• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Cải cách thủ tục mã số vùng trồng theo hướng minh bạch, số hóa

(Chinhphu.vn) - Mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu là yêu cầu gắn liền với quy định kiểm dịch thực vật và điều kiện nhập khẩu riêng biệt của từng quốc gia.

04/08/2026 18:35
Cải cách thủ tục mã số vùng trồng theo hướng minh bạch, số hóa- Ảnh 1.

Thứ trưởng Bộ NN&MT Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng sự thay đổi trong nghị quyết 36 mang lại lợi ích thực tiễn cho tất cả các bên trong chuỗi giá trị - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Nhận diện cơ chế "kép" từ các thị trường quốc tế

Hôm nay (4/8), Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Đây được xem là bước đột phá trong tư duy quản lý, chuyển mạnh từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", đồng thời làm rõ cơ chế "vàng" để nông sản Việt chinh phục các thị trường khắt khe nhất như Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU và Nhật Bản.

Tại hội nghị, các chuyên gia và lãnh đạo ngành nông nghiệp đã chỉ rõ một thực tế: việc được cấp mã số vùng trồng trong nước mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ để xuất khẩu thành công. Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt nhấn mạnh, mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu là yêu cầu gắn liền với quy định kiểm dịch thực vật và điều kiện nhập khẩu riêng biệt của từng quốc gia.

Theo ông Đạt, hiện nay các thị trường nhập khẩu đang áp dụng hai cơ chế công nhận mã số vùng trồng khác nhau. Nhóm thứ nhất bao gồm các thị trường lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc. Đối với nhóm này, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu sẽ trực tiếp xem xét, phê duyệt hoặc công nhận mã số dựa trên hồ sơ kỹ thuật, kiểm tra trực tuyến hoặc cử đoàn chuyên gia sang kiểm tra thực địa. Trong trường hợp này, phía Việt Nam chỉ đóng vai trò rà soát, lập hồ sơ và gửi danh sách, còn quyền quyết định cuối cùng thuộc về nước bạn. Điều này đồng nghĩa với việc dù một vùng trồng đã có mã số nội địa nhưng nếu chưa hoàn thành quy trình đánh giá quốc tế thì vẫn chưa thể xuất khẩu.

Ngược lại, nhóm thị trường thứ hai bao gồm Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Australia, New Zealand, Chile, Thái Lan... lại áp dụng cơ chế linh hoạt hơn. Các quốc gia này cơ bản chấp nhận danh sách mã số do phía Việt Nam xác nhận và thực hiện hậu kiểm hoặc giám sát trong quá trình nhập hàng. Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt lưu ý rằng dù thủ tục công nhận ở nhóm này đơn giản hơn, nhưng yêu cầu duy trì điều kiện vùng trồng và an toàn sinh học vẫn được kiểm soát cực kỳ chặt chẽ. Sự khác biệt này cho thấy mã số vùng trồng không phải là một "giấy phép chung" cho mọi thị trường; mỗi quốc gia có quy trình quản lý riêng dựa trên khả năng truy xuất nguồn gốc.

Nghị quyết 36: Đột phá từ tư duy phân cấp và chuyển đổi số

Để tháo gỡ những "điểm nghẽn" về thủ tục và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định, Nghị quyết này thể hiện quyết tâm đẩy mạnh phân cấp, cải cách hành chính và đổi mới phương thức quản lý của Chính phủ.

Một trong những điểm mới căn bản nhất của Nghị quyết 36 là việc phân cấp triệt để cho cấp xã. Theo đó, Chủ tịch UBND cấp xã sẽ trực tiếp thực hiện việc cấp, cấp lại mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, đồng thời chịu trách nhiệm hậu kiểm, quản lý và thu hồi mã số khi có vi phạm. Việc này giúp đưa dịch vụ công đến gần người dân nhất, giảm thiểu các khâu trung gian không cần thiết.

Về cải cách thủ tục, Nghị quyết 36 đã cắt giảm tối đa thành phần hồ sơ, chỉ còn đơn đề nghị và bãi bỏ bản thuyết minh theo quy định cũ, giúp giảm tới 50% khối lượng giấy tờ. Đặc biệt, toàn bộ quy trình này được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia bằng tài khoản VNeID. Ông Nguyễn Thanh Tùng, đại diện Cục Chuyển đổi số, cho biết hệ thống mới sẽ tự động chuyển hồ sơ đến đúng cơ quan chuyên môn cấp xã, giúp người dân không còn phải lúng túng xác định nơi nộp hồ sơ.

Thời gian giải quyết thủ tục cũng được rút ngắn kỷ lục. Đối với vùng trồng không xuất khẩu, thời gian xử lý giảm từ 14 ngày xuống còn 3 ngày (giảm gần 80%). Đối với vùng trồng đăng ký xuất khẩu, thời gian còn 10 ngày làm việc do cần thực hiện thêm các bước thẩm định thực địa theo yêu cầu quốc tế. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết thêm, Bộ sẽ triển khai chiến dịch cao điểm hỗ trợ thủ tục tại 4 địa phương trọng điểm là Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và Quảng Ngãi ngay sau hội nghị này.

Xây dựng thương hiệu nông sản Việt từ sự minh bạch

Việc minh bạch hóa dữ liệu vùng trồng được coi là nền tảng để xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia. Nghị quyết 36 xác lập nguyên tắc quản lý dữ liệu theo phương châm "đúng, đủ, sạch, sống" và kết nối trực tiếp với hệ thống truy xuất nguồn gốc toàn quốc. Quy định mới cũng bắt buộc người dân phải khai báo rõ thị trường xuất khẩu ngay từ khi đăng ký. Theo lãnh đạo Cục Trồng trọt, điều này giúp cơ quan chuyên môn áp dụng đúng quy trình kỹ thuật và tiêu chí đánh giá tương ứng với từng nước nhập khẩu ngay từ đầu, tránh tình trạng "râu ông nọ cắm cằm bà kia" dẫn đến việc bị từ chối thông quan.

Sự thay đổi này mang lại lợi ích thực tiễn cho tất cả các bên trong chuỗi giá trị. Đối với địa phương, việc cấp mã số không còn là điểm kết thúc mà là khởi đầu cho quá trình giám sát, ghi chép nhật ký sản xuất bền vững. Đối với doanh nghiệp, việc nắm rõ cơ chế công nhận của từng nước giúp họ chủ động kế hoạch kinh doanh, tránh ký kết hợp đồng khi mã số chưa được nước bạn phê duyệt. Đối với người nông dân, mã số vùng trồng chính là sự khẳng định về chất lượng và uy tín.

Kết luận hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh: "Mục tiêu cuối cùng của Nghị quyết là nâng cao sức cạnh tranh, xây dựng thương hiệu chung cho nông sản Việt, đồng thời tạo môi trường hành chính minh bạch, thông thoáng nhất cho người dân và doanh nghiệp". Bộ Nông nghiệp và Môi trường kỳ vọng với sự vào cuộc đồng bộ của 34 tỉnh, thành, việc thực hiện Nghị quyết 36 sẽ tạo ra một luồng sinh khí mới, giúp nông sản Việt không chỉ xuất khẩu nhiều hơn mà còn bền vững hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu.

Đỗ Hương

  • Hồ sơ cấp mã số vùng trồng phục vụ sản xuất trong nước: 3 ngày làm việc.
  • Hồ sơ phục vụ xuất khẩu: 10 ngày làm việc.
  • Cơ quan tiếp nhận và xử lý: UBND cấp xã.
  • Hình thức nộp: Trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia (sử dụng VNeID).