Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Trong 12 tháng, bà Trâm luôn thanh toán cả gốc và lãi đúng hạn, đến ngày 20/10/2025 đã tất toán xong khoản 300 triệu đồng. Tuy nhiên, ở kỳ trả gốc và lãi tiếp theo vào ngày 20/11/2025, bà chậm thanh toán 1 ngày và sau đó bị ngân hàng phân loại khoản vay vào nợ nhóm 4.
Bà Ngân hỏi, ngân hàng phân loại nợ như vậy có đúng quy định hay không? Theo quy định hiện hành, chỉ cần trả chậm dù chỉ 1 ngày thì khoản vay có bị xếp vào nợ nhóm 4 hay vẫn có cơ sở xem xét, điều chỉnh khác?
Về vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau:
Về việc phân loại đối với khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ và bị quá hạn theo thời hạn cơ cấu lại:
Điểm d (ii) khoản 4 Điều 10 Thông tư số 31/2024/TT-NHNN ngày 30/6/2024 quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định:
"Điều 10. Phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định lượng
1. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện phân loại nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) theo 05 nhóm như sau:
… d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
… (ii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này;…".
Căn cứ quy định nêu trên, khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu mà quá hạn từ 01 ngày đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu phải phân loại vào nhóm 4, nhằm đánh giá đúng mức độ rủi ro của khoản nợ của khách hàng đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ mà bị quá hạn theo thời hạn cơ cấu lại.
Về việc xác định khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ và bị quá hạn theo thời hạn cơ cấu lại:
Theo khoản 2 Điều 3 Thông tư số 31/2024/TT-NHNN quy định: "2. Khoản nợ là số tiền ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng đã gửi, thanh toán, giải ngân từng lần theo thỏa thuận (đối với trường hợp mỗi lần giải ngân có thời điểm cuối cùng của thời hạn, kỳ hạn trả nợ khác nhau) hoặc số tiền ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng đã giải ngân theo thỏa thuận (đối với trường hợp nhiều lần giải ngân nhưng có thời điểm cuối cùng của thời hạn và kỳ hạn trả nợ giống nhau) đối với nợ chưa hoàn trả của một khách hàng".
Tại khoản 16 Điều 9 Thông tư số 31/2024/TT-NHNN quy định: "16. Đối với khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, số lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ là tổng số lần thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với từng khoản nợ, kể từ thời điểm phát sinh khoản nợ đến thời điểm khách hàng hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, thanh toán cho ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng".
Căn cứ các quy định nêu trên, việc phân loại nợ theo Thông tư số 31/2024/TT-NHNN thực hiện đối với khoản nợ mà không phân loại theo từng phần số dư nợ của khoản nợ đó, trường hợp cơ cấu nợ đối với một phần số dư nợ của 1 khoản nợ thì khoản nợ đó đã được xác định là khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, số lần cơ cấu của khoản nợ được tính là tổng số lần cơ cấu của tất cả các lần cơ cấu của các phần số dư nợ.
Từ các nội dung nêu trên, khoản nợ theo mô tả của bà là khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và bị quá hạn theo thời hạn cơ cấu lại, nên việc phân loại nợ của ngân hàng trong trường hợp này như mô tả của bà là cơ bản phù hợp với quy định tại Thông tư số 31/2024/TT-NHNN.
Ngoài ra, khoản nợ của bà có thể được ngân hàng xem xét phân loại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro thấp hơn khi đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 31/2024/TT-NHNN.
Chinhphu.vn