Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 15/7/2026 (2)
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 15/7/2026 (2).
Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Quy định mới xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội
Nghị định quy định rõ hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, quy định về hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện.
Cụ thể, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì bị xử phạt theo hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính; tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn; trục xuất người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động bị phạt tới 70 triệu đồng
Đối với vi phạm quy định về việc làm, Nghị định quy định:
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi phân biệt đối xử trong việc làm khi không xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương; trừ các hành vi phân biệt đối xử quy định tại điểm a khoản 2 Điều 11, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của Nghị định này.
2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm mà không phải là tổ chức dịch vụ việc làm được thành lập hợp pháp.
4. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây:
a) Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện chính sách về việc làm, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Lợi dụng hoạt động dịch vụ việc làm xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Hình thức xử phạt bổ sung
Tịch thu tang vật vi phạm hành chính là hồ sơ giả mạo đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 nêu trên.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả
Buộc trả lại cho cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm khoản tiền đã thu của cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm và khoản tiền lãi của số tiền này tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 nêu trên.
Phạt đến 75 triệu đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ, quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao động
Đối với vi phạm quy định về tuyển dụng, quản lý lao động, Nghị định quy định:
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Không khai trình việc sử dụng lao động theo quy định;
b) Thu tiền của người lao động tham gia tuyển dụng lao động;
c) Không thể hiện, nhập đầy đủ thông tin về người lao động vào sổ quản lý lao động kể từ ngày người lao động bắt đầu làm việc;
d) Không xuất trình sổ quản lý lao động khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây:
a) Phân biệt đối xử trong lao động trừ các hành vi phân biệt đối xử quy định tại khoản 1 Điều 10, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của Nghị định này;
b) Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia;
c) Không báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định;
d) Không lập sổ quản lý lao động hoặc lập sổ quản lý lao động không đúng thời hạn hoặc không đảm bảo các nội dung cơ bản theo quy định pháp luật.
3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả
Buộc người sử dụng lao động trả lại cho người lao động khoản tiền đã thu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 nêu trên.
Vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Đối với vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, Nghị định quy định:
1. Phạt cảnh cáo đối với các hành vi quy định tại khoản 3 Điều này khi số tiền vi phạm tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính dưới 400.000 đồng.
2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội; không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật, theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động;
b) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm từ 10 người đến dưới 50 người lao động;
c) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm từ 50 người đến dưới 100 người lao động;
d) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm từ 100 người đến dưới 300 người lao động;
đ) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, khi vi phạm từ 300 người đến dưới 500 người lao động;
e) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, khi vi phạm từ 500 người đến dưới 700 người lao động;
g) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, khi vi phạm từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động;
h) Từ 60.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
3. Phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội sau đây:
a) Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã đăng ký kể từ sau ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội;
b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả
a) Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 nêu trên.
Vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bị phạt tới 75 triệu đồng
Vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, Nghị định quy định:
1. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 6.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động;
b) Từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm từ 10 người đến dưới 50 người lao động;
c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm từ 50 người đến dưới 100 người lao động;
d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, khi vi phạm từ 100 người đến dưới 300 người lao động;
đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, khi vi phạm từ 300 người đến dưới 500 người lao động;
e) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, khi vi phạm từ 500 người đến dưới 700 người lao động;
g) Từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, khi vi phạm từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động;
h) Từ 70.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
2. Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sau đây:
a) Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội;
b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả
a) Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 nêu trên;
b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 nêu trên.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2026.
Quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam
Chính phủ ban hanh Nghị định số 282/2026/NĐ-CP ngày 14/7/2026 quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam.

1 trong các tiêu chí lựa chọn địa phương thực hiện thí điểm là đô thị có di sản văn hóa được hình thành trong quá trình hình thành và phát triển của địa phương
Tiêu chí thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa
Trong đó, Nghị định quy định rõ các tiêu chí thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa:
1. Địa phương được lựa chọn thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa khi đáp ứng các tiêu chí sau đây:
a) Đô thị có di sản văn hóa được hình thành trong quá trình hình thành và phát triển của địa phương;
b) Có quan hệ chặt chẽ giữa đô thị với di sản văn hóa và giá trị của di sản văn hóa phải tạo nên giá trị của đô thị;
c) Có từ hai di sản văn hóa vật thể hoặc di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu trên địa bàn được Việt Nam hoặc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận, xếp hạng hoặc ghi danh; thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát huy giá trị gắn với giáo dục truyền thống, làm nền tảng phát triển kinh tế - xã hội, phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa có hiệu quả, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của địa phương; tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu lan tỏa giá trị di sản văn hóa ở trong nước và nước ngoài;
d) Đã ban hành và thực hiện tốt quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn bảo đảm nguyên tắc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, bảo tồn không gian văn hóa liên quan của cộng đồng chủ thể thực hành di sản văn hóa phi vật thể; bảo đảm bảo tồn yếu tố gốc cấu thành giá trị di sản văn hóa, cấu trúc không gian, cảnh quan văn hóa, kiến trúc, kiểm soát mật độ xây dựng, tầng cao, hình thức kiến trúc, không gian công cộng, hạ tầng kỹ thuật và các hoạt động khai thác dịch vụ trong khu vực di sản theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Có các chương trình, đề án, dự án về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa triển khai có hiệu quả trên địa bàn; ban hành và tổ chức thực hiện tốt chế độ, chính sách khác phù hợp với quy định của pháp luật về di sản văn hóa đối với nghệ nhân;
đ) Có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác đầu tư, bảo tồn, tôn tạo, quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa; bảo tồn bền vững di sản văn hóa và phát triển bền vững các yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội và môi trường; có di sản thế giới được tiến hành định giá giá trị kinh tế tổng thể và công bố quốc tế; có bảo tàng đạt tiêu chuẩn hạng II trở lên theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
2. Mô hình đô thị di sản văn hóa thí điểm tại các địa phương được đầu tư, hỗ trợ bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, thực hiện chương trình, đề án, dự án bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, thực hiện cơ chế, chính sách ưu đãi quy định tại Điều 12, Điều 13 Nghị định này để bảo đảm các tiêu chí sau đây:
Có quần thể kiến trúc đô thị, nông thôn, địa điểm cư trú, khu vực đô thị và nông thôn, công trình công nghiệp, chứa đựng công trình kiến trúc, không gian lịch sử, văn hóa có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và di sản văn hóa vật thể theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa cùng với không gian di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng chủ thể hoặc một truyền thống văn hóa của con người đang hoặc đã từng tồn tại.
Có các nhóm công trình xây dựng, các nhóm công trình liên hoàn có tính đồng nhất về kiến trúc và cảnh quan hoặc có giá trị nổi bật về văn hóa, khoa học, lịch sử theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
Các địa điểm, khu vực trong lòng đất và dưới nước đã phát hiện di tích, di vật hoặc có dấu hiệu lưu giữ di tích, di vật, địa điểm phát hiện dấu tích liên quan đến hoạt động của con người có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được bảo vệ và phát huy giá trị theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
Cảnh quan thiên nhiên, môi trường - sinh thái và không gian cảnh quan vật chất tự nhiên chứa đựng giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ cùng không gian văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể liên quan có tầm quan trọng trong việc hình thành giá trị của di sản văn hóa, được bảo tồn và phát huy giá trị theo hướng gắn kết không gian di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, không gian thực hành di sản văn hóa phi vật thể với cộng đồng chủ thể.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc xác định phạm vi, địa bàn thực hiện thí điểm đô thị di sản thuộc địa phương mình quản lý và bảo đảm các tiêu chí quy định.
4. Đô thị di sản văn hóa được xác định trong quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai
Theo Nghị định, địa phương thực hiện thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa quyết định:
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định: chỉ tiêu sử dụng đất ngoài các chỉ tiêu đã được phân bổ theo quy hoạch sử dụng đất quốc gia thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực di sản văn hóa, công nghiệp văn hóa; chỉ tiêu sử dụng đất bổ sung được cập nhật vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thời kỳ tiếp theo theo quy định.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi có ý kiến thống nhất của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về mức áp dụng cơ chế ưu đãi đơn giá thuê đất theo từng không gian đặc thù, bảo đảm mức tối đa không vượt quá 50% so với mức quy định hiện hành, để thực hiện các dự án đầu tư kinh doanh dịch vụ, du lịch, dự án đầu tư công - quản trị tư, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực di sản văn hóa, thực hiện các đề án khai thác kinh tế di sản, phát triển công nghiệp văn hóa theo quy hoạch, đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong khu vực di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di sản thế giới (gọi chung là di tích) trong trường hợp bảo đảm không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành và cảnh quan văn hóa của di tích theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và bảo đảm phù hợp với quy hoạch, các quy định quản lý quy hoạch, kiến trúc, yêu cầu bảo vệ cảnh quan, không gian kiến trúc và khả năng chịu tải của hạ tầng đô thị theo quy định của các pháp luật có liên quan.
Cơ chế, chính sách ưu đãi về phí, lệ phí
Địa phương thực hiện thí điểm mô hình đô thị di sản được quyết định cơ chế, chính sách ưu đãi về phí, lệ phí.
Theo đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định ban hành mức thu phí dịch vụ tại di tích, lệ phí ngoài danh mục phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí.
Ngân sách địa phương được hưởng toàn bộ các khoản thu từ phí, lệ phí do Hội đồng nhân dân ban hành ngoài danh mục phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí.
Phí thăm quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa, công trình văn hóa, bảo tàng trên địa bàn đô thị di sản sau khi trừ chi phí được trích để lại cho đơn vị sự nghiệp công lập để trang trải chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ thu phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí phải nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước để thực hiện trùng tu, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn hoặc ngân sách địa phương để bố trí đầu tư tương ứng số thu phí thăm quan nộp vào ngân sách nhà nước để thực hiện đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trên địa bàn./.