• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 24/10/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 24/10/2026.

24/10/2026 22:27
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 24/10/2026- Ảnh 1.

Cơ sở trợ giúp xã hội trong đó có nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống và không có điều kiện sinh sống tại gia đình, cộng đồng.

Quy định về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 395/2026/NĐ-CP ngày 23/10/2026 quy định về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội.

Nghị định này quy định về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội; quy định chi tiết một số nội dung tại: Khoản 3 Điều 47 Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12; khoản 2 Điều 20 Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12.

Nghị định này quy định biện pháp để tổ chức thi hành Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và pháp luật có liên quan về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội.

Các loại hình của cơ sở trợ giúp xã hội

Nghị định quy định các loại hình của cơ sở trợ giúp xã hội gồm:

1. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người cao tuổi.

2. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

3. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người khuyết tật.

4. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí.

5. Cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp thực hiện việc chăm sóc nhiều đối tượng bảo trợ xã hội hoặc đối tượng cần trợ giúp xã hội.

6. Trung tâm công tác xã hội.

7. Cơ sở tư vấn, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi dài hạn; cơ sở tư vấn, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ban ngày quy định tại điểm b khoản 2 Điều 20 Luật Người cao tuổi.

8. Cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật dài hạn; cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật ban ngày quy định tại điểm b khoản 2 Điều 47 Luật Người khuyết tật.

9. Trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập quy định tại điểm b khoản 2 Điều 47 Luật Người khuyết tật.

10. Cơ sở trợ giúp xã hội khác theo quy định của pháp luật.

Chức năng của cơ sở trợ giúp xã hội

Cơ sở trợ giúp xã hội có chức năng phòng ngừa, chăm sóc, nuôi dưỡng, can thiệp, trị liệu hỗ trợ phục hồi, phát triển và hòa nhập cộng đồng cho đối tượng.

Nhiệm vụ của cơ sở trợ giúp xã hội

Điều 6 của Nghị định quy định nhiệm vụ của cơ sở trợ giúp xã hội.

Theo đó, cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện một số hoặc đầy đủ các nhiệm vụ sau đây phù hợp với chức năng, loại hình cơ sở, đối tượng phục vụ, yêu cầu hoạt động theo quy định của pháp luật, cụ thể:

1. Cung cấp các dịch vụ chăm sóc, trợ giúp khẩn cấp

a) Tiếp nhận đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp;

b) Đánh giá các nhu cầu của đối tượng; sàng lọc và phân loại đối tượng. Trường hợp cần thiết thì chuyển gửi đối tượng tới các cơ sở y tế, giáo dục, cơ quan công an, tư pháp hoặc các cơ quan, tổ chức phù hợp khác theo quy định của pháp luật;

c) Bảo đảm sự an toàn và đáp ứng các nhu cầu bảo vệ khẩn cấp của đối tượng như: chăm sóc y tế, nơi tạm trú an toàn, nước uống, thực phẩm, quần áo, đồ dùng thiết yếu và đi lại.

2. Tham vấn, trị liệu rối nhiễu tâm trí, khủng hoảng tâm lý và phục hồi thể chất cho đối tượng.

3. Tư vấn và trợ giúp đối tượng thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội; kết nối, phối hợp và giới thiệu đến Trung tâm trợ giúp pháp lý để thực hiện cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý có nhu cầu; phối hợp với các cơ quan, tổ chức phù hợp khác để bảo vệ, trợ giúp đối tượng; tìm kiếm, sắp xếp các hình thức chăm sóc.

4. Đánh giá nhu cầu, sàng lọc, phân loại đối tượng; xây dựng kế hoạch can thiệp và trợ giúp đối tượng; giám sát và rà soát, đánh giá các hoạt động can thiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch; lập hồ sơ quản lý trường hợp và lưu trữ hồ sơ hoặc thực hiện kế hoạch can thiệp, trợ giúp mới (nếu đối tượng có nhu cầu).

5. Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống và không có điều kiện sinh sống tại gia đình, cộng đồng.

6. Cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh hoặc kết nối với các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; kết nối chuyển gửi đối tượng đến cơ sở khác phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của đối tượng.

7. Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, trợ giúp các đối tượng trong các hoạt động tự quản, văn hóa, thể thao, các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe của từng nhóm đối tượng lao động sản xuất theo quy định của pháp luật.

8. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức để hỗ trợ đối tượng tiếp cận, tham gia các chương trình giáo dục phổ thông các cấp, giáo dục nghề nghiệp và đại học, giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt và hướng nghiệp phù hợp với nhu cầu, khả năng của đối tượng nhằm giúp đối tượng phát triển về thể chất, trí tuệ, nhân cách và hòa nhập cộng đồng.

9. Cung cấp các dịch vụ về giáo dục xã hội và nâng cao năng lực

a) Cung cấp các dịch vụ về giáo dục xã hội, phát triển khả năng tự giải quyết các vấn đề, giáo dục kỹ năng làm cha mẹ; đào tạo kỹ năng sống cho trẻ em và người chưa thành niên;

b) Hợp tác với các cơ sở đào tạo tổ chức đào tạo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, trợ giúp đối tượng;

c) Tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo cung cấp kiến thức, kỹ năng cho các nhóm đối tượng có nhu cầu.

10. Quản lý đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội.

11. Cung cấp dịch vụ công tác xã hội và tổ chức các hoạt động thực hành công tác xã hội, cập nhật kiến thức công tác xã hội theo quy định của pháp luật về công tác xã hội.

12. Thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn và bị xâm hại, bạo lực, ngược đãi.

13. Phát triển cộng đồng

a) Liên hệ với người dân, chính quyền các cấp trong việc xác định các vấn đề của cộng đồng để xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp cộng đồng;

b) Đề xuất chính sách với các cơ quan có thẩm quyền;

c) Xây dựng mạng lưới nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội, tình nguyện viên công tác xã hội.

14. Chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương, gia đình và các cơ quan, tổ chức có liên quan đưa đối tượng trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng; hỗ trợ, tạo điều kiện cho đối tượng ổn định cuộc sống.

15. Thực hiện cung cấp dịch vụ sự nghiệp công về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và các đối tượng tự nguyện khác có nhu cầu trợ giúp.

16. Tổ chức các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức, phổ biến chính sách pháp luật.

17. Thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ theo yêu cầu và các nhiệm vụ khác do cấp có thẩm quyền quyết định.

18. Tổ chức vận động và tiếp nhận sự hỗ trợ tài chính, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để thực hiện các hoạt động của cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật.

19. Cơ sở trợ giúp xã hội công lập thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập và các nhiệm vụ quy định tại Điều này.

Nghị định 395/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 07/12/2026.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 105-KL/TW, ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Nghị quyết số 336/NQ-CP ngày 23/10/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 105-KL/TW, ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Xây dựng Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài theo hướng mở

Trong đó, Chính phủ giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính phủ hồ sơ Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc biệt về công tác nhân tài.

Xây dựng Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài theo hướng mở, linh hoạt, gồm tiêu chí chung và tiêu chí đặc thù theo nhóm đối tượng, ngành, lĩnh vực, loại nhiệm vụ; rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các quy định về thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài trong hệ thống chính trị, trong đó có Nghị định số 179/2024/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ quy định chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, bảo đảm thống nhất với cơ chế, chính sách đặc biệt được cấp có thẩm quyền quyết định; nghiên cứu hoàn thiện chính sách về tiền lương, nhà ở, đất đai và phân cấp, phân quyền trong công tác nhân tài, ưu tiên địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo.

Xây dựng, quản lý thống nhất, đồng bộ Cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân tài, Hệ thống chỉ số quốc gia về nhân tài, Cổng thông tin quốc gia về nhân tài; quy định hoặc trình cấp có thẩm quyền quy định tiêu chí, phương pháp đánh giá, cơ chế thu thập, cập nhật, xác thực, kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu; bảo đảm thống nhất, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro, đánh giá và bảo vệ người thực hiện nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung; xác định rõ căn cứ đánh giá rủi ro khách quan, thiện chí, mức độ tuân thủ và phân biệt với hành vi vi phạm pháp luật, gian lận, vụ lợi, cố ý làm trái; gắn khuyến khích đổi mới, sáng tạo với kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.

Xây dựng cơ chế biểu dương, tôn vinh nhân tài quốc gia bảo đảm công khai, minh bạch, thực chất, gắn với hiệu quả cống hiến.

Xây dựng cơ chế phối hợp, liên thông giải quyết thủ tục hành chính đối với nhân tài quốc tế và thành viên gia đình; xác định rõ đầu mối, trách nhiệm, quy trình và thời hạn giải quyết, bảo đảm thống nhất với quy định về nhập cảnh, cư trú và các quy định pháp luật có liên quan.

Xác định, cập nhật danh mục ngành, lĩnh vực mũi nhọn,... cần thu hút nhân tài

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan xác định, cập nhật danh mục ngành, lĩnh vực mũi nhọn, nhiệm vụ chiến lược, chương trình, đề án, dự án, công trình trọng điểm, bài toán lớn quốc gia và nhiệm vụ đột phá cần thu hút nhân tài; trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành, công bố theo thẩm quyền.

Phát triển các nền tảng số, công cụ công nghệ phục vụ tìm kiếm, kết nối, dự báo nhu cầu và điều phối nhân tài; bảo đảm kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân tài, không đầu tư trùng lặp, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Đầu tư xây dựng các Nhóm nghiên cứu mạnh, Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, Trung tâm công nghệ chiến lược, Trung tâm đổi mới sáng tạo chuyên sâu và Trung tâm tính toán hiệu năng cao gắn với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong công tác nhân tài và chỉ áp dụng đối với các cơ chế đặc thù về giao nhiệm vụ, sử dụng, đãi ngộ, tài chính, sở hữu trí tuệ, tiếp cận hạ tầng nghiên cứu đối với nhân tài trong cơ sở nghiên cứu, giáo dục đại học, đổi mới sáng tạo và nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Xây dựng Chương trình "Nhân tài dẫn dắt nhân tài"

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng Chương trình "Nhân tài dẫn dắt nhân tài", thực hiện chế độ cố vấn, hướng dẫn, trao đổi giữa chuyên gia đầu ngành với nhân tài trẻ; xây dựng các chương trình phát hiện sớm, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân tài theo nhóm đối tượng, ngành, lĩnh vực và giai đoạn; ưu tiên phát hiện, đào tạo sớm học sinh, sinh viên tài năng trong các lĩnh vực mũi nhọn, chiến lược; bồi dưỡng, nâng tầm chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư, nhà quản lý, doanh nhân trẻ và nhân lực kỹ năng cao đạt trình độ quốc tế; gắn đào tạo với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, thực tiễn và có cơ chế theo dõi, hỗ trợ phát triển lâu dài nhân tài.

Xây dựng cơ chế lựa chọn, cử nhà khoa học xuất sắc, tài năng trẻ tham gia đào tạo, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới; gắn kết quả đào tạo, nghiên cứu ở nước ngoài với nhiệm vụ, sản phẩm, yêu cầu phát triển đội ngũ trong nước và việc tiếp nhận, ứng dụng tri thức, công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu cùng đầu tư, sử dụng và phát triển nhân tài.

Xây dựng chương trình đầu tư, nâng cấp một số cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm và trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo đạt trình độ khu vực, quốc tế; xác định danh mục ưu tiên, gắn đầu tư với nhiệm vụ khoa học, công nghệ lớn, dự án trọng điểm và bài toán chiến lược quốc gia để đào tạo, phát triển nhân tài qua thực tiễn

Phát triển các Trung tâm nghiên cứu xuất sắc và Trung tâm kết nối, phát triển nhân tài; xác định mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động, nguồn lực và lộ trình thực hiện.

Xây dựng cơ chế tài chính đặc thù cho thu hút và trọng dụng nhân tài

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế tài chính đặc thù cho thu hút và trọng dụng nhân tài; bố trí ngân sách nhà nước cho công tác nhân tài đạt khoảng 0,1% GDP hằng năm trong tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; địa phương tự chủ ngân sách được quyết định mức chi cao hơn.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính tạo điều kiện cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia phát hiện, tiến cử, thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, đồng tài trợ cho đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và công nghệ mới.

Bảo đảm nguồn kinh phí thực hiện Nghị quyết theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, phù hợp khả năng cân đối ngân sách nhà nước hằng năm.

Đa dạng hóa phương thức phát hiện, giới thiệu, tiến cử, tuyển chọn nhân tài

Các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các quan điểm, chủ trương, chính sách về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trực tiếp thu hút, trọng dụng nhân tài; đưa phát triển nhân tài vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương. Kết quả thu hút, trọng dụng và phát huy nhân tài là một trong những căn cứ đánh giá trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và người đứng đầu.

Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành cơ chế, chính sách thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước để tháo gỡ vướng mắc trong phát hiện, thu hút, sử dụng và phát huy nhân tài. Đổi mới phương thức quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực theo hướng đặt hàng, giao nhiệm vụ, khoán chi, tài trợ theo nhiệm vụ, sản phẩm và kết quả phù hợp với tính chất từng lĩnh vực; thúc đẩy hợp tác công tư, đồng tài trợ và đa dạng hóa nguồn lực hợp pháp; gắn quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình, kiểm tra, giám sát và hậu kiểm.

Căn cứ nhu cầu thực tiễn, danh mục ngành, lĩnh vực mũi nhọn và các nhiệm vụ chiến lược, chương trình, đề án, dự án, công trình trọng điểm, bài toán lớn quốc gia và nhiệm vụ đột phá được cấp có thẩm quyền công bố để xác định nhu cầu, số lượng, cơ cấu nhân tài cần thu hút; xây dựng kế hoạch tuyển chọn, bố trí, sử dụng và phát triển nhân tài phù hợp chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và nguồn lực.

Đa dạng hóa phương thức phát hiện, giới thiệu, tiến cử, tuyển chọn nhân tài; bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, dựa trên phẩm chất, năng lực, sản phẩm, kết quả và đóng góp thực tế.

Khuyến khích, tạo điều kiện để cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp và địa phương tham gia phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài; tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, phát triển nhân tài; khuyến khích chuyên gia, nhà khoa học tham gia cố vấn, hướng dẫn, chuyển giao tri thức và phát triển đội ngũ kế cận.

Đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy trình nội bộ liên quan đến nhân tài; thiết lập cơ chế đối thoại định kỳ với đội ngũ nhân tài, chuyên gia, nhà khoa học và doanh nhân; tiếp nhận, phân loại, xử lý và phản hồi kiến nghị theo thẩm quyền.

Tăng cường mạng lưới, diễn đàn và chương trình hợp tác quốc tế về nhân tài; xây dựng kế hoạch, chương trình đặt hàng, tiếp nhận và sử dụng người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế tham gia đào tạo, cố vấn, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, chủ trì hoặc đồng chủ trì các nhiệm vụ, chương trình, dự án chiến lược tại Việt Nam.

Các bộ, cơ quan được giao chủ trì xây dựng đề án thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài theo ngành, lĩnh vực, xác định nhu cầu, số lượng nhân tài cần thu hút và nguồn lực thực hiện, gắn với các nhiệm vụ chiến lược, chương trình, đề án, dự án, công trình trọng điểm, bài toán lớn quốc gia và nhiệm vụ đột phá; tránh trùng lặp về đối tượng, nhiệm vụ hoặc cơ chế, chính sách.

Kế hoạch thực hiện Kết luận số 107-KL/TW ngày 17/10/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định 2034/QĐ-TTg ngày 23/10/2026 ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 107-KL/TW ngày 17/10/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế.

Kế hoạch nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp thuộc trách nhiệm quản lý, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thực hiện Kết luận số 107-KL/TW; bảo đảm việc rà soát, hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm gắn với yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Sử dụng kết quả rà soát chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm làm căn cứ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031, bố trí, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm phù hợp với yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và điều kiện thực tiễn của từng ngành, lĩnh vực, địa phương.

Đổi mới công tác quản lý, sử dụng và đãi ngộ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm; gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ, năng suất và hiệu quả công việc; đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ, chuyển đổi số và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức thực hiện công việc

Một trong các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Kế hoạch là rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức thực hiện công việc.

Cụ thể, các bộ, cơ quan ngang bộ rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và phương thức thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; xác định những nội dung thay đổi do sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, chuyển giao nhiệm vụ và yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố rà soát việc phân công nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; làm rõ nhiệm vụ tiếp tục thực hiện, nhiệm vụ mới được giao, nhiệm vụ chuyển giao, nhiệm vụ không còn thực hiện hoặc thay đổi về phạm vi, đối tượng, quy trình và trách nhiệm giải quyết.

Trên cơ sở kết quả rà soát, xác định những công việc, công đoạn còn chồng chéo, trùng lặp, bỏ sót hoặc chưa rõ trách nhiệm; đánh giá khả năng điều chỉnh quy trình, đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, tổ chức thực hiện tập trung hoặc dùng chung, giao tự chủ, đặt hàng, đấu thầu, xã hội hóa dịch vụ công theo quy định.

Đối với nhiệm vụ có khả năng thay đổi phương thức thực hiện, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đánh giá điều kiện thực hiện, tác động đến khối lượng công việc, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và nhu cầu nhân lực. Đối với nội dung cần điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức bộ máy hoặc cơ chế thực hiện vượt thẩm quyền, tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Việc đề xuất phân cấp, phân quyền phải gắn với phân định rõ trách nhiệm, điều kiện tổ chức thực hiện và nguồn lực cần thiết; bảo đảm nhiệm vụ được giao có cơ quan chịu trách nhiệm, có điều kiện thực hiện và không làm phát sinh chồng chéo về thẩm quyền.

Xác định vị trí việc làm

Nhiệm vụ, giải pháp khác là xác định vị trí việc làm. Cụ thể, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm thuộc phạm vi quản lý trên cơ sở kết quả rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức thực hiện công việc; kế thừa các danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc, khung năng lực đã được phê duyệt, xác nhận và còn phù hợp; cập nhật những nội dung thay đổi, còn thiếu hoặc chưa được kiểm chứng.

Việc hoàn thiện vị trí việc làm phải phản ánh đúng nhiệm vụ, công việc chủ yếu, sản phẩm đầu ra, trách nhiệm, quan hệ công tác và yêu cầu năng lực; phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của công việc, đặc thù ngành, lĩnh vực, địa bàn và mô hình tổ chức. Đối với nhiệm vụ được chuyển giao, phân cấp, phân quyền hoặc thay đổi phương thức thực hiện, phải xác định rõ phần việc còn lại, phần việc phát sinh và trách nhiệm thực hiện ở từng cấp, từng cơ quan, đơn vị.

Chủ động điều chỉnh, thiết kế lại vị trí việc làm khi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền hoặc phương thức thực hiện thay đổi. Trường hợp có nội dung cần điều chỉnh thuộc thẩm quyền của cơ quan khác, cơ quan quản lý tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Xác định nhu cầu nhân lực theo vị trí việc làm

Các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xác định nhu cầu nhân lực theo từng vị trí việc làm trên cơ sở nhiệm vụ, sản phẩm, khối lượng, tần suất, mức độ phức tạp, chất lượng, thời gian, địa bàn, điều kiện thực hiện và năng lực cần thiết thực hiện nhiệm vụ; lựa chọn phương pháp xác định phù hợp với tính chất của từng nhóm công việc theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và cơ quan có thẩm quyền.

Việc xác định nhu cầu nhân lực phải tính đến tác động của sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, chuyển giao nhiệm vụ, thay đổi quy trình, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, tổ chức công việc dùng chung, thực hiện tự chủ, đặt hàng, đấu thầu và xã hội hóa dịch vụ công theo quy định. Đối với công việc khó lượng hóa bằng thời gian hoặc sản phẩm định lượng, phải căn cứ đặc điểm nhiệm vụ, mức độ phức tạp, trách nhiệm, tiến độ và yêu cầu năng lực để đánh giá phù hợp; không quy đổi cơ học thành số lượng nhân lực khi chưa có căn cứ. Không đồng nhất một vị trí việc làm với một cá nhân hoặc một chỉ tiêu biên chế; không tự động quy đổi nhu cầu nhân lực thành chỉ tiêu biên chế.

Số liệu về khối lượng công việc, thời gian thực hiện và nhân lực hiện có phải xác định rõ phạm vi, kỳ thống kê, nguồn dữ liệu và cơ quan xác nhận. Đối với nhiệm vụ mới phát sinh, nhiệm vụ mới chuyển giao hoặc đơn vị chưa có đủ thời gian thống kê, phải thuyết minh rõ cơ sở xác định, không cơ học quy đổi số liệu của thời gian ngắn thành số liệu cả năm.

Xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031

Trên cơ sở nhu cầu nhân lực đã xác định, các bộ, cơ quan, địa phương đối chiếu với đội ngũ hiện có; xác định đúng nơi thừa, nơi thiếu, nơi bố trí chưa phù hợp về cơ cấu chuyên môn và chất lượng; ưu tiên sắp xếp, điều chuyển, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả nhân lực hiện có trước khi đề xuất điều chỉnh biên chế. Trên cơ sở đó, xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031 theo từng năm, có thuyết minh về cơ sở dự báo, thay đổi nhiệm vụ, quy mô hoạt động và điều kiện bảo đảm thực hiện.

Phương án biên chế phải phân biệt rõ nhu cầu nhân lực theo yêu cầu công việc với số lượng biên chế để xuất và biên chế được cấp có thẩm quyền giao; phù hợp với yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ, khả năng cân đối nguồn lực và quy định về quản lý biên chế. Không lấy số lượng nhân lực tính toán được làm căn cứ tự động đề xuất tăng biên chế hoặc thay thế thẩm quyền quyết định biên chế.

Bộ Nội vụ chủ trì tổng hợp, rà soát tính thống nhất của kết quả xác định nhu cầu nhân lực và phương án biên chế thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ; phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đánh giá điều kiện bảo đảm thực hiện, xử lý những nội dung khác biệt, chưa thống nhất thuộc thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Tiến độ thực hiện

Ngay sau khi Kế hoạch được ban hành, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm quản lý; bảo đảm thống nhất với Kết luận số 107-KL/TW, Hướng dẫn số 07-HD/BTCTW và yêu cầu, tiến độ chung do cơ quan có thẩm quyền xác định.

Trong Quý IV năm 2026, tập trung hoàn thành việc rà soát, cập nhật và kiểm chứng các thông tin, dữ liệu cần thiết; xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031 thuộc phạm vi quản lý; tổng hợp các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy định cần xử lý theo thẩm quyền.

Trong năm 2026, phối hợp thực hiện việc cập nhật, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu về vị trí việc làm thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ với hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất của hệ thống chính trị theo yêu cầu, tiến độ của cơ quan có thẩm quyền.

Từ năm 2027, tiếp tục hoàn thiện vị trí việc làm, bản mô tả công việc, khung năng lực, phương pháp xác định nhu cầu nhân lực và dữ liệu; rà soát, cập nhật khi có thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phương thức thực hiện nhiệm vụ hoặc yêu cầu quản lý. Từng bước sử dụng kết quả rà soát trong quản lý, bố trí, sử dụng và phát triển đội ngũ, quản lý biên chế theo quy định.

Các mốc tiến độ cụ thể trong quá trình rà soát, tổng hợp và báo cáo được thực hiện thống nhất với Kết luận số 107-KL/TW, Hướng dẫn số 7-HD/BTCTW và chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền; bảo đảm chất lượng kết quả, không làm ảnh hưởng đến tiến độ tổng hợp chung.

Bộ Nội vụ tổng hợp kết quả thực hiện của các bộ, cơ quan, địa phương, rà soát tính thống nhất của dữ liệu, kết quả xác định nhu cầu nhân lực và phương án biên chế; báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương theo tiến độ, yêu cầu chung của cấp có thẩm quyền.

Tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026

Văn phòng Chính phủ vừa có Công văn 10851/VPCP-KGVX ngày 24/10/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà về việc tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026.

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội có văn bản số 418/TTr-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2026 trình Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026 (Chương trình nghệ thuật đặc biệt). Về việc này, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà có ý kiến như sau:

Cơ bản thống nhất với báo cáo và đề xuất, kiến nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về phương án và quy mô tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt tại văn bản nêu trên; bảo đảm tạo điều kiện để Nhân dân được tham gia và thụ hưởng đầy đủ theo đúng tinh thần chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam.

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khẩn trương hoàn thiện và ban hành Kế hoạch tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt; chủ trì, phối hợp với các Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Quốc phòng, Công an, Ngoại giao và các cơ quan liên quan xây dựng kịch bản chi tiết, phân công trách nhiệm thực hiện cụ thể để Chương trình nghệ thuật đặc biệt được tổ chức trang trọng, sáng tạo, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, có sức lan tỏa theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2026 và Thông báo số 524/TB-VPCP ngày 13 tháng 10 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ.

Đề nghị Đài Truyền hình Việt Nam, các Bộ: Công an, Quốc phòng, Ngoại giao, Văn hóa, Thể thao và Du lịch căn cứ chức năng, nhiệm vụ cử đại diện lãnh đạo tham gia Ban Tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt và phối hợp chặt chẽ với thành phố Hà Nội trong công tác bố trí lực lượng tham gia biểu diễn, địa điểm tổ chức, truyền hình trực tiếp, công tác tuyên truyền, bảo đảm an ninh trật tự và các điều kiện cần thiết khác theo quy định./.