Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/9/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/9/2026.
Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP ngày 21/9/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công.

Người có Bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật được tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật sư để trở thành luật sư công.
Quy định về đào tạo nghề luật sư cho người muốn trở thành luật sư công
Trong đó, Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định rõ việc đào tạo nghề luật sư cho người muốn trở thành luật sư công.
Nghị định quy định người có Bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật được tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật sư để trở thành luật sư công.
Thời gian đào tạo nghề luật sư là 12 tháng.
Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề luật sư được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư.
Những người sau đây được miễn đào tạo nghề luật sư để trở thành luật sư công:
a- Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sĩ luật;
b- Đã từng là thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 2, bậc 3; kiểm sát viên trung cấp, kiểm sát viên cao cấp; điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp; chấp hành viên cao cấp; thẩm tra viên cao cấp;
c- Đã từng là chấp hành viên trung cấp, thẩm tra viên chính;
d- Chuyên viên cao cấp, pháp chế viên cao cấp, thanh tra viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật;
đ- Chuyên viên chính, pháp chế viên chính, thanh tra viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật;
e- Đã từng là trợ giúp viên pháp lý và có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định các chức danh tương đương với các chức danh quy định tại d và đ ở trên.
Quy định về tập sự hành nghề luật sư để trở thành luật sư công
Về tập sự hành nghề luật sư để trở thành luật sư công, Nghị định quy định như sau:
1- Người muốn tập sự hành nghề luật sư để trở thành luật sư công là người đã có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư hoặc văn bản công nhận đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài hoặc thuộc trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư mà đáp ứng tiêu chuẩn quy định: Là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước; có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính.
2- Người đã từng là chấp hành viên trung cấp, thẩm tra viên chính; chuyên viên chính, pháp chế viên chính, thanh tra viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật; người đã từng là trợ giúp viên pháp lý hạng II thì thời gian tập sự là 04 tháng.
Người đã có thời gian giữ ngạch chuyên viên, pháp chế viên, thanh tra viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật, thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 1 từ 10 năm trở lên, người đã từng là trợ giúp viên pháp lý hạng III thì thời gian tập sự là 06 tháng.
Người đã có thời gian giữ ngạch chuyên viên, pháp chế viên, thanh tra viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật, thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 1 dưới 10 năm thì thời gian tập sự là 12 tháng.
3- Người muốn tập sự hành nghề luật sư lựa chọn tập sự tại một tổ chức hành nghề luật sư hoặc tại cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư tập sự.
Tổ chức hành nghề luật sư nhận tập sự hoặc cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư tập sự cử luật sư hướng dẫn và gửi văn bản tiếp nhận tập sự cho Đoàn Luật sư nơi đăng ký tập sự. Đoàn Luật sư ban hành Quyết định tập sự trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản tiếp nhận tập sự, trong đó nêu rõ tên luật sư tập sự, tên luật sư hướng dẫn, nơi tập sự và thời gian tập sự.
4- Đoàn Luật sư nơi có trụ sở của cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư tập sự thực hiện việc đăng ký tập sự.
Người được miễn tập sự hành nghề luật sư
Nghị định quy định cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước thuộc các trường hợp sau đây thì được miễn tập sự hành nghề luật sư:
- Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sĩ luật;
- Đã từng là thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 2, bậc 3; kiểm sát viên trung cấp, kiểm sát viên cao cấp; điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp; chấp hành viên cao cấp; thẩm tra viên cao cấp; trợ giúp viên pháp lý hạng I;
- Đang là chuyên viên cao cấp, pháp chế viên cao cấp, thanh tra viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.
Chế độ, chính sách đối với luật sư công
Nghị định quy định ngoài tiền lương, luật sư công làm việc trong doanh nghiệp nhà nước được hưởng mức hỗ trợ hằng tháng; mức hỗ trợ hằng tháng được thỏa thuận trong hợp đồng lao động với doanh nghiệp nhà nước.
Khoản hỗ trợ hằng tháng do cơ quan, doanh nghiệp quản lý của luật sư công chi trả cùng kỳ lương.
Ngoài khoản hỗ trợ hằng tháng và bồi dưỡng theo vụ, việc, luật sư công còn được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định tại Điều 10 của Nghị quyết số 24/2026/QH16.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/2026 đến ngày Nghị quyết số 24/2026/QH16 hết hiệu lực thi hành.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Trong đó, đáng chú ý là quy định về điều kiện, thủ tục tôn vinh và xét tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp.

Điều kiện, thủ tục xét tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp.
Quyết định này gồm 6 chương, 72 điều quy định thi hành khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 81, khoản 7 Điều 83, khoản 3 Điều 96 Luật Thi đua, khen thưởng về thẩm quyền khen thưởng, đề nghị khen thưởng đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, các hội ở trung ương và địa phương, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục, cơ sở giáo dục đại học tư thục.
Đồng thời, Quyết định cũng quy định trình tự, thủ tục xét tặng, truy tặng huy chương thanh niên xung phong vẻ vang và việc khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến; xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác; các loại mẫu huân huy chương, kỷ niệm chương; mẫu bằng danh hiệu thi đua, khen thưởng, thủ tục cấp đổi, cấp lại hiện vật khen thưởng….
Quyết định quy định việc xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác như sau:
Điều kiện tham dự của doanh nhân
1. Có phẩm chất đạo đức tốt, thực hiện nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức và nơi cư trú.
2. Giữ chức vụ quản lý doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác ổn định và phát triển liên tục từ 05 năm trở lên khi tham gia danh hiệu, giải thưởng của bộ, ngành, đoàn thể trung ương và từ 03 năm trở lên khi tham gia xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng của tỉnh, thành phố (tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị).
Trường hợp doanh nhân tham gia điều hành nhiều doanh nghiệp khác nhau hoặc chuyển việc thì được cộng dồn thời gian tham gia điều hành các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác để tính làm điều kiện tham gia xét danh hiệu, giải thưởng.
3. Có sáng kiến cải tiến, biện pháp quản lý hoặc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh vào sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Ứng dụng các công nghệ về trí tuệ nhân tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
4. Quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác. Thực hiện tốt, đầy đủ các chế độ đối với người lao động theo quy định của pháp luật.
5. Tích cực tham gia các phong trào thi đua do bộ, ngành, địa phương hoặc trung ương phát động, có đóng góp, ủng hộ và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh nhân và tổ chức kinh tế khác tại địa phương; quan tâm phát triển tổ chức Đảng, Công đoàn, các tổ chức quần chúng (nếu có) trong doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
6. Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác do doanh nhân quản lý phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật; có doanh thu; lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước, thu nhập người lao động ổn định và có tăng trưởng.
Các chỉ tiêu về ổn định và tăng trưởng phải được cụ thể hóa trong Quy chế xét tặng danh hiệu, giải thưởng của cơ quan, đơn vị tổ chức. Không có vụ việc vi phạm pháp luật đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận.
Điều kiện tham dự của doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác
1. Thực hiện đúng các điều kiện theo ngành, nghề đã đăng ký hoặc được cấp giấy phép đầu tư, các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, lao động, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, sở hữu trí tuệ, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các quy định pháp luật khác liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Hoạt động sản xuất, kinh doanh mang lại lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước ổn định và có tăng trưởng dương. Các chỉ tiêu về lợi nhuận, nộp ngân sách, tăng trưởng phải được cụ thể hóa bằng các chỉ số định lượng trong Quy chế xét tặng danh hiệu, giải thưởng của cơ quan, đơn vị tổ chức.
3. Có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hoặc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh vào sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo giúp tự động hóa quy trình, tối ưu hóa năng suất và nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo ra những giá trị đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của xã hội, đất nước.
4. Chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ về tài chính, thuế và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; tích cực đóng góp vào ngân sách nhà nước và quỹ phúc lợi xã hội.
5. Đảm bảo cho người lao động có việc làm ổn định và mức thu nhập không thấp hơn mức thu nhập trung bình ngành, lĩnh vực; thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động.
6. Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, tích cực tham gia hiệu quả các phong trào thi đua do bộ, ngành, địa phương hoặc trung ương phát động; tích cực phát triển tổ chức Đảng, Công đoàn, các tổ chức quần chúng (nếu có) trong doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
7. Không có vụ việc vi phạm pháp luật đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận.
Hồ sơ, thủ tục tổ chức phạm vi toàn quốc
1. Hồ sơ
a) Văn bản đề nghị của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ, ngành, đoàn thể trung ương.
b) Đề án tổ chức, trong đó có các nội dung: Tên danh hiệu, tên giải thưởng và nội dung tổ chức; mục đích, yêu cầu tổ chức; dự kiến thời gian, địa điểm tổ chức (địa điểm tổ chức phải đảm bảo về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự); phạm vi và hình thức tổ chức; số lượng và cơ cấu danh hiệu, giải thưởng; thành phần Ban Tổ chức và Hội đồng xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng. Trong đó quy định cụ thể về số lượng, cơ cấu, thành phần, chức năng, nhiệm vụ của Ban Tổ chức, Hội đồng xét tặng.
Trưởng Ban Tổ chức và Chủ tịch Hội đồng xét tặng là lãnh đạo bộ, ngành, đoàn thể trung ương hoặc lãnh đạo tỉnh, thành phố.
Thành viên Hội đồng xét tặng gồm đại diện cơ quan liên quan, các chuyên gia am hiểu và có trình độ về ngành, lĩnh vực, nội dung của danh hiệu, giải thưởng; phương án tài chính, trong đó nêu rõ: Nguồn thu, nguyên tắc thu, nguyên tắc chi, nội dung chi; trách nhiệm quản lý tài chính và tổ chức thực hiện.
Cam kết của đơn vị tổ chức về việc không thu kinh phí của doanh nhân, doanh nghiệp tham gia danh hiệu, giải thưởng dưới bất cứ hình thức nào.
c) Quy chế xét tặng danh hiệu, giải thưởng trong đó quy định: Ngành nghề, đối tượng tham dự, tiêu chí xét tặng (các tiêu chí phải phù hợp với tên gọi, nội dung của danh hiệu, giải thưởng và phù hợp với điều kiện quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Quyết định này), cách thức tổ chức xét tặng danh hiệu, giải thưởng và quy định cụ thể về các trường hợp bị thu hồi danh hiệu, giải thưởng đã trao tặng.
2. Thủ tục
a) Cơ quan, tổ chức, đơn vị lập hồ sơ trình Thủ trưởng bộ, ngành, đoàn thể trung ương gửi qua cơ quan tham mưu thực hiện công tác thi đua, khen thưởng cấp bộ;
b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan tham mưu thực hiện công tác thi đua, khen thưởng cấp bộ thẩm định, trình Thủ trưởng bộ, ngành, đoàn thể trung ương quyết định.
3. Trường hợp bộ, ngành, đoàn thể trung ương đã có Quyết định ban hành Quy chế về tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác, phù hợp với các quy định của Quyết định này thì việc tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng được thực hiện theo quy định của bộ, ngành, đoàn thể trung ương.
4. Thủ trưởng bộ, ngành, đoàn thể trung ương quyết định tổ chức và chịu trách nhiệm về việc tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác thuộc phạm vi quản lý.
Hồ sơ, thủ tục tổ chức phạm vi cấp tỉnh
1. Hồ sơ:
a) Văn bản đề nghị của sở, ban, ngành thuộc tỉnh, thành phố;
b) Đề án tổ chức theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 26 của Quyết định này. Trong đó nêu rõ: Ngành nghề, đối tượng tham dự, tiêu chí xét tặng, cách thức, quy trình xét tặng danh hiệu, giải thưởng. Cam kết không thu kinh phí của đối tượng tham gia dưới bất cứ hình thức nào.
2. Thủ tục:
a) Sở, ban, ngành lập hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi qua cơ quan chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh;
b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
3. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã có Quyết định ban hành Quy chế về tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp, phù hợp với các quy định của Quyết định này thì việc tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng được thực hiện theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tổ chức và chịu trách nhiệm về việc tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác thuộc phạm vi quản lý.
Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và thay thế Quyết định số 01/2026/QĐ-TTg ngày 01/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.
Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký Nghị quyết số 280/NQ-CP ngày 22/9/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Kế hoạch).

Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Mục tiêu của Kế hoạch nhằm tổ chức thể chế hóa và thực hiện đầy đủ, đồng bộ, nhất quán các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 10-NQ/TW).
Đồng thời, xác định rõ nhiệm vụ cụ thể, làm căn cứ để các bộ, ngành, địa phương xây dựng Kế hoạch hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết, bảo đảm hiện thực hóa mục tiêu khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển, tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.
Nhằm đạt được mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 10-NQ/TW, trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, các bộ, ngành, địa phương cần cụ thể hóa và quyết liệt tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ sau:
Đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài.
Bên cạnh đó, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ thu hút đầu tư chiến lược; đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, địa bàn; thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa, liên kết với khu vực kinh tế trong nước; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước; hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Ứng dụng triệt để chuyển đổi số nhằm cắt giảm tối đa thời gian xử lý thủ tục hành chính
Về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và địa phương rà soát các văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa bàn quản lý (đặc biệt trong các lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, quy hoạch, xây dựng, thuế, hải quan, thương mại, cạnh tranh, ngoại hối, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, lao động, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo,...) để kịp thời phát hiện các quy định chồng chéo, không phù hợp, điều kiện kinh doanh không cần thiết.
Bên cạnh đó, chủ động sửa đổi hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi các quy định quản lý chuyên ngành nhằm mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình phù hợp trên cơ sở đánh giá đầy đủ, toàn diện tác động, bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.
Ứng dụng triệt để chuyển đổi số nhằm cắt giảm tối đa thời gian xử lý thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ pháp luật và điều kiện kinh doanh; thực hiện liên thông giữa các cơ quan; quản trị đầu tư trên nền tảng số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo; phân cấp, phân quyền đi đôi với chuẩn hoá quy trình, công khai, minh bạch, hậu kiểm hiệu quả.
Lồng ghép Chương trình, Kế hoạch hành động phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong Chương trình, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các bộ, cơ quan, địa phương hằng năm và 05 năm; chủ động bố trí, lồng ghép kinh phí hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí để triển khai các hoạt động liên quan.
Xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật công bằng, minh bạch theo cơ chế thị trường trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia, không áp dụng hồi tố các quy định pháp luật để xử lý bất lợi cho doanh nghiệp, trừ trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; tránh chồng chéo, trùng lặp. Tăng cường giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư; kịp thời xử lý vi phạm, thu hồi ưu đãi hoặc áp dụng biện pháp phù hợp đối với trường hợp không thực hiện đúng cam kết, sử dụng lãng phí đất đai, tài nguyên, năng lượng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, trật tự, an toàn xã hội.
Bộ Tài chính xây dựng cơ chế hậu kiểm, đánh giá định kỳ việc thực hiện cam kết đầu tư; thu hồi ưu đãi, hỗ trợ nếu không thực hiện theo cam kết; ưu tiên các dự án có cam kết sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, đóng góp lớn vào đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, đào tạo và sử dụng nhân lực Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên, năng lượng và tuân thủ pháp luật.
Đồng thời, rà soát và công bố danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo hướng nới lỏng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài cho một số ngành, lĩnh vực cần ưu tiên thu hút đầu tư; nghiên cứu đề xuất chỉ giữ lại những ngành, nghề thực sự cần hạn chế vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Ban hành cơ chế cho phép sử dụng ngân sách địa phương hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đào tạo lao động
Về phát triển nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài, Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế chính sách cho phép các địa phương sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đào tạo lao động tại cơ sở đào tạo của doanh nghiệp ở trong và ngoài nước.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đẩy mạnh triển khai Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 24/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 - 2035 và định hướng năm 2045, gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên, các cụm liên kết ngành, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và dự án chiến lược.
Bên cạnh đó, rà soát, báo cáo cấp có thẩm quyền hoàn thiện quy định pháp luật trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động; ưu tiên các ngành công nghệ, kỹ thuật, dữ liệu, tự động tự động hóa, quản trị sản xuất, logistics, tài chính và các kỹ năng xanh, kỹ năng số thiết yếu.
Đồng thời, phối hợp với các địa phương rà soát, báo cáo cấp có thẩm quyền Đề án tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập để hình thành các trường trọng điểm để đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao tại các vùng kinh tế trọng điểm, đáp ứng yêu cầu thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới.
Xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi, linh hoạt cho các dự án cốt lõi
Về đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, Nghị quyết nêu rõ: Bộ Tài chính nghiên cứu báo cáo cấp có thẩm quyền xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ vượt trội, quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và linh hoạt cho các dự án cốt lõi ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài gắn với kết quả thực hiện cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động, giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; xác định tiêu chí, quy trình lựa chọn, cơ chế theo dõi và hỗ trợ đối với các dự án đầu tư chiến lược phù hợp từng giai đoạn phát triển.
Các địa phương xây dựng danh mục dự án ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với tiềm năng, lợi thế, định hướng phát triển vùng và địa phương, xác định lộ trình thu hút đầu tư nước ngoài, lồng ghép trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm và 05 năm của địa phương, ưu tiên thu hút các dự án chất lượng cao, có khả năng lan tỏa kết nối với doanh nghiệp nội địa trên địa bàn, phát triển các cụm liên kết ngành và hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ.
Kế hoạch kết nối VNeID với hệ thống định danh điện tử các nước ASEAN
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1830/QĐ-TTg ngày 22/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai nhiệm vụ kết nối ứng dụng định danh quốc gia VNeID với hệ thống định danh điện tử của các nước ASEAN (Kế hoạch).

Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai nhiệm vụ kết nối ứng dụng định danh quốc gia VNeID với hệ thống định danh điện tử của các nước ASEAN.
Mục đích của Kế hoạch nhằm kết nối ứng dụng định danh quốc gia VNeID với hệ thống định danh điện tử của Singapore, Lào và từng bước mở rộng với các nước ASEAN khác; xác định rõ phạm vi, đối tượng, lộ trình, phương thức kết nối và trách nhiệm của các bên trong quá trình triển khai.
Bên cạnh đó, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh, giảm khai báo trùng lặp và yêu cầu xuất trình giấy tờ; rút ngắn thời gian kiểm tra, xác minh, xử lý tại cửa khẩu, tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân thông qua khai thác, xác thực, đối soát thông tin định danh điện tử trên VNeID và hệ thống định danh điện tử của nước đối tác; qua đó góp phần tăng cường giao lưu nhân dân, thúc đẩy thương mại, đầu tư trong khu vực.
Đồng thời, thí điểm kết nối, xác thực và trao đổi thông tin định danh điện tử xuyên biên giới phục vụ thủ tục xuất nhập cảnh tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, bảo đảm an ninh, an toàn, bảo vệ dữ liệu và tuân thủ pháp luật.
Trên cơ sở kết quả thí điểm, đánh giá hiệu quả, khả năng tương thích, tính ổn định và các vướng mắc phát sinh để hoàn thiện mô hình, quy trình, tiêu chuẩn kết nối, làm cơ sở triển khai chính thức và xem xét mở rộng tại các cửa khẩu phù hợp của Việt Nam và các nước ASEAN.
Kết nối ứng dụng VNeID với hệ thống định danh điện tử của Singapore và Lào
Kế hoạch đưa ra các nội dung nhiệm vụ cụ thể như sau:
Về hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ, Kế hoạch yêu cầu trước ngày 30/10/2026, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện:
Trao đổi với cơ quan có thẩm quyền Singapore, Lào về việc kết nối ứng dụng định danh quốc gia VNeID với hệ thống định danh điện tử của nước Singapore và Lào; chủ trì về trình tự, thủ tục đối ngoại và cho ý kiến phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ; đề xuất nội dung trao đổi, loại văn kiện ký kết với phía Bạn.
Rà soát, xây dựng quy trình thực hiện thủ tục xuất nhập cảnh qua cửa khẩu tại Việt Nam đối với trường hợp sử dụng Singpass/LAeID và quy trình công dân Việt Nam sử dụng VNeID tại Singapore, Lào.
Xây dựng tài liệu kết nối, chia sẻ, tích hợp thông tin, dữ liệu giữa ứng dụng định danh quốc gia VNeID với ứng dụng định danh điện tử của các nước ASEAN.
Nghiên cứu xây dựng, ban hành hướng dẫn tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật kết nối với ứng dụng định danh điện tử của các nước ASEAN và các hệ thống khác.
Sản phẩm đầu ra gồm:
Văn bản hợp tác, thỏa thuận hoặc tài liệu thống nhất kỹ thuật, nghiệp vụ giữa Việt Nam và Singapore, Lào được cấp có thẩm quyền ký kết, làm cơ sở pháp lý triển khai kết nối, công nhận, xác thực định danh điện tử và trao đổi dữ liệu giữa các bên.
Xây dựng quy trình nghiệp vụ xuất nhập cảnh sử dụng định danh điện tử xuyên biên giới.
Ban hành tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật kết nối; tài liệu đặc tả kỹ thuật để kết nối ứng dụng định danh quốc gia VNeID với ứng dụng định danh điện tử của các nước ASEAN.
Đối với nhiệm vụ về hạ tầng, kỹ thuật, kết nối và tích hợp, Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan:
Chuẩn bị môi trường thử nghiệm, hạ tầng kỹ thuật, kênh truyền, máy chủ, cấu hình kết nối, tài khoản kỹ thuật, công cụ giám sát theo hướng dẫn tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật được ban hành.
Thực hiện kết nối, tích hợp ứng dụng định danh quốc gia VNeID với ứng dụng Singpass/LAeID trên môi trường thử nghiệm theo hướng dẫn tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật được ban hành.
Điều chỉnh, cấu hình tính năng trên hệ thống xuất nhập cảnh của Việt Nam và phối hợp phía Singapore, Lào điều chỉnh hệ thống tương ứng theo quy trình đã được phê duyệt.
Tổ chức kiểm thử chức năng, kiểm thử tích hợp, kiểm thử hiệu năng, kiểm thử xử lý lỗi, dự phòng và khôi phục dịch vụ; cấp tài liệu kỹ thuật, kịch bản, quyền truy cập, dữ liệu thử nghiệm và bố trí nhân sự phối hợp tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất.
Tổ chức kiểm thử luồng nghiệp vụ tại cửa khẩu.
Kiểm tra, đánh giá hạ tầng, hệ thống, an ninh thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và điều kiện, tiêu chuẩn theo tài liệu được ban hành trước khi thí điểm chính thức.
Kết quả thực hiện bao gồm:
Hoàn thành kết nối thử nghiệm; báo cáo kết quả tích hợp API, xác thực, đối soát dữ liệu và nhật ký giao dịch; hệ thống xuất nhập cảnh sẵn sàng tiếp nhận, xử lý luồng nghiệp vụ thí điểm sử dụng VNeID/Singpass/LAeID.
Kết quả kết nối; biên bản/báo cáo kiểm thử; văn bản xác nhận đủ điều kiện thí điểm.
Thời gian thực hiện: trước ngày 15/11/2026.
Tổ chức thí điểm tại 2 Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất
Ngoài ra, Kế hoạch yêu cầu trong năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành, cơ quan, địa phương thực hiện thí điểm, vận hành, đánh giá và mở rộng việc kết nối. Cụ thể như sau:
Tổ chức thí điểm kết nối ứng dụng định danh quốc gia VNeID với hệ thống định danh điện tử quốc gia của Singapore/Lào tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất; phối hợp đơn vị quản lý cảng hàng không, hãng hàng không và cơ quan có thẩm quyền của nước đối tác.
Đo lường, tổng hợp số liệu giao dịch thí điểm; đánh giá thời gian làm thủ tục, tỷ lệ xác thực thành công, tỷ lệ lỗi, số trường hợp xử lý thủ công, phản ánh của người dân, doanh nghiệp và rủi ro phát sinh.
Đánh giá tác động nghiệp vụ xuất nhập cảnh, mức độ giảm thời gian làm thủ tục, khả năng tích hợp với quy trình kiểm soát hiện hành, phương án mở rộng sang cửa khẩu khác.
Tổng hợp kết quả, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả thí điểm; đề xuất phương án triển khai chính thức.
Tiếp tục nghiên cứu, triển khai kết nối ứng dụng định danh quốc gia VNeID với hệ thống định danh điện tử quốc gia ASEAN khác.
Sau khi triển khai việc thí điểm, vận hành, đánh giá nêu trên, Kế hoạch yêu cầu các bộ, ngành, địa phương liên quan hoàn thành mô hình thí điểm vận hành tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất; có số liệu giao dịch thực tế, tỷ lệ xác thực, thời gian xử lý và phản hồi người dùng; báo cáo đánh giá tác động nghiệp vụ xuất nhập cảnh, mức độ giảm thời gian làm thủ tục, khả năng tích hợp với quy trình kiểm soát hiện hành, phương án mở rộng sang cửa khẩu khác và các nước ASEAN khác.
Có báo cáo tổng kết thí điểm; dự thảo kế hoạch mở rộng giai đoạn tiếp theo.
Đồng thời, kết nối ứng dụng định danh quốc gia VNeID với hệ thống định danh điện tử quốc gia ASEAN khác.
NHIỆM VỤ CỤ THỂ TRIỂN KHAI KẾT NỐI VNEID VỚI HỆ THỐNG ĐỊNH DANH ĐIỆN TỬ CỦA CÁC NƯỚC ASEAN.
Khẩn trương tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với những dự án luật có nội dung phức tạp, phạm vi điều chỉnh rộng
Văn phòng Chính phủ vừa có Công văn số 9605/VPCP-PL truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu về việc triển khai nhiệm vụ xây dựng pháp luật được giao tại các văn kiện Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và các nhiệm vụ lập pháp trong thời gian tới.

Các Bộ, ngành triển khai nhiệm vụ xây dựng pháp luật được giao tại các văn kiện Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và các nhiệm vụ lập pháp trong thời gian tới
Công văn nêu: Thực hiện ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Văn bản số 246/UBTVQH16-PLTP ngày 11 tháng 9 năm 2026 về việc triển khai nhiệm vụ xây dựng pháp luật được giao tại các văn kiện Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; triển khai các luật, nghị quyết vừa thông qua và các nhiệm vụ xây dựng pháp luật từ nay đến cuối năm 2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang bộ trên cơ sở kết quả rà soát bước đầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Danh mục các nhiệm vụ lập pháp cần phải triển khai thực hiện và định hướng nội dung sửa đổi, ban hành mới của các nhiệm vụ lập pháp (tại Phụ lục kèm theo Văn bản số 246/UBTVQH16-PLTP) tiếp tục rà soát kỹ, xác định đầy đủ các nhiệm vụ lập pháp thuộc phạm vi, lĩnh vực phụ trách; kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc đề xuất bổ sung các nhiệm vụ lập pháp vào Định hướng Chương trình lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, đồng thời đề xuất bổ sung các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết vào Chương trình lập pháp năm 2026 và các năm tiếp theo để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Đồng thời, khẩn trương hoàn thiện dự thảo Báo cáo của Chính phủ đánh giá tình hình thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ, báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về các giải pháp tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 206/2025/QH15 và kiến nghị Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, trong đó luật hóa cơ chế ủy quyền lập pháp theo Nghị quyết số 206/2025/QH15 và quy định cơ chế chuyển tiếp đối với các văn bản đã được ban hành theo Nghị quyết này.
Khẩn trương ban hành 27 văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết
Phó Thủ tướng cũng giao các Bộ, cơ quan ngang bộ theo chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, khẩn trương tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và chủ động ban hành theo thẩm quyền 27 văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, bảo đảm chất lượng, tiến độ trình ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm với luật, nghị quyết.
Tập trung nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và ý kiến của Chính phủ tại Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật ngày 16 tháng 9 năm 2026 để chỉnh lý, hoàn thiện các dự án bộ luật, luật đã được Quốc hội cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất; khẩn trương tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với những dự án có nội dung phức tạp, phạm vi điều chỉnh rộng như dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi).
Các Bộ, cơ quan ngang bộ theo chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội trong quá trình thẩm tra, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến đối với các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai; khẩn trương hoàn thiện hồ sơ các dự án luật, nghị quyết đã được Chính phủ xem xét, cho ý kiến, bảo đảm thời hạn trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 9 năm 2026.
Đồng thời, các Bộ, cơ quan ngang bộ theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động phối hợp với các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan liên quan chuẩn bị nội dung, tài liệu các dự án luật, nghị quyết theo yêu cầu để đưa ra thảo luận tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách (dự kiến tổ chức vào nửa cuối tháng 9 năm 2026).
Điều chỉnh Nghị quyết 127/NQ-CP về Dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thay mặt Chính phủ ký Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 22/9/2026 về việc bổ sung, điều chỉnh một số nội dung của Nghị quyết 127/NQ-CP ngày 13/5/2025 về triển khai Nghị quyết số 187/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.

Chính phủ bổ sung, điều chỉnh Nghị quyết 127/NQ-CP về Dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.
Cụ thể, Chính phủ quyết nghị bổ sung điểm (v) vào mục II.2.a của Nghị quyết 127/NQ-CP về nhiệm vụ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong triển khai thực hiện Dự án. Theo đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam quyết định đầu tư các tiểu dự án di dời công trình điện có điện áp từ 110kV trở lên phục vụ Dự án và không phải lập chủ trương đầu tư.
Đồng thời, Nghị quyết số 281/NQ-CP cũng bổ sung điểm 4 vào mục III Nghị quyết 127/NQ-CP về tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Cụ thể như sau:
"4. Bộ Xây dựng và các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức triển khai Dự án bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả, không phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực."
Các Phụ lục I và II của Nghị quyết 127/NQ-CP được thay thế bằng Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù.

Người chấp hành xong án phạt tù được vay tới 200 triệu đồng để tạo việc làm
Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg về đối tượng được vay vốn; mức vay sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm; chính sách vay vốn đi làm việc ở nước ngoài.
Mở rộng đối tượng được vay vốn
Cụ thể, Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Điều 1 về phạm vi điều chỉnh:
"Quyết định này quy định về chính sách tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù, cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng người lao động là người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, bao gồm:
1. Người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn để đào tạo nghề, sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
2. Cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng người lao động là người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm."
Như vậy, Quyết định 44/2026/QĐ-TTg mở rộng đối tượng được vay vốn là người chấp hành xong án phạt tù vay vốn để đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Sửa quy định về điều kiện vay vốn
Quyết định 44/2026/QĐ-TTg cũng sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 3 về điều kiện vay vốn đối với người chấp hành xong án phạt tù:
"Người chấp hành xong án phạt tù: Có nhu cầu vay vốn; có tên trong danh sách người chấp hành xong án phạt tù về cư trú tại địa phương, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không tham gia các tệ nạn xã hội, do Công an cấp xã lập và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận theo Mẫu số 01 kèm theo Quyết định này. Thời gian kể từ khi chấp hành xong án phạt tù đến thời điểm vay vốn tối đa là 10 năm (quy định cũ tại Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg là 5 năm).
Trường hợp vay vốn để đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì người chấp hành xong án phạt tù đã ký kết hợp đồng với doanh nghiệp dịch vụ, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật".
Quyết định 44/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 3: "Trường hợp người chấp hành xong án phạt tù và cơ sở sản xuất kinh doanh đang có dư nợ các chương trình tín dụng khác có cùng mục đích sử dụng vốn vay để đào tạo nghề và sản xuất kinh doanh, tạo việc làm thì tổng dư nợ cho vay của người chấp hành xong án phạt tù, cơ sở sản xuất kinh doanh theo Quyết định này và các chương trình tín dụng khác có cùng mục đích không vượt quá mức cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định này".
Nâng mức cho vay đối với người chấp hành xong án phạt tù lên 200 triệu đồng
Một điểm đáng chú ý là Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung khoản 1, 2 của Điều 6 về mức vốn cho vay:
1. Đối với vay vốn để đào tạo nghề: Mức vốn cho vay tối đa là 10 triệu đồng/tháng/người chấp hành xong án phạt tù (quy định cũ tại Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg là tối đa 4 triệu đồng).
2. Đối với vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm
a) Người chấp hành xong án phạt tù: Mức vốn cho vay tối đa là 200 triệu đồng/người chấp hành xong án phạt tù (quy định cũ tại Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg là tối đa 100 triệu đồng);
b) Cơ sở sản xuất kinh doanh: Mức vốn cho vay tối đa là 10 tỷ đồng/dự án và không quá 200 triệu đồng/người lao động tại cơ sở sản xuất kinh doanh (quy định cũ tại Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg tương ứng là tối đa 2 tỷ đồng và không quá 100 triệu đồng);
c) Người chấp hành xong án phạt tù, cơ sở sản xuất kinh doanh có thể vay vốn một hoặc nhiều lần để sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm nhưng tổng số tiền vay không vượt quá mức vay tối đa theo quy định tại điểm a và b khoản này".
Bổ sung chính sách vay vốn đi làm việc ở nước ngoài
Bên cạnh đó, Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg bổ sung khoản 3 Điều 6 như sau:
"Đối với vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Mức cho vay tối đa là 100% tổng chi phí khách hàng phải trả trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký kết giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ, đơn vị sự nghiệp, không bao gồm các khoản chi đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ theo quy định.
Căn cứ vào nguồn vốn, tổng chi phí người lao động phải trả trước khi đi làm việc ở nước ngoài, các khoản chi đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ kê khai tại hồ sơ vay vốn và khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn, Ngân hàng Chính sách xã hội thỏa thuận, thống nhất với đối tượng vay vốn để xem xét, quyết định mức vay cụ thể".
Quyết định này có hiệu lực thi hành từ 20/11/2026.
Công tác triển khai Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam"
Văn phòng Chính phủ có văn bản số 9636/VPCP-KGVX ngày 22/9/2026 truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà về công tác triển khai Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam".

Văn bản nêu: Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11" giai đoạn 2026 - 2030 (tại Quyết định số 1111/QĐ-TTg ngày 19/6/2026).
Nhằm đưa "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11" thực sự trở thành ngày hội của toàn dân, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng cống hiến và phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa, con người Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu:
Việc tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11" năm 2026 phải bảo đảm trang trọng, thiết thực, có chiều sâu, có sức lan tỏa; phải tạo được dấu ấn mới về cách tổ chức các sự kiện văn hóa có ý nghĩa quốc gia, góp phần cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới.
Đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức; lấy hiệu quả hưởng thụ của Nhân dân làm thước đo đánh giá
Đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức, kiên quyết chấm dứt tình trạng hành chính hóa; chuyển hình thức tổ chức dưới dạng lễ kỷ niệm, hội nghị trong hội trường sang các không gian công cộng (quảng trường, phố đi bộ, di tích văn hóa - lịch sử, bảo tàng, công viên, nhà văn hóa thôn/bản...) với các chuỗi hoạt động trải nghiệm thực chất ngoài cộng đồng; lấy người dân, cộng đồng, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, doanh nghiệp và thế hệ trẻ vừa là trung tâm, vừa là chủ thể tham gia, sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng trực tiếp mọi thành quả văn hóa.
Các hoạt động kỷ niệm phải thể hiện được bản sắc văn hóa Việt Nam, đồng thời phản ánh tinh thần đổi mới, sáng tạo, hội nhập và khát vọng phát triển đất nước; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa với phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, du lịch di sản và kinh tế số; lấy hiệu quả hưởng thụ văn hóa của Nhân dân và mức độ lan tỏa xã hội làm thước đo đánh giá kết quả thực hiện.
Kết hợp hài hòa nguồn lực từ ngân sách nhà nước với huy động tối đa các nguồn xã hội hóa hợp pháp theo quy định; trong đó, triệt để thực hành tiết kiệm, an toàn, hiệu quả trong các hoạt động tổ chức kỷ niệm.
Đồng thời, bảo đảm quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đúng quy định, tránh phô trương, hình thức, lãng phí; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nếp sống văn minh tại các không gian công cộng.
Phấn đấu để mỗi hoạt động trở thành một sản phẩm văn hóa cụ thể và có khả năng lan tỏa, mỗi địa phương có một dấu ấn văn hóa, qua đó từng bước xây dựng "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11" trở thành một thương hiệu văn hóa quốc gia.
Đưa di sản văn hóa, các giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành các sản phẩm văn hóa có sức lan tỏa, có giá trị của Việt Nam để quảng bá ra thị trường trong nước và quốc tế.
Hướng dẫn thống nhất tiêu chí tổ chức hoạt động cho các địa phương
Để chuẩn bị cho việc tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11" năm 2026, năm mở đầu triển khai Kế hoạch của giai đoạn 2026 - 2030, diễn ra sôi nổi, vui tươi, thiết thực, tạo hiệu ứng lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội, Phó Thủ tướng đề nghị:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương xây dựng Kế hoạch tổng thể tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11" năm 2026 kèm theo bộ nhận diện Ngày Văn hóa Việt Nam (logo, khẩu hiệu, ấn phẩm và thông điệp truyền thông) để sử dụng thống nhất trên toàn quốc và trên môi trường số.
Trong đó, làm rõ chủ đề, thông điệp, nội dung, quy mô, địa điểm, hoạt động trọng tâm, bảo đảm ngắn gọn, cô đọng, có điểm nhấn, có sản phẩm đặc trưng, tránh dàn trải; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 05/10/2026.
Hướng dẫn thống nhất cho các địa phương tiêu chí tổ chức hoạt động sôi nổi, tiết kiệm, tránh phô trương, lãng phí.
Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các địa phương xây dựng các hoạt động trải nghiệm văn hóa, di sản, làng nghề, ẩm thực, nghệ thuật truyền thống gắn với các sản phẩm, tuyến, điểm du lịch; tạo hiệu ứng lan tỏa từ sự kiện văn hóa sang phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.
Tổ chức đợt phát động sáng tác văn học, nghệ thuật lan tỏa tinh thần yêu nước và khát vọng cống hiến, tạo không khí văn hóa rộng khắp trong toàn xã hội trong Ngày Văn hóa Việt Nam.
Nghiên cứu tổ chức theo hướng một sự kiện trọng tâm kết hợp chuỗi hoạt động hưởng ứng trên phạm vi cả nước, bảo đảm nội dung hấp dẫn, dễ tiếp cận, nhất là đối với thanh thiếu niên.
Lựa chọn một số sản phẩm văn hóa đặc sắc, có khả năng trở thành sản phẩm thương hiệu thường niên, gắn với di sản, nghệ thuật, văn học, điện ảnh, âm nhạc, ẩm thực, thiết kế, thủ công mỹ nghệ và các lĩnh vực công nghiệp văn hóa của Việt Nam để quảng bá, giới thiệu trong Ngày Văn hóa Việt Nam.
Quảng bá hình ảnh đất nước đến cộng đồng quốc tế trong tháng 11 hàng năm
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nghiên cứu tổ chức các hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11" tại một số địa bàn phù hợp, gắn với ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
Bộ Ngoại giao chỉ đạo các Cơ quan đại diện Việt Nam và Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, di sản văn hóa dân tộc và con người Việt Nam đến cộng đồng quốc tế và kiều bào trong tháng 11 hàng năm.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo phát động, tổ chức các chương trình ngoại khóa, tham quan bảo tàng, học tập lịch sử qua di sản, đưa trò chơi dân gian, thực hành di sản văn hóa vào trường học trong tuần lễ hưởng ứng "Ngày Văn hóa Việt Nam" hàng năm.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11" năm 2026 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành, chủ động xây dựng Kế hoạch triển khai cụ thể của địa phương mình.
Trong đó, xác định rõ chủ đề, thông điệp "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11", chủ động bố trí nguồn ngân sách và đẩy mạnh huy động các nguồn hợp pháp khác để tổ chức thực hiện; trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ban hành trước ngày 20/10/2026.
Mỗi tỉnh, thành phố lựa chọn hoạt động, sản phẩm quảng bá gắn với xúc tiến, kích cầu du lịch
Bên cạnh đó, chủ động triển khai các chuỗi hoạt động giao lưu văn nghệ, thể thao vui tươi, sôi nổi, lành mạnh phù hợp với điều kiện thực tế và đặc trưng văn hóa của địa phương; khuyến khích tổ chức các hoạt động phù hợp tại bảo tàng, thư viện, di tích văn hóa lịch sử, không gian công cộng, cơ sở giáo dục và các điểm du lịch...
Mỗi tỉnh, thành phố lựa chọn ít nhất một hoạt động, sản phẩm hoặc không gian văn hóa tiêu biểu, đặc trưng của địa phương (tuyến phố đi bộ, lễ hội dân gian truyền thống, không gian ẩm thực - làng nghề...) để giới thiệu, quảng bá trong "Ngày Văn hóa Việt Nam" gắn với xúc tiến, kích cầu du lịch địa phương.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo triển khai công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường; kiên quyết xử lý tình trạng biến tướng lễ hội, mê tín dị đoan hoặc thương mại hóa quá mức các giá trị di sản.
Phó Thủ tướng đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động sản xuất các phóng sự chuyên đề hưởng ứng "Ngày Văn hóa Việt Nam - 24/11", nhằm lan tỏa mạnh mẽ các giá trị văn hóa dân tộc trên các nền tảng mạng xã hội, thu hút giới trẻ.
Phó Thủ tướng cũng đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chủ trì phát động các cuộc thi sáng tạo nội dung quảng bá, giới thiệu về văn hóa dân tộc; vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tích cực tham gia bảo tồn, lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của Việt Nam.
Thủ tướng điều động, bổ nhiệm lãnh đạo Văn phòng Chính phủ và Bộ Xây dựng
Ngày 21/9/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký các Quyết định điều động, bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ và Thứ trưởng Bộ Xây dựng.
Tại Quyết định số 1819/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ điều động, bổ nhiệm ông Nguyễn Danh Huy, Thứ trưởng Bộ Xây dựng giữ chức Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
Tại Quyết định số 1818/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ điều động, bổ nhiệm ông Lê Hồng Vinh, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị giữ chức Thứ trưởng Bộ Xây dựng./.