• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

CẬP NHẬT: Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp

(Chinhphu.vn) - Sáng 18/7 tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trị Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp có chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng".

18/07/2026 07:59
CẬP NHẬT: Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp- Ảnh 1.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đến dự Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Cùng dự Hội nghị có các Phó Thủ tướng Chính phủ: Phạm Gia Túc, Hồ Quốc Dũng, Nguyễn Văn Thắng, Lê Tiến Châu; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành, địa phương; đại diện các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp.

Nếu có vấn đề gì khen Chính phủ thì để dịp khác

CẬP NHẬT: Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp- Ảnh 2.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng phát biểu khai mạc Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phát biểu khai mạc, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu rõ, trong bối cảnh chúng ta đang quyết tâm tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2026-2030 với các nhiệm vụ rất nặng nề, rất thách thức, trước hết là thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển KTXH năm 2026 - năm đầu tiên của nhiệm kỳ, phấn đấu tăng trưởng 2 con số; lần đầu tiên Thường trực Chính phủ khóa mới gặp mặt cộng đồng doanh nghiệp - lực lượng tiên phong trên mặt trận kinh tế, trực tiếp tạo động lực cho tăng trưởng, việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc có đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm nay và nhiều năm tới phụ thuộc rất lớn vào cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Thay mặt Thường trực Chính phủ, Thủ tướng gửi tới các doanh nhân, doanh nghiệp và các đại biểu lời chào trân trọng, lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công.

Thủ tướng cho biết, Chính phủ nhiệm kỳ mới nhận nhiệm vụ hơn 3 tháng đang tích cực triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, nhất là Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị Trung ương 2 và các Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài...

Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, chúng ta đã có rất nhiều đổi mới, sáng tạo trong triển khai để đưa các chủ trương, nghị quyết đi vào thực tiễn một cách nhanh nhất, trọng tâm nhất với chương trình hành động cụ thể của Chính phủ, các bộ ngành Trung ương, chính quyền địa phương. Mục tiêu là tạo nền tảng thể chế thông thoáng, minh bạch, giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp để thúc đẩy quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt là phát triển kinh tế.

Thủ tướng cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, mặc dù tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường, tác động lan tỏa rất nhanh, tác động trực tiếp, gián tiếp đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng ngay tới điều hành kinh tế vĩ mô, bảo đảm các động lực, đà tăng trưởng nhưng chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực, đáng ghi nhận trên nhiều lĩnh vực.

Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18%, mức cao nhất từ năm 2011 đến nay, trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo. An sinh xã hội được quan tâm, quốc phòng an ninh được bảo đảm, ngoại giao có nhiều thành tựu. Đó là kết quả từ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân cả nước.

Thủ tướng nêu rõ,nhiệm vụ từ nay tới cuối năm rất nặng nề. Chúng ta vừa phải tập trung tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô vững chắc, vừa phải khai thác hiệu quả hơn nữa các nguồn lực, động lực để đạt tăng trưởng cao, bền vững. Trong đó, vai trò, trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công trong đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội .

CẬP NHẬT: Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp- Ảnh 3.

Thủ tướng cùng các Phó Thủ tướng chủ trì Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thủ tướng cho biết, Hội nghị sẽ rà soát, nhận diện các khó khăn, vướng mắc từ cộng đồng doanh nghiệp. Tổng hợp ý kiến của các hiệp hội doanh nghiệp trong và ngoài nước, báo cáo của các bộ, đặc biệt là Bộ Tài chính cũng nêu các nhóm vấn đề còn có vướng mắc (thể chế và tổ chức thực thi chính sách; tiếp cận các nguồn lực sản xuất; chi phí và dòng tiền; thị trường và chuỗi cung ứng; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; liên kết giữa 3 khu vực doanh nghiệp).

Trong các nội dung này, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh nhóm vấn đề về thể chế và tổ chức thực thi chính sách. Theo Thủ tướng, vừa qua chúng ta đã tập trung rất quyết liệt tháo gỡ vướng mắc về thể chế nhưng việc tổ chức thực hiện ở các bộ ngành và địa phương còn có những vấn đề gây khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, đây là nhóm vấn đề có nhiều ý kiến nhất và cũng được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ưu tiên tập trung chỉ đạo quyết liệt các bộ ngành, địa phương.

Thủ tướng đề nghị từ những vấn đề đó, cần xác định những giải pháp có thể triển khai ngay, giải quyết dứt điểm, những việc cần tiếp tục hoàn thiện về cơ chế, chính sách và những nhiệm vụ đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.

Thủ tướng đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận và hướng đến 3 vấn đề lớn sau đây.

Thứ nhất, đánh giá các khó khăn, vướng mắc nêu trên đã được nhận diện đầy đủ, thực chất chưa? Đề nghị các doanh nghiệp có ý kiến thẳng thắn tại Hội nghị, đồng thời đánh giá và có đề xuất gì đối với Chính phủ, bộ, ngành, địa phương trong việc tổ chức thực thi pháp luật và xử lý kiến nghị của doanh nghiệp? Tinh thần chỉ đạo ủa Thủ tướng, lãnh đạo Chính phủ là các kiến nghị nếu phản ánh đầy đủ thực tiễn, thực tế khó khăn thì phải xử lý triệt để, giải quyết đến cùng.

Thứ hai, kiến nghị, hiến kế về các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp thiết thực vào tăng trưởng 2 con số. Trong đó tập trung vào các giải pháp sau: Hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; khơi thông và huy động dòng vốn cho sản xuất kinh doanh; tháo gỡ khó khăn đất đai, hạ tầng; giảm chi phí sản xuất kinh doanh; mở rộng thị trường; thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển nhân lực, tham gia và kiến tạo chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu; tăng cường liên kết giữa 3 khu vực doanh nghiệp.

Thứ ba, các bộ, ngành, địa phương trao đổi trực tiếp với các doanh nghiệp về những kiến nghị thuộc phạm vi quản lý, làm rõ hướng xử lý, lộ trình thực hiện để các khó khăn được giải quyết thực chất, xử lý hiệu quả.

"Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ cam kết với cộng đồng doanh nghiệp: Tất cả các vấn đề vướng mắc, khó khăn thực tiễn mà doanh nghiệp phản ánh đúng thì sẽ được quan tâm, theo dõi chỉ đạo xử lý đến tận cùng, làm sao để nói là làm và làm thực chất, hiệu quả", Thủ tướng Lê Minh Hưng phát biểu.

Thủ tướng cho biết, sắp tới Quốc hội sẽ có các Kỳ họp không thường lệ và Kỳ họp thường kỳ vào cuối năm, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hai kỳ họp này là hoàn thiện thể chế và các ý kiến tham gia của doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng đối với những văn bản quy phạm pháp luật tác động trực tiếp liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp vừa và nhỏ, các luật thuế, hợp nhất Luật Đầu tư công và Luật ngân sách nhà nước… Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp phải hết sức chủ động, tích cực tham gia ý kiến với các bộ ngành, Chính phủ, Quốc hội, các đại biểu Quốc hội để hoàn thiện, có một một hệ thống cơ sở pháp lý ngày càng minh bạch, rõ ràng để tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

"Đề nghị các doanh nghiệp thẳng thắn đóng góp ý kiến, nếu có vấn đề gì khen Chính phủ thì chúng ta để dịp khác, hội nghị hôm nay chủ yếu nêu các khó khăn và kiến nghị giải pháp để Chính phủ, các bộ ngành, chính quyền địa phương làm tốt chức năng của mình và các doanh nghiệp cũng phải có hiệu quả để đóng góp vào thành tựu chung", Thủ tướng Lê Minh Hưng phát biểu.

CẬP NHẬT: Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp- Ảnh 4.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Báo cáo trung tâm của Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Trình bày Báo cáo trung tâm của Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết: Qua tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và kết quả rà soát của các bộ, ngành, có thể khái quát những khó khăn, vướng mắc hiện nay thành 6 nhóm vấn đề lớn.

Thứ nhất, về thể chế và tổ chức thực hiện. Đây vẫn là điểm nghẽn lớn nhất. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; việc ban hành văn bản hướng dẫn ở một số lĩnh vực còn chậm; cách hiểu và tổ chức thực hiện giữa các cơ quan, địa phương chưa thống nhất. Thủ tục hành chính tuy đã được cải cách nhưng vẫn còn tình trạng phân tán, thiếu liên thông; chuyển đổi số chưa đồng bộ, doanh nghiệp vẫn phải khai báo nhiều lần, nộp hồ sơ giấy ở một số thủ tục. Bên cạnh đó, ở một số nơi vẫn còn tâm lý e ngại trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trong giải quyết công việc, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ hai, về tiếp cận các nguồn lực phát triển. Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng, đất đai và các nguồn lực sản xuất. Thị trường vốn, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và các kênh huy động vốn trung, dài hạn chưa phát huy đầy đủ vai trò. Những vướng mắc về quỹ đất, xác định giá đất, giải phóng mặt bằng và thực hiện nghĩa vụ tài chính tiếp tục làm tăng chi phí, kéo dài thời gian đầu tư.

Thứ ba, về chi phí sản xuất, kinh doanh và dòng tiền. Giá nguyên liệu, năng lượng, logistics, vốn và lao động vẫn ở mức cao; trong khi các yêu cầu mới về tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội làm gia tăng chi phí tuân thủ. Việc chậm thanh toán, hoàn thuế, giải ngân hoặc xử lý các thủ tục liên quan cũng tạo thêm áp lực đối với dòng tiền và vốn lưu động của doanh nghiệp.

Thứ tư, về thị trường và chuỗi cung ứng. Xu hướng bảo hộ thương mại, các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu về ESG, giảm phát thải và cơ chế điều chỉnh carbon đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trong khi đó, thị trường trong nước và các chuỗi cung ứng nội địa vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò là bệ đỡ cho doanh nghiệp phát triển.

Thứ năm, về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực. Cơ chế khuyến khích nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm mới chưa thật sự mạnh; liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực số, nhân lực công nghệ và lao động kỹ thuật, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Thứ sáu, về liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp. Mối liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn lỏng lẻo. Việc chia sẻ thị trường, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng và hình thành các chuỗi giá trị trong nước còn nhiều hạn chế, làm giảm hiệu quả lan tỏa của các nguồn lực và ảnh hưởng đến năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Những khó khăn nêu trên có nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Tuy nhiên, qua quá trình tổng hợp và rà soát, có thể thấy phần lớn không xuất phát từ việc thiếu chủ trương hay thiếu cơ chế, chính sách, mà chủ yếu do những điểm nghẽn trong quá trình tổ chức thực hiện. Đây cũng là nội dung cần được tập trung tháo gỡ với tinh thần quyết liệt, thực chất và đồng bộ hơn trong thời gian tới.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh: Việc khơi thông và huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, trong đó trọng tâm là khu vực doanh nghiệp trong thời gian tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nâng cao năng lực nội sinh, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới cần quán triệt đầy đủ tinh thần của Kết luận số 18-KL/TW; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Từ đó, lãnh đạo Bộ Tài chính đề xuất một số giải pháp chủ yếu:

Giải pháp chung cho khu vực doanh nghiệp:

Hoàn thiện thể chế, cải thiện thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh. Khẩn trương rà soát, sửa đổi đồng bộ pháp luật về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy, đấu thầu, doanh nghiệp, thuế, hải quan và quản lý chuyên ngành; bảo đảm văn bản hướng dẫn được ban hành kịp thời và có quy định chuyển tiếp rõ ràng. Chuyển mạnh từ tiền kiểm truyền thống sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu, trên cơ sở quản lý rủi ro. Gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ giải quyết, khắc phục tình trạng né tránh, sợ sai và đùn đẩy.

Đẩy nhanh tái thiết kế thủ tục hành chính trên nền tảng số, không chỉ số hóa hồ sơ giấy. Thực hiện nguyên tắc doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần; kết nối, chia sẻ dữ liệu; công khai đầu mối, tiến độ và tình trạng xử lý hồ sơ; tự động cảnh báo hồ sơ quá hạn.

Khơi thông dòng vốn và dòng tiền cho doanh nghiệp: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu, hợp đồng, đơn hàng, khoản phải thu,…; mở rộng phạm vi tài sản bảo đảm đối với động sản, hàng tồn kho, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, sở hữu trí tuệ, phần mềm và dữ liệu. Phát triển đồng bộ thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và tài trợ chuỗi cung ứng. Thiết lập cơ chế bảo đảm thanh toán đúng hạn đối với hoàn thuế, dự án đầu tư công, mua sắm công và hợp đồng sử dụng ngân sách nhà nước.

Tháo gỡ vướng mắc đất đai, dự án và phát triển hạ tầng: Hoàn thiện quy trình lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính theo hướng rõ thủ tục, phương pháp, thời hạn và trách nhiệm. Phân loại và xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ, công trình ách tắc, đất đai bỏ hoang. Công khai dữ liệu quy hoạch, quỹ đất, giá đất và tình trạng pháp lý dự án trên hệ thống thống nhất. Đẩy nhanh hạ tầng chiến lược về giao thông, logistics, năng lượng, khu công nghiệp và hạ tầng số; bảo đảm cung ứng điện ổn định cho các dự án công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và công nghiệp chiến lược.

Giảm chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí tuân thủ: Thực hiện thống nhất mã hàng, tiêu chuẩn, quy chuẩn và phương pháp kiểm tra; công nhận kết quả thử nghiệm, chứng nhận còn hiệu lực. Áp dụng phân loại rủi ro để miễn, giảm kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt. Tham vấn, đánh giá kỹ tác động trước khi điều chỉnh thuế, phí, tiêu chuẩn và quy chuẩn; có thời gian chuyển tiếp phù hợp. Rà soát giá, phí, phụ phí logistics; kết nối dữ liệu giữa cảng, kho, vận tải, hải quan và cơ quan kiểm tra chuyên ngành nhằm giảm thời gian lưu kho, lưu bãi và thông quan.

Mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo: Đổi mới xúc tiến thương mại theo từng ngành hàng, thị trường và FTA; hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh, ESG, truy xuất nguồn gốc, phòng vệ thương mại. Phát huy thị trường trong nước như một bệ đỡ thông qua kết nối cung - cầu, phát triển thương hiệu Việt, hệ thống phân phối trong nước. Hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, hỗ trợ R&D, thương mại hóa; thúc đẩy liên kết viện, trường, trung tâm đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp. Đào tạo, đào tạo lại nhân lực số, xanh, công nghệ và lao động kỹ thuật theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp.

Giải pháp đối với từng khu vực doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp nhà nước, tập trung nguồn lực vào các ngành nền tảng, hạ tầng và công nghiệp chiến lược; đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng vốn. Khẩn trương hoàn thiện danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt; yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty công khai nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và chương trình phát triển nhà cung ứng trong nước, đồng thời đưa kết quả đổi mới công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa và tiến độ dự án vào tiêu chí đánh giá người đứng đầu.

Đối với khu vực tư nhân, bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận vốn, đất đai, đầu tư công, mua sắm công và các dự án hạ tầng; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuẩn hóa quản trị, kế toán, công nghệ và tiêu chuẩn để mở rộng quy mô và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, phát triển các mô hình kinh doanh mới như "doanh nghiệp 1 người" để thúc đẩy khởi nghiệp, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Đối với khu vực FDI, chuyển trọng tâm thu hút từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch, hạ tầng số và công nghiệp hỗ trợ; gắn ưu đãi đầu tư với kết quả chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng Việt Nam, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.

Về giải pháp thúc đẩy cơ chế liên kết giữa ba khu vực doanh nghiệp

Cần thiết lập cơ chế liên kết và đo lường kết quả giữa ba khu vực doanh nghiệp. Lựa chọn các ngành có khả năng lan tỏa cao như năng lượng, điện lực, dầu khí, viễn thông, hạ tầng số, logistics, chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi xanh để xây dựng chuỗi liên kết. Xác định doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn làm hạt nhân; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các công đoạn cung ứng, dịch vụ kỹ thuật, thiết kế, bảo trì và logistics. Đánh giá bằng các chỉ tiêu cụ thể: tỉ lệ mua sắm trong nước, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi, giá trị hợp đồng cung ứng, tỉ lệ nội địa hóa, số dự án chuyển giao công nghệ và số lao động kỹ thuật được đào tạo.

Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tiếp tục cập nhật nội dung Hội nghị.