời gian qua, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu các bộ, UBND cấp tỉnh, Hội đồng thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước căn cứ Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28/12/2016 về tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước và Danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016-2020, chủ động, đẩy nhanh tiến độ triển khai công tác sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện của cả giai đoạn 2017-2020, bảo đảm hiệu quả và không để thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước.

Đồng thời triển khai thực hiện quyết liệt, nghiêm túc, đúng hạn các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg và Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 02/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020, trong đó, sớm hoàn thành các nhiệm vụ được giao thực hiện trong quý II/2017.

Bên cạnh đó chỉ đạo người đại diện phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần do mình quản lý yêu cầu doanh nghiệp khẩn trương thực hiện đăng ký giao dịch, niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán khi đủ điều kiện trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 02/02/2017 về đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020.

Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, UBND cấp tỉnh, Hội đồng thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước tích cực triển khai phương án sắp xếp nông, lâm trường theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và quy định tại Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp và pháp luật có liên quan. Yêu cầu các cơ quan, đơn vị chưa trình phương án sắp xếp công ty nông, lâm nghiệp khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để làm cơ sở triển khai thực hiện.

Tăng cường quản lý, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nguồn lực thu được từ cổ phần hóa và bán vốn nhà nước; đẩy nhanh việc thoái vốn tại những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ, bảo đảm công khai, minh bạch, theo đúng quy định của pháp luật nhằm tối đa hóa lợi ích Nhà nước, thay đổi quản trị, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp, góp phần vào tăng trưởng GDP và phát triển kinh tế-xã hội.

Khẩn trương xây dựng danh mục DNNN thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa (giai đoạn 2017-2020)

Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28/12/2016, khẩn trương xây dựng danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa theo từng năm (giai đoạn 2017 - 2020), trong đó có lộ trình xác định giá trị doanh nghiệp cho từng doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong tháng 4 và quý II/2017 theo đúng quy định tại Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 02/02/2017.

Các Bộ: Quốc phòng, Công an, Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương xây dựng Phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Công ty mua bán nợ Việt Nam, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định theo đúng Khoản 2, Điều 3 Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28/12/2016.

Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ  tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập, danh mục đơn vị sự nghiệp công lập của các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chuyển thành công ty cổ phần; danh mục doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn giai đoạn 2017-2020.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tài chính, Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan liên quan rà soát, đề xuất, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật trong việc thực hiện nghĩa vụ chuyển giao không bồi hoàn của các nhà đầu tư trong các hợp đồng liên doanh, hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp Việt Nam, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10/5/2017.

Triển khai Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương nghiêm túc thực hiện các hoạt động được quy định tại Quyết định số 1803/QĐ-TTg ngày 18/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Đặc biệt là những hoạt động triển khai thực hiện chậm so với kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030; củng cố, kiện toàn bộ máy làm công tác thống kê tại các Bộ, ngành ở trung ương và sở, ngành ở địa phương; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thống kê cho người làm thống kê của bộ, ngành, địa phương để bảo đảm thực hiện có hiệu quả công tác thống kê.

Về kinh phí hoạt động hàng năm và kinh phí đầu tư xây dựng, cải tạo mở rộng trụ sở làm việc, đầu tư mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc cho các đơn vị trong hệ thống thống kê tập trung, Phó Thủ tướng yêu cầu căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện đúng theo quy định của Luật ngân sách và các quy định của pháp luật liên quan.

Chấn chỉnh hoạt động kinh doanh tour 0 đồng

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa có ý kiến chỉ đạo về việc chấn chỉnh hoạt động kinh doanh lữ hành đón khách du lịch Trung Quốc, hoạt động kinh doanh chương trình du lịch giá rẻ (tour 0 đồng).

Phó Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 263/TB-VPCP ngày 30/8/2016; tăng cường chỉ đạo Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các sở, ban, ngành liên quan triển khai đồng bộ công tác quản lý kinh doanh lữ hành, đặc biệt là hoạt động lữ hành đón khách du lịch Trung Quốc bằng đường bộ qua các cửa khẩu quốc tế, các hoạt động bán hàng, bán tour ngoài chương trình cho khách du lịch; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong cả nước thực hiện công tác quản lý ngoại hối; trong đó tập trung vào việc thanh toán, chuyển tiền của các doanh nghiệp lữ hành đối với đối tác nước ngoài, việc thanh toán bằng ngoại tệ tại các điểm dịch vụ, điểm mua sắm... phục vụ khách du lịch; công tác rà soát chống thất thu thuế từ hoạt động kinh doanh du lịch và các quy định về quản lý, sử dụng hóa đơn tài chính.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch rà soát, chấn chỉnh công tác cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch sử dụng các ngoại ngữ ít thông dụng; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan đánh giá thực trạng hoạt động lữ hành đón khách qua các cửa khẩu đường bộ, đề xuất giải pháp tổng thể triển khai trong thời gian tới, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý III/2017./.