• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

03/01/2022 10:34
Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 127/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 04/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.

Cụ thể, Nghị định 127 quy định: Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực giáo dục đối với cá nhân là 75 triệu đồng (thay cho mức 50 triệu đồng quy định tại Nghị định 04), đối với tổ chức là 150 triệu đồng (thay cho mức 100 triệu đồng quy định tại Nghị định 04).

Nghị định 127 cũng sửa đổi quy định đối với vi phạm về liên kết tổ chức thi cấp chứng chỉ năng lực ngoại ngữ của nước ngoài. Theo đó, phạt tiền từ 80 triệu đồng đến 110 triệu đồng (thay cho mức 100 triệu đồng) đối với hành vi cấp chứng chỉ khi chưa có quyết định của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thực hiện liên kết tổ chức thi cấp chứng chỉ năng lực ngoại ngữ của nước ngoài.

Đồng thời, Nghị định 127 bổ sung quy định: Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.

Nhiều tổ chức hoặc cá nhân cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi tổ chức hoặc cá nhân vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục là 1 năm.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2022.

Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục xảy ra trước thời điểm Nghị định 127 có hiệu lực thi hành mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng quy định của Nghị định số 04/2021/NĐ-CP ngày 22/01/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục để xử lý trừ trường hợp Nghị định 127 không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày Nghị định 127 có hiệu lực thì áp dụng quy định tại Nghị định 127.

Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Nghị định 127 có hiệu lực thi hành, mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính có khiếu nại thì áp dụng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 04/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục và các quy định pháp luật có liên quan để giải quyết.

Hỗ trợ kinh phí thực hiện chính sách phát triển thủy sản

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đã ký Quyết định 2264/QĐ-TTg về việc hỗ trợ kinh phí thực hiện chính sách phát triển thủy sản.

Theo Quyết định, bổ sung có mục tiêu số tiền 102.064 triệu đồng từ nguồn kinh phí thực hiện chính sách phát triển thủy sản đã được Quốc hội cho phép sử dụng đến hết niên độ ngân sách năm 2021 tại Nghị quyết số 128/2020/QH14 ngày 12/11/2020 của Quốc hội về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2021 cho 12 địa phương để thực hiện chính sách phát triển thủy sản từ năm 2017 đến năm 2020.

Cụ thể như sau: Nam Định 331 triệu đồng, Ninh Bình 1.129 triệu đồng, Thái Bình 1.677 triệu đồng, Thanh Hóa 3.749 triệu đồng, Nghệ An 1.931 triệu đồng, Hà Tĩnh 14.510 triệu đồng, Quảng Bình 11.896 triệu đồng, Quảng Trị 2.071 triệu đồng, Thừa Thiên Huế 12.594 triệu đồng, Quảng Ngãi 1.546 triệu đồng, Bình Định 2.652 triệu đồng, Kiên Giang 47.978 triệu đồng.

Việc quản lý, sử dụng, thanh quyết toán số kinh phí được bổ sung bảo đảm đúng quy định, đúng chế  độ, đúng đối tượng, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch.

Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân các tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về tính đầy đủ, chính xác của nội dung và số liệu báo cáo.

Phấn đấu hoàn thành cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc trong năm 2025

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 01/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành tại buổi làm việc về Dự án xây dựng đường bộ Tân Phú (Đồng Nai)-Bảo Lộc (Lâm Đồng) theo phương thức đối tác công tư.

Phó Thủ tướng đánh giá cao tỉnh Lâm Đồng, trong bối cảnh ngân sách của địa phương còn hạn hẹp nhưng đã rất chủ động, chung tay, góp sức cùng Trung ương triển khai đầu tư đường cao tốc tại địa phương, nhằm sớm hoàn thành hệ thống giao thông kết nối khu vực Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội.

Đến nay, tỉnh Lâm Đồng đã đề xuất và được Thủ tướng Chính phủ giao là cơ quan có thẩm quyền triển khai dự án đoạn Tân Phú-Bảo Lộc và đoạn Bảo Lộc-Liên Khương với tổng chiều dài 140 km. Để sớm hoàn thành các thủ tục chuẩn bị đầu tư, khởi công các dự án, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng khẩn trương rà soát, hoàn thiện hồ sơ chuyển mục đích sử dụng rừng đoạn Dầu Giây-Tân Phú và đoạn Tân Phú-Bảo Lộc, gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước ngày 10/1/2022. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm tổ chức thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 1 năm 2022.

Bộ Giao thông vận tải, UBND tỉnh Lâm Đồng chỉ  đạo các cơ quan, đơn vị phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong quá trình hoàn thiện hồ sơ và thẩm định chuyển mục đích sử dụng rừng của các dự  án.

Phó Thủ tướng cũng giao UBND tỉnh Lâm Đồng khẩn trương thực hiện các thủ tục theo quy định, phấn đấu khởi công đoạn Tân Phú-Bảo Lộc trong tháng 10 năm 2022 và hoàn thành trong năm 2025.

Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm triển khai đầu tư xây dựng đoạn Dầu Giây-Tân Phú đồng bộ với đoạn Tân Phú-Bảo Lộc.

Các bộ, ngành, cơ quan liên quan hỗ trợ tối đa UBND tỉnh Lâm Đồng và UBND tỉnh Đồng Nai thực hiện đầy đủ, nhanh chóng các thủ tục quy định pháp luật trong quá triển khai thực hiện các Dự án nhằm bảo đảm tiến độ, chất lượng.

Thành lập Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh

Phó Thủ tướng Lê Văn Thành ký Quyết định số 2263/QĐ-TTg thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh.

Cụ thể, thành lập Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh.

Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh được xây dựng tại xã Hồng Thái Tây, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh với tổng diện tích tự nhiên toàn khu là 106 ha.

Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh là khu thực hiện các hoạt động ứng dụng thành tựu nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, trình diễn mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao chủ yếu trong lĩnh vực: Trồng trọt, bảo quản chế biến nông sản (rau, cây ăn quả, hoa cây cảnh), sản xuất chế phẩm sinh học, thuốc điều hòa sinh trưởng cho cây trồng..., đào tạo tiếp nhận chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp của tỉnh, vùng và cả nước.

Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh có các nhiệm vụ chủ yếu như: Thực hiện các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, trình diễn mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho tỉnh, vùng và cả nước; liên kết các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất sản phẩm ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp; tham gia đào tạo nhân lực công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp cho tỉnh, vùng và cả nước…

Các dự án đầu tư vào Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để thực hiện việc nghiên cứu ứng dụng, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao trong nông nghiệp được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định hiện hành.

Phó Thủ tướng giao UBND tỉnh Quảng Ninh cập nhật tên và nhu cầu sử dụng đất của Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh vào quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, kế hoạch sử dụng đất tỉnh 5 năm (2021-2025) và quy hoạch, kế hoạch có liên quan theo đúng quy định của pháp luật về đất đai và quy hoạch; quản lý và sử dụng đất đai theo đúng quy định của pháp luật.

Đồng thời, UBND tỉnh quyết định tổ chức quản lý khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh, bảo đảm nguyên tắc tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, không tăng đầu mối quản lý và phát sinh biên chế, đúng quy định của pháp luật.

Ban hành cơ chế, chính sách thu hút đầu tư và phát triển Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật; chỉ đạo việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh theo đúng quy định của pháp luật và kế thừa các quy hoạch phân khu chức năng đã được UBND tỉnh phê duyệt trước đây bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.

Chủ trương điều chỉnh Dự án xây dựng tuyến đường bộ ven biển tỉnh Thái Bình

Phó Thủ tướng Lê Văn Thành vừa có ý kiến đối với đề nghị của UBND tỉnh Thái Bình về việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường bộ ven biển tỉnh Thái Bình (Dự án).

Theo đó, Phó Thủ tướng đã giao Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định để UBND tỉnh Thái Bình hoàn chỉnh báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự  án trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo đúng quy định của Luật Đầu tư công và quy định pháp luật có liên quan.

Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2030

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa ký Quyết định số 2239/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Theo đó, mục tiêu đặt ra là phát triển nhanh giáo dục nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường lao động, của người dân và yêu cầu ngày càng cao về số lượng, cơ cấu, chất lượng nhân lực có kỹ năng nghề cho phát triển đất nước trong từng giai đoạn.

Cụ thể, đến năm 2025, phấn đấu bảo đảm quy mô, cơ cấu ngành, nghề đào tạo cho phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội đất nước; chất lượng đào tạo của một số trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4, trong đó một số nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới; góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 30%.

Một số chỉ tiêu chủ yếu như sau: Thu hút 40-45% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp; học sinh, sinh viên nữ đạt trên 30% trong tổng chỉ tiêu tuyển sinh mới. Tỷ lệ lao động có các kỹ năng công nghệ thông tin đạt 80%. Phấn đấu có khoảng 70 trường chất lượng cao; khoảng 150 ngành, nghề trọng điểm, trong đó 5-10 ngành, nghề có năng lực cạnh tranh vượt trội trong các nước ASEAN-4.

Đến năm 2030, mục tiêu là tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề cho quốc gia đang phát triển, có công nghiệp hiện đại; chủ động tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế; một số trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4, trong đó một số nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20; góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%. Tỷ lệ lao động có các kỹ năng công nghệ thông tin đạt 90%.

8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

Để đạt được các mục tiêu chiến lược, Quyết định nêu rõ 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó “Đẩy nhanh chuyển đổi số, hiện đại hóa cơ sở vật chất thiết bị và đổi mới chương trình, phương thức đào tạo” và “Phát triển đội ngũ nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề và cán bộ quản lý trong giáo dục nghề nghiệp” là giải pháp đột phá. Cụ thể:

1. Hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về giáo dục nghề nghiệp.

2. Đẩy nhanh chuyển đổi số, hiện đại hóa cơ sở vật chất thiết bị và đổi mới chương trình, phương thức đào tạo.

3. Phát triển đội ngũ nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề và cán bộ quản lý trong giáo dục nghề nghiệp.

4. Gắn kết chặt chẽ giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và thị trường lao động.

5. Nghiên cứu ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ; hướng nghiệp, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.

6. Tăng cường huy động và nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục nghề nghiệp.

7. Truyền thông, nâng cao hình ảnh, thương hiệu và giá trị xã hội của giáo dục nghề nghiệp.

8. Chủ động và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về giáo dục nghề nghiệp.

Chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa ký Quyết định số 2222/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

Chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp nhằm triển khai các hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên môi trường số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, hoạt động dạy học, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá giúp tăng cường hiệu quả công tác quản lý và mở rộng phương thức cũng như cơ hội tiếp cận giáo dục nghề nghiệp tạo đột phá về chất lượng, tăng nhanh số lượng đào tạo góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Về phát triển năng lực số cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp, Chương trình phấn đấu đến năm 2030 đạt 100% nhà giáo và cán bộ quản lý được đào tạo bổ sung nâng cao năng lực số, kỹ năng, phương pháp sư phạm phù hợp để triển khai đào tạo trên môi trường số; 100% nhà giáo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đào tạo phát triển học liệu số.

Đến năm 2030, phấn đấu 100% chuẩn đầu ra chương trình đào tạo của các trình độ được tích hợp năng lực số, có nội dung đào tạo phù hợp với phương thức chuyển đổi số; phấn đấu 100% chương trình đào tạo chuyên ngành công nghệ thông tin, công nghệ số được cập nhật phù hợp với ứng dụng khoa học công nghệ mới.

Hình thành nền tảng số giáo dục nghề nghiệp quốc gia

Chương trình đặt mục tiêu hình thành nền tảng số giáo dục nghề nghiệp quốc gia và kho học liệu, tài nguyên số dùng chung phục vụ cho hoạt động dạy và học vào năm 2025.

Đến năm 2030, phấn đấu 100% trường cao đẳng, trường trung cấp có hạ tầng số, nền tảng số để kết nối, khai thác với nền tảng số giáo dục nghề nghiệp quốc gia.

Phấn đấu 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được tích hợp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia và tích hợp vào cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin điện tử của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội vào năm 2023.

Phấn đấu 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030 số hóa quá trình học tập, kết quả học tập, văn bằng giáo dục nghề nghiệp của người học và kết nối, tích hợp dữ liệu lên môi trường số.

100% các trường chất lượng cao là trường học số

Mục tiêu khác của Chương trình là hình thành bản đồ số mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp vào năm 2025 và liên kết bản đồ số mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các hệ thống chứng thực và tra cứu thông tin giáo dục nghề nghiệp vào năm 2030.

Phấn đấu 100% các trường chất lượng cao là trường học số vào năm 2030.

Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của Chương trình đưa ra là xây dựng hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách phục vụ chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; phát triển chương trình, nội dung đào tạo các cấp trình độ giáo dục nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi số trong nền kinh tế và hội nhập quốc tế; phát triển hạ tầng, nền tảng, thiết bị và học liệu số.

Song song với đó là phát triển năng lực số cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp và đổi mới phương pháp dạy và học; chuyển đổi số hoạt động quản lý Nhà nước và quản trị nhà trường; huy động nguồn lực cho quá trình chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp; nâng cao nhận thức và hợp tác quốc tế; bảo đảm an toàn, an ninh mạng.

Lùi thời điểm thanh toán thuốc chống lao sử dụng nguồn quỹ bảo hiểm y tế

Văn phòng Chính phủ đã ban hành Công văn 9662/VPCP-KGVX truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chấm dứt bệnh lao, đồng ý điều chỉnh lùi thời điểm thanh toán thuốc chống lao sử dụng nguồn quỹ bảo hiểm y tế tới ngày 1/7/2022.

Bộ Y tế tiếp tục sử dụng lượng thuốc chống lao được mua từ nguồn ngân sách Nhà nước năm 2021 để bảo đảm cung cấp thuốc lao cho các nhóm đối tượng: (1) Người bệnh lao phát hiện trên toàn quốc được đề xuất sử dụng thuốc chống lao tới hết tháng 6/2022; (2) Người bệnh lao không có thẻ bảo hiểm y tế, người bệnh lao điều trị tại các cơ sở y tế chưa đủ điều kiện thanh toán bảo hiểm y tế được sử dụng thuốc chống lao tới hết 31/12/2022.

Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính cân đối, bổ sung kinh phí mua thuốc lao để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả./.