Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện một cách thực chất nhất
(Chinhphu.vn) - Chiều nay (21/10), Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI tiếp tục làm việc với các phiên thảo luận tại Tổ về các dự án Luật, trong đó có Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi).
Trước đó, sáng cùng ngày, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải đã trình bày Tờ trình về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi). Bộ trưởng Nguyễn Tiến Hải nêu rõ mục đích, quan điểm xây dựng dự án luật này là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, quán triệt và thể chế hóa đầy đủ các yêu cầu, nhiệm vụ giải pháp tại Chỉ thị 09 ngày 20/07/2026 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn mới. Gắn việc thực hiện dân chủ ở cơ sở với công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội chủ nghĩa, chính quyền địa phương hai cấp.
Về phạm vi điều chỉnh, Dự thảo Luật quy định về nội dung, cách thức thực hiện dân chủ ở cơ sở, quyền và nghĩa vụ của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức cá nhân trong việc bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở, giữ nguyên phạm vi điều chỉnh của luật hiện hành.
Dự thảo luật gồm 6 chương, 65 điều, giảm 26 điều so với luật hiện hành, gồm các nội dung trọng tâm như: Bổ sung các quy định mới và sửa đổi bổ sung các quy định hiện hành nhằm bảo đảm việc thực hiện dân chủ ở cơ sở gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và pháp quyền; bổ sung nguyên tắc bảo đảm cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện dân chủ ở cơ sở; bổ sung biện pháp bảo đảm thực hiện, ban hành bộ tiêu chí, đánh giá việc thực hiện dân chủ ở cơ sở của cơ quan hành chính và chính quyền các cấp, việc thực hiện dân chủ trên nền tảng số nhằm mở rộng đa dạng hóa các hình thức thực hiện dân chủ phù hợp với tiến trình chuyển đổi số quốc gia và hoàn thiện cơ chế kiểm tra giám sát thực hiện dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện cơ chế kiểm tra giám sát việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trực tiếp và gián tiếp thông qua Ban Thanh tra nhân dân, đồng thời, không quy định thiết chế Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị không có tổ chức công đoàn cho phù hợp với tình hình thực tiễn và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; bổ sung quy định nội dung quản lý nhà nước về thực hiện dân chủ ở cơ sở, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, các cơ quan và chính quyền địa phương.
Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm thể chế hóa Chỉ thị 09 ngày 20/07/2026 của Bộ Chính trị, đáp ứng yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, xây dựng luật pháp, bảo đảm nguyên tắc ngắn gọn, đồng bộ, đúng thẩm quyền của Quốc hội, giao Chính phủ, bộ, ngành, địa phương quy định những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động để bảo đảm linh hoạt, khả thi, phù hợp với thực tiễn và thống nhất, đồng bộ với các quy định pháp luật có liên quan như: Luật Tiếp cận thông tin, Luật Dữ liệu, Bộ luật Lao động, Luật An ninh dữ liệu, Luật Đầu tư công, Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, pháp luật về thanh tra. Tiếp tục kế thừa những nội dung còn nguyên giá trị của luật hiện hành như: Về kết cấu, quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân; nội dung nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bàn và quyết định, trách nhiệm bảo đảm để Nhân dân tham gia bàn và quyết định; kiểm tra, giám sát thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước, tổ chức có sử dụng lao động.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) góp ý kiến tại thảo luận Tổ - Ảnh: chinhphu.vn/Diệp Anh
Thảo luận tại tổ dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) cho rằng, dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) trình Quốc hội lần này nhằm đáp ứng yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và sắp xếp tổ chức bộ máy, chuyển đổi số, dự thảo đã có những bổ sung rất tích cực về quyền được phản hồi của công dân, về trách nhiệm giải trình của cơ quan có thẩm quyền và các phương thức thực hiện dân chủ ở cơ sở trên nền tảng số. Đại biểu đã góp ý vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện một cách thực chất.
Thứ nhất, theo đại biểu Việt Nga, cần hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được phản hồi của người dân gắn với trách nhiệm theo dõi kiến nghị đến khi có kết quả giải quyết. Khoản 2 Điều 5 của Dự thảo ghi nhận quyền của công dân được phản hồi về việc tiếp nhận, xử lý, tiếp thu, giải trình ý kiến, kiến nghị, đề xuất. Khoản 3 Điều 7 quy định trách nhiệm phản hồi, thông báo kết quả tiếp thu, giải trình và quá trình giải quyết. Đại biểu đánh giá đây là những bổ sung vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, để thực hiện được quyền này thì cần xác định rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm phản hồi vào thời điểm nào và người dân có thể đề nghị ai xem xét khi không nhận được phản hồi.
Một kiến nghị của người dân có thể liên quan đồng thời đến đất đai, xây dựng, môi trường và cung cấp dịch vụ công. Sau sắp xếp tổ chức bộ máy, phạm vi quản lý và nhiệm vụ của chính quyền cấp xã đã có nhiều thay đổi. Nếu như chỉ quy định trách nhiệm chung, có thể xảy ra tình trạng mỗi cơ quan trả lời một phần, chuyển đến nhiều nơi nhưng lại không có đầu mối để tổng hợp kết quả. Đối với người dân, thông báo đã chuyển cơ quan có thẩm quyền là một bước cần thiết nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu được biết kiến nghị của họ đang được xử lý như thế nào, cơ quan nào chịu trách nhiệm và khi nào họ có kết quả trả lời.
Đại biểu Việt Nga đề nghị dự thảo xác lập rõ trách nhiệm trong từng khâu tiếp nhận, phân loại, chuyển đúng thẩm quyền, thông báo cho người kiến nghị và theo dõi kết quả. Đối với vấn đề liên quan đến nhiều cơ quan thì phải xác định đầu mối chủ trì, trách nhiệm phối hợp và trách nhiệm thông tin kết quả đến người dân.
Đại biểu Việt Nga đánh giá, trong báo cáo tiếp thu giải trình, Chính phủ đã thể hiện hướng xử lý khá cụ thể đối với kiến nghị không thuộc thẩm quyền, trong đó có việc chuyển hồ sơ và thông báo cho công dân. Đại biểu đề nghị tiếp tục thể hiện đầy đủ tinh thần, định hướng này trong các điều khoản của dự thảo để thuận lợi hơn khi áp dụng; phân định rõ kiến nghị phản ánh thông thường với khiếu nại, tố cáo. Những nội dung đã có trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết theo luật khác thì thực hiện theo những quy định tương ứng. Với kiến nghị, phản ánh về thực hiện dân chủ ở cơ sở thì cần có cơ chế đủ rõ, tránh tình trạng dẫn chiếu chung chung nhưng lại khó xác định trách nhiệm.
Về phân định giữa luật và nghị định, đại biểu nhất trí việc giao Chính phủ hướng dẫn quy trình phối hợp, cách thức theo dõi và ứng dụng nền tảng số. Tuy nhiên, quyền được phản hồi, trách nhiệm của đầu mối tiếp nhận, nguyên tắc chuyển xử lý và cơ chế yêu cầu xem xét khi chậm hoặc không phản hồi theo đại biểu cần được xác lập ở trong luật. Nền tảng số có thể giúp người dân theo dõi tiến độ thuận lợi hơn nhưng phải duy trì phương thức thông báo phù hợp với những đối tượng như người cao tuổi, người khuyết tật và người chưa có điều kiện sử dụng công nghệ.
Vấn đề thứ hai đại biểu Việt Nga đề xuất là cần làm rõ quy định về trách nhiệm giải trình khi quyết định khác với ý kiến của trên 50% nhân dân có ý kiến, đồng thời đảm bảo việc xem xét những ý kiến thiểu số có căn cứ.
Điểm đ Khoản 1 của Điều 19 đã bổ sung trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền quyết định trong việc nghiên cứu, tiếp thu, giải trình và công khai kết quả tham gia ý kiến của nhân dân. Quy định này khắc phục việc cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhưng trách nhiệm phản hồi của cơ quan quyết định ở cấp trên chưa được xác định đầy đủ. Tuy nhiên, cách diễn đạt "trên 50% nhân dân có ý kiến" theo đại biểu cần tiếp tục được làm rõ.
Bên cạnh vấn đề cách tính đại biểu đề nghị làm rõ ý nghĩa pháp lý của ngưỡng trên 50%. Nếu giữ quy định này cần đảm bảo không dẫn đến cách hiểu rằng chỉ khi ý kiến không được tiếp thu chiếm trên 50% thì cơ quan quyết định mới phải giải trình. Ý kiến thiểu số mà có căn cứ pháp lý hoặc là chỉ ra được nguy cơ ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp thì vẫn phải được xem xét và giải trình một cách phù hợp. Ví dụ, phần lớn người dân đồng ý với một phương án xây dựng công trình công cộng, nhưng một số hộ phản ánh phương án đó có thể làm mất lối tiếp cận nhà ở hoặc ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt, thì những phản ánh này cần được đánh giá trên cơ sở pháp luật, trên mức độ tác động và khả năng khắc phục.
Do đó, đại biểu đề nghị quy định nghĩa vụ nghiên cứu, tiếp thu, giải trình đối với các nhóm ý kiến được tổng hợp. Trường hợp quyết định khác với ý kiến của đa số thì cần giải trình cụ thể hơn về căn cứ pháp lý, cơ sở thực tiễn và phương án đảm bảo quyền lợi của người chịu tác động. Đồng thời, kết quả lấy ý kiến cần được công khai phạm vi đối tượng, số chủ thể tham gia, cơ cấu ý kiến và nội dung tiếp thu, không tiếp thu. Người dân phải có điều kiện kiểm tra xem ý kiến của mình đã được ghi nhận, phản ánh chính xác hay chưa.
Thứ ba là khi thay đổi mô hình tổ chức Ban Thanh tra nhân dân, cần quy định rõ cơ chế bảo đảm quyền giám sát tại những nơi không có tổ chức công đoàn.
Dự thảo thiết kế Ban Thanh tra nhân dân ở đơn vị có tổ chức công đoàn, đồng thời khoản 3 Điều 65 quy định Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị không có công đoàn chấm dứt hoạt động khi luật có hiệu lực. Theo đại biểu, yêu cầu bảo đảm sự đồng bộ với việc sắp xếp tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, khi một thiết chế giám sát chấm dứt hoạt động, cần làm rõ quyền giám sát được tiếp tục thực hiện bằng cơ chế nào và hiệu quả được bảo đảm ra sao…

Đại biểu Trần Lan Phương (đoàn Hải Phòng) góp ý đối với dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) - Ảnh: chinhphu.vn/Diệp Anh
Tham gia góp ý đối với dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu Trần Lan Phương (đoàn Hải Phòng) bày tỏ tán thành sự cần thiết ban hành dự thảo luật nhằm tiếp tục thể chế hóa việc sắp xếp tổ chức bộ máy ở các cấp, trách nhiệm và tính minh bạch. Đồng thời dự thảo luật cũng đặt ra yêu cầu không hành chính hóa, phong trào hóa, hình thức hóa việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và bảo đảm quyền lợi của người dân không bị cản trở khi thay đổi mô hình quản lý.
Đại biểu dẫn chứng các điều khoản phân biệt hiệu lực quyết định cộng đồng với tính tự nguyện của việc đóng góp. Theo điểm a, d khoản 1 Điều 13, cộng đồng bàn và quyết định chủ trương, mức đóng góp xây dựng công trình, việc thu-chi và quản lý các khoản đóng góp ngoài các khoản do pháp luật quy định. Khoản 2 Điều 15 quy định tỉ lệ 2/3 tổng số đại diện hộ gia đình tán thành. Khoản 3 Điều 15 quy định thời điểm quyết định có hiệu lực. Trong khi đó, khoản 2 Điều 6 yêu cầu công dân chấp hành quyết định của cộng đồng dân cư.
Theo đại biểu, đặt các điều khoản cạnh nhau cho thấy nguy cơ hiểu quyết định về mức đóng góp có hiệu lực đồng nghĩa từng hộ đều có nghĩa vụ phải nộp. Trong thực tiễn, cộng đồng có thể cần huy động nguồn lực để sửa đường, thắp đèn chiếu sáng hay tạo nhà sinh hoạt cộng đồng… Việc cộng đồng thống nhất chủ trương là cần thiết để tổ chức công việc chung. Tuy nhiên, theo đại biểu, một hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ không sử dụng công trình ở mức độ tương tự, hoặc hộ có ý kiến khác vẫn có quyền lựa chọn không tham gia đóng góp tự nguyện; và không thể bị coi là vi phạm nghĩa vụ chỉ vì không đóng theo mức được biểu quyết. Nếu thiếu ranh giới pháp lý, người tổ chức thực hiện dễ chịu sức ép phải thu đủ theo nghị quyết, còn người dân thì khó phân biệt được vận động xã hội với các khoản thu bắt buộc.
Việc quy định tỉ lệ là cần thiết để bảo đảm quyết định có sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng, tránh áp đặt của số ít nhân danh cộng đồng, hay hạ thấp giá trị của biểu quyết đa số. Ngược lại, cần bảo vệ uy tín của quyết định cộng đồng bằng cách xác định đúng phạm vi ràng buộc. Quyết định hợp pháp tạo ra giá trị về chủ trương, phương thức tổ chức, công khai và quản lý nguồn đóng góp. Còn nghĩa vụ tài chính bắt buộc chỉ phát sinh theo quy định của pháp luật. Những người tự nguyện cam kết đóng góp thực hiện theo nội dung cam kết hợp pháp.
Đại biểu đề nghị bổ sung ở cuối khoản 2 Điều 15 cụm: "Việc cộng đồng dân cư thông qua chủ trương, mức vận động đóng góp không làm phát sinh nghĩa vụ đóng góp bắt buộc đối với hộ gia đình, cá nhân đối với các khoản đóng góp có tính chất tự nguyện; không được sử dụng quyết định của cộng đồng dân cư để đặt ra các khoản thu trái quy định của pháp luật. Việc huy động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng đóng góp phải được công khai, minh bạch".
Đồng thời sửa khoản 2 Điều 6 theo hướng: "Chấp hành các quyết định hợp pháp của cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động theo quy định của pháp luật".
Diệp Anh