• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/7/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/7/2026 (2).

21/07/2026 20:30
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH

Quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản

Chính phủ ban hành Nghị định số 287/2026/NĐ-CP quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/7/2026 (2)- Ảnh 1.

Quy định mới về tiền bản quyền trong lĩnh vực báo chí.

Về quy định tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, Nghị định quy định:

Tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm báo chí thuộc loại hình báo chí in, báo chí điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu.

Tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình được chi trả trong đơn giá sản xuất tác phẩm báo chí đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt sản xuất nội dung theo nhiệm vụ đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu sử dụng nguồn ngân sách nhà nước.

Căn cứ các trường hợp quy định tại các điểm a, b khoản 3 Điều 3 của Nghị định này, thẩm quyền quy định tại khoản 7 Điều 3 của Nghị định này và cơ chế tự chủ của cơ quan báo chí theo quy định của pháp luật, mức tiền bản quyền khuyến khích do người đứng đầu cơ quan báo chí quyết định hoặc thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

Tiền bản quyền khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình báo chí in, báo chí điện tử

Đối với tiền bản quyền khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình báo chí in, báo chí điện tử, Nghị định quy định như sau:

Tiền bản quyền đối với tác phẩm báo chí thuộc loại hình báo chí in, báo chí điện tử do cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý hoặc tổ chức được phân cấp hoặc ủy quyền theo quy định của pháp luật thỏa thuận với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng trên cơ sở tiêu chí về tần suất, thời lượng, vị trí sử dụng, mục đích, phạm vi, hình thức, phương tiện khai thác, sử dụng, doanh thu (nếu có) hoặc tiêu chí khác theo quy định của pháp luật có liên quan nhưng không được thấp hơn 20% tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm.

Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình báo chí in, báo chí điện tử mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nhằm mục tiêu tuyên truyền không nhằm mục đích thương mại dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Tiền bản quyền khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình

1. Nghị định quy định tiền bản quyền đối với tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình do cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý hoặc tổ chức được phân cấp hoặc ủy quyền theo quy định của pháp luật thỏa thuận với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng không thấp hơn khung chi trả đối với các thể loại tác phẩm như sau:

a) Đối với phát thanh:

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/7/2026 (2)- Ảnh 2.

b) Đối với truyền hình:

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/7/2026 (2)- Ảnh 3.

2. Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình mà cơ quan báo chí hoạt động phát thanh, hoạt động truyền hình thực hiện khai thác, sử dụng không có nguồn thu từ tài trợ quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào thì số tiền bản quyền chi trả bằng 30% khung chi trả quy định tại khoản 1 nêu trên.

3. Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình từ lần thứ hai trở đi thì tiền bản quyền được chi trả theo thỏa thuận với cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý hoặc tổ chức được phân cấp hoặc ủy quyền theo quy định của pháp luật trên cơ sở tiêu chí về tần suất sử dụng, thời lượng, khung giờ, phương tiện, nền tảng khai thác, sử dụng, doanh thu (nếu có) hoặc tiêu chí khác.

4. Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nhằm mục tiêu tuyên truyền không nhằm mục đích thương mại dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2026.

Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ngày 14/3/2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản và Nghị định số 21/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

Quy định cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Chính phủ ban hành Nghị định số 286/2026/NĐ-CP quy định cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/7/2026 (2)- Ảnh 4.

Các bộ, ngành, địa phương phối hợp quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Nghị định này quy định nguyên tắc, nội dung, hình thức phối hợp và trách nhiệm thực hiện của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Hình thức phối hợp

1- Trao đổi ý kiến, cung cấp thông tin bằng văn bản hoặc trên môi trường điện tử theo yêu cầu của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp.

2- Thông qua các cuộc họp liên ngành định kỳ, đột xuất.

3- Thông qua các hội nghị sơ kết, tổng kết.

4- Thông qua việc thanh tra, kiểm tra của các đoàn công tác liên ngành do Bộ Công an chủ trì.

5- Thông qua quy chế phối hợp giữa các bộ, ngành theo quy định của Chính phú.

6- Các hình thức khác.

Về nội dung và trách nhiệm phối hợp, Nghị định nêu rõ quy định về: Phối hợp trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phối hợp trong việc cấp giấy tờ cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú; phối hợp trong công tác kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh của người nước ngoài; phối hợp trong công tác quản lý cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; phối hợp thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; phối hợp xử lý vi phạm pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; phối hợp trong việc ban hành và sử dụng các mẫu giấy tờ về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; phối hợp trong việc thống kê nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam... Cụ thể:

Phối hợp trong việc cấp giấy tờ cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú

Nghị định nêu rõ, Bộ Công an chỉ đạo cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trao đổi, cung cấp cho đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh thuộc Bộ Quốc phòng dữ liệu người nước ngoài được giải quyết cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế do Bộ Quốc phòng quản lý trước khi người nước ngoài đến cửa khẩu.

Bộ Ngoại giao chỉ đạo cơ quan chức năng:

Cập nhật dữ liệu về người nước ngoài được cấp thị thực, cấp thẻ tạm trú tại cơ quan có thẩm quyền của Bộ Ngoại giao theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh ngay sau khi cấp; trường hợp chưa bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng để cập nhật dữ liệu thì chuyển danh sách cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh sau 05 ngày làm việc kể từ ngày cấp.

Phối hợp xác minh thông tin người nước ngoài theo đề nghị của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh phục vụ công tác xử lý vi phạm và cấp giấy tờ có giá trị cư trú để yêu cầu xuất cảnh, buộc xuất cảnh hoặc trục xuất.

Bộ Ngoại giao chỉ đạo cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực của Việt Nam ở nước ngoài; Bộ Quốc phòng chỉ đạo đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh thuộc Bộ Quốc phòng trong quá trình giải quyết cấp thị thực, nếu phát hiện có vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh, quốc phòng hoặc có dấu hiệu giả mạo giấy tờ thì chưa cấp thị thực và kịp thời trao đổi, thống nhất với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh về việc cấp thị thực.

Bộ Công an chỉ đạo cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực của Việt Nam ở nước ngoài và đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh để từ chối cấp thị thực hoặc thu hồi, hủy bỏ thị thực đã cấp kể từ khi phát hiện các trường hợp giả mạo giấy tờ để được duyệt cấp thị thực hoặc sau khi duyệt mới phát hiện có vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh, quốc phòng.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng chia sẻ, liên thông dữ liệu giải quyết thủ tục hành chính theo chức năng, nhiệm vụ liên quan đến người nước ngoài phục vụ cấp giấy tờ nhập cảnh, xuất cảnh hoặc có giá trị cư trú cho người nước ngoài của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh.

Phối hợp trong công tác kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh của người nước ngoài

Bộ Công an có trách nhiệm trao đổi, cung cấp cho Bộ Quốc phòng: (1)

Thông tin, tài liệu phục vụ công tác kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu.

Tình hình, dữ liệu người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh qua các cửa khẩu do Bộ Công an quản lý; dữ liệu người nước ngoài thuộc diện chưa cho nhập cảnh, tạm hoãn xuất cảnh.

Tình hình, số liệu các vụ việc người nước ngoài vi phạm pháp luật hoặc các trường hợp người nước ngoài có dấu hiệu hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội tại các cửa khẩu do Bộ Công an quản lý.

Mẫu dấu kiểm chứng nhập cảnh, xuất cảnh, chứng nhận tạm trú cấp cho kiểm soát viên tại các đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an.

Danh sách và dữ liệu hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam bị mất, bị hủy giá trị sử dụng.

Bộ Quốc phòng có trách nhiệm trao đổi, cung cấp cho Bộ Công an: (2)

Tình hình, dữ liệu người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và người nước ngoài được cấp thị thực tại các cửa khẩu do Bộ Quốc phòng quản lý.

Tình hình, số liệu các vụ việc người nước ngoài vi phạm pháp luật hoặc các trường hợp người nước ngoài có dấu hiệu hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội tại các cửa khẩu do Bộ Quốc phòng quản lý.

Mẫu dấu kiểm chứng nhập cảnh, xuất cảnh, chứng nhận tạm trú cấp cho kiểm soát viên tại các đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh thuộc Bộ Quốc phòng.

Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an tổ chức tập huấn cho kiểm soát viên tại các đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh thuộc Bộ Quốc phòng khi có văn bản pháp luật, hướng dẫn mới liên quan đến công tác quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh.

Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo cơ quan chức năng khi quyết định chưa cho nhập cảnh, giải tỏa chưa cho nhập cảnh, buộc xuất cảnh người nước ngoài quy định tại khoản 1, 2, 3 và khoản 4 Điều 22 và điểm b khoản 2 Điều 30 của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam phải thông báo ngay sau khi ban hành quyết định cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh để phối hợp thực hiện.

Việc trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu, tình hình, số liệu, dữ liệu theo quy định tại (1) và (2) nêu trên được thực hiện thường xuyên, liên tục, kịp thời, theo thời gian thực, bảo đảm yêu cầu công tác kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh của người nước ngoài.

Phối hợp trong công tác quản lý cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan, đơn vị liên quan phối hợp với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trong việc trao đổi thông tin cấp thị thực, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép lao động, giấy phép hành nghề, chương trình đào tạo, hợp tác của người nước ngoài, chương trình hội nghị, hội thảo của người nước ngoài nhập cảnh bằng thị thực điện tử hoặc theo diện miễn thị thực; chỉ đạo cơ quan, tổ chức mời, bảo lãnh người nước ngoài phối hợp với cơ sở lưu trú thực hiện việc khai báo tạm trú của người nước ngoài theo quy định tại Điều 33 và Điều 34 của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; phối hợp với cơ quan chức năng giải quyết các vấn đề phát sinh; trong thời hạn 12 giờ kể từ khi phát hiện người nước ngoài bị tai nạn, tử vong phải trao đổi với cơ quan chức năng của Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện nước mà người đó là công dân.

Bộ Ngoại giao chỉ đạo cơ quan chức năng:

Chuyển thông tin khai báo tạm trú người nước ngoài thuộc diện đăng ký tại Bộ Ngoại giao cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trong thời hạn 12 giờ kể từ khi người nước ngoài đăng ký tạm trú.

Hướng dẫn người nước ngoài thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ cung cấp thông tin cho cơ sở lưu trú khi tạm trú ngoài địa điểm đã đăng ký tại Bộ Ngoại giao để thực hiện khai báo tạm trú theo quy định.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố thực hiện việc quản lý cư trú của người nước ngoài ở địa phương.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng phối hợp với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh quản lý các trường hợp người nước ngoài thuộc diện tạm hoãn xuất cảnh nhưng không có cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh làm thủ tục cấp giấy tờ có giá trị cư trú theo quy định.

Bộ Công an trao đổi, cung cấp cho Bộ Quốc phòng dữ liệu khai báo tạm trú của người nước ngoài tại cơ sở lưu trú trong khu vực biên giới hoặc xã, phường, đặc khu, khu du lịch, dịch vụ, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, khu kinh tế khác có liên quan đến khu vực biên giới theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Bộ Quốc phòng trao đổi, cung cấp cho Bộ Công an dữ liệu khai báo tạm trú của người nước ngoài do đồn, trạm biên phòng tiếp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; trường hợp chưa bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng để cập nhật dữ liệu thì trao đổi, cung cấp danh sách người nước ngoài ngay sau khi tiếp nhận.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026 và thay thế Nghị định số 64/2015/NĐ-CP ngày 06/8/2015 của Chính phủ quy định cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 46/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP

Chính phủ ban hành Nghị định số 285/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 46/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 46/2019/NĐ-CP).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/7/2026 (2)- Ảnh 5.

Quy định mới về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao.

Bổ sung quy định xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử

Cụ thể, Nghị định số 285/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 2b vào sau Điều 2a Nghị định số 46/2019/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao trên môi trường điện tử. Theo đó việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CPNghị định số 190/2025/NĐ-CP.

Bổ sung thẩm quyền xử phạt của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành

Đáng chú ý, Nghị định số 285/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 22a vào sau Điều 22 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP quy định về thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành, lĩnh vực và một số chức danh khác. Cụ thể:

1. Giám đốc Khu quản lý đường bộ thuộc Cục Đường bộ Việt Nam; Chi cục trưởng Chi cục Hàng hải và Đường thủy phía Bắc, Chi cục trưởng Chi cục Hàng hải và Đường thủy phía Nam có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 4 Nghị định này.

2. Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao; Giám đốc Sở Xây dựng; Giám đốc Sở Y tế có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 4 Nghị định này.

3. Cục trưởng Cục Thể dục thể thao Việt Nam; Cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam; Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam; Cục trưởng Cục Quản lý Dược; Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Cục trưởng Cục Phòng bệnh có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 4 Nghị định này.

4. Trưởng đoàn kiểm tra do Cục trưởng các Cục: Thể dục thể thao Việt Nam; Đường bộ Việt Nam; Hàng hải và Đường thủy Việt Nam; Quản lý Dược; Quản lý Khám, chữa bệnh; Phòng bệnh thành lập có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 2 nêu trên.

5. Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng các Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Xây dựng; Y tế thành lập có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 3 nêu trên.

Ngoài ra, Nghị định số 285/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến thẩm quyền xử phạt của một số chức danh: Thanh tra, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Công an nhân dân, Bộ Đội Biên phòng, Cảnh sát biển.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026.

Điều khoản chuyển tiếp

Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao xảy ra trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thuộc thẩm quyền giải quyết của chức danh có thẩm quyền xử phạt quy định tại Nghị định này nhưng chức danh đó không được quy định tại Nghị định số 46/2019/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP thì được áp dụng thẩm quyền quy định tại Nghị định này để xử phạt hành vi vi phạm đó.

Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Nghị định số 46/2019/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP để giải quyết.

Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước theo các nhóm trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

 Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1310/QĐ-TTg ban hành Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước theo các nhóm trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. 

Danh mục gồm 32 dịch vụ chia thành 7 nhóm dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước gồm: Nhóm văn hóa có 18 dịch vụ; nhóm thể dục, thể thao có 3 dịch vụ; nhóm du lịch có 3 dịch vụ; nhóm báo chí có 3 dịch vụ; nhóm xuất bản có 1 dịch vụ; nhóm thông tin điện tử có 2 dịch vụ; nhóm dịch vụ khác thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có 2 dịch vụ.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm ban hành Danh mục dịch vụ sự nghiệp công chi tiết (thiết yếu và cơ bản) làm cơ sở đấu thầu, đặt hàng và giao nhiệm vụ (nếu cần thiết) theo quy định; bảo đảm phù hợp với các quy định pháp luật liên quan và phạm vi các nhóm dịch vụ sự nghiệp công đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định này.

Việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước theo các nhóm trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo danh mục ban hành kèm theo Quyết định này thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam và các văn bản hướng dẫn liên quan; Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí thường xuyên; Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 111/2025/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 và các quy định của pháp luật liên quan.

Căn cứ danh mục theo các nhóm dịch vụ sự nghiệp công ban hành theo Quyết định này và Danh mục dịch vụ sự nghiệp công chi tiết do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành (nếu có), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước theo phân cấp thuộc phạm vi quản lý của địa phương và phù hợp với khả năng ngân sách của địa phương trong phạm vi dự toán được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua, gửi Bộ Tài chính và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để giám sát trong quá trình thực hiện.

Kiện toàn Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1328/QĐ-TTg ngày 21/7/2026 về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia (Ban Chỉ đạo).

Theo Quyết định số 1328/QĐ-TTg, Ban Chỉ đạo là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng tham mưu giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tổ chức, chỉ đạo, điều hành hoạt động phòng thủ dân sự và tình trạng khẩn cấp về thảm họa trên phạm vi cả nước; trực tiếp chỉ đạo Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các bộ, ngành trung ương và Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo

Ban Chỉ đạo tham mưu giúp Thủ tướng Chính phủ xây dựng, triển khai các chính sách, pháp luật, chiến lược, đề án, dự án, kế hoạch và các văn bản chỉ đạo điều hành của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố thiên tai, thảm họa và tìm kiếm cứu nạn; tình trạng khẩn cấp về thảm họa.

Đồng thời, chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức liên quan, địa phương thực hiện hoạt động phòng thủ dân sự, ban bố, bãi bỏ cấp độ phòng thủ dân sự; điều phối lực lượng phòng thủ dân sự chuyên trách, kiêm nhiệm bảo đảm cho hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa trên phạm vi cả nước, sẵn sàng tham gia các hoạt động quốc tế về hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức; tổ chức đào tạo, huấn luyện, diễn tập; xây dựng công trình và bảo đảm trang thiết bị; hợp tác quốc tế; sơ kết, tổng kết, khen thưởng về hoạt động phòng thủ dân sự.

Cơ cấu, tổ chức của Ban Chỉ đạo

Theo Quyết định, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm Trưởng Ban Chỉ đạo.

Các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo gồm: Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc (Phó Trưởng Ban Thường trực); Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng; Bộ trưởng Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ trưởng Bộ Y tế.

Ủy viên Thường trực là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ủy viên Ban Chỉ đạo gồm: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Công Thương; Bộ trưởng Bộ Xây dựng; Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ trưởng Bộ Tài chính; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Nội vụ; Trung tướng Đặng Hồng Đức, Thứ trưởng Bộ Công an; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp; Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoàng Công Thủy; Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam; Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam.

Thành viên Ban Chỉ đạo là Bộ trưởng, Trưởng ngành phân công 01 cơ quan, đơn vị thuộc quyền làm đầu mối để giúp việc thành viên Ban Chỉ đạo trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo phân công của Trưởng Ban Chỉ đạo và giúp việc cho Ban Chỉ đạo theo phạm vi, lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, ngành mình.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 1585/QĐ-TTg ngày 23/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức lại Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai, Ủy ban quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn thành Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia./.