• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/6/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/6/2026.

27/06/2026 19:20
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/6/2026- Ảnh 1.

Chính phủ gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2026

Gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2026

 Chính phủ vừa ban hành Nghị định 245/2026/NĐ-CP ngày 27/6/2026 gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2026.

 Đối tượng áp dụng:

a) Doanh nghiệp, tổ chức (bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế giá trị gia tăng riêng, khai thuế thu nhập doanh nghiệp riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp), hộ gia đình, cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này và có phát sinh số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân hoặc tiền thuê đất thuộc các kỳ được gia hạn theo quy định.

b) Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được xác định theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế giá trị gia tăng riêng, khai thuế thu nhập doanh nghiệp riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp, có phát sinh số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tiền thuê đất thuộc các kỳ được gia hạn theo quy định.

Thời gian gia hạn

Thời gian gia hạn nộp thuế đối với số thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tối đa là 05 tháng.

Cụ thể như sau:

Kỳ tính thuế tháng 5 năm 2026 chậm nhất là ngày 20 tháng 11 năm 2026.

Kỳ tính thuế tháng 6, tháng 7, tháng 8 và tháng 9 năm 2026 chậm nhất là ngày 21 tháng 12 năm 2026.

Kỳ tính thuế quý II năm 2026 chậm nhất là ngày 02 tháng 11 năm 2026.

Kỳ tính thuế quý III năm 2026 chậm nhất là ngày 30 tháng 12 năm 2026.

Quy định nêu trên không áp dụng đối với số thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu.

Thời gian gia hạn đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý II năm 2026 là 03 tháng; thời gian gia hạn đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý III năm 2026 là 02 tháng, cụ thể như sau:

Số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý II năm 2026 chậm nhất ngày 02 tháng 11 năm 2026.

Số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý III năm 2026 chậm nhất ngày 30 tháng 12 năm 2026.

Thời gian gia hạn đối với 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2026 là 05 tháng, cụ thể như sau:

Đối với 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2026 (là số tiền thuê đất phải nộp kỳ thứ nhất năm 2026) của người nộp thuế đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định hoặc Hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hằng năm: thời hạn nộp tiền thuê đất được gia hạn chậm nhất là ngày 02 tháng 11 năm 2026 (*)

Quy định tại (*) nêu trên áp dụng cả trường hợp người nộp thuế có nhiều Quyết định, Hợp đồng thuê đất trực tiếp của Nhà nước và có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế được gia hạn dẫn đến làm tăng số phải nộp và gửi đến cơ quan thuế trước khi hết thời hạn nộp thuế được gia hạn thì số thuế được gia hạn bao gồm cả số phải nộp tăng thêm do khai bổ sung. Trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế được gia hạn sau khi hết thời hạn nộp thuế được gia hạn thì không được gia hạn số phải nộp tăng thêm do khai bổ sung.

Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhiều ngành kinh tế khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này thì: Doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được gia hạn toàn bộ số thuế giá trị gia tăng, số thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo quy định tại Nghị định này.

Xử lý tiền chậm nộp

Không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế, tiền thuê đất được gia hạn trong khoảng thời gian được gia hạn thời hạn nộp (bao gồm cả trường hợp người nộp thuế gửi Văn bản đề nghị gia hạn cho cơ quan thuế sau khi đã nộp hồ sơ khai thuế; trường hợp người nộp thuế khai bổ sung làm tăng số phải nộp của kỳ tính thuế được gia hạn và trường hợp cơ quan có thẩm quyền qua kiểm tra, thanh tra xác định người nộp thuế được gia hạn có số phải nộp tăng thêm của các kỳ tính thuế được gia hạn). Trường hợp Hệ thống thông tin quản lý thuế đã tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế, tiền thuê đất thuộc diện được gia hạn thì cơ quan thuế thực hiện điều chỉnh, hủy số tiền chậm nộp đã tính trong thời gian được gia hạn theo quy định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 27/6/2026 đến hết ngày 30/12/2026.

Sau thời gian gia hạn theo Nghị định này, thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trường hợp người nộp thuế đã nộp các khoản thuế, tiền thuê đất thuộc diện được gia hạn trước ngày 27/6/2026 thì không điều chỉnh lại.

Phụ lục I

DANH MỤC CÁC NGÀNH KINH TẾ, LĨNH VỰC ĐƯỢC ÁP DỤNG GIA HẠN THỜI HẠN NỘP THUẾ, TIỀN THUÊ ĐẤT

(Kèm theo Nghị định số 245/2026/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ)

I. Danh mục các ngành kinh tế, lĩnh vực

1. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

2. Sản xuất, chế biến thực phẩm.

3. Dệt.

4. Sản xuất trang phục.

5. Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan.

6. Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện.

7. Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy.

8. Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic.

9. Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác.

10. Sản xuất kim loại.

11. Gia công cơ khí; xử lý và tráng phủ kim loại.

12. Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học.

13. Sản xuất ô tô và xe có động cơ khác.

14. Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế.

15. Xây dựng.

16. Vận tải, kho bãi.

17. Dịch vụ lưu trú và ăn uống.

18. Giáo dục và đào tạo.

19. Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội.

20. Hoạt động kinh doanh bất động sản.

21. Hoạt động dịch vụ lao động và việc làm.

22. Hoạt động của các đại lý lữ hành, kinh doanh tua du lịch và hoạt động liên quan đến du lịch khác.

23. Hoạt động sáng tạo nghệ thuật và biểu diễn nghệ thuật.

24. Hoạt động của thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các hoạt động văn hóa khác.

25. Hoạt động thể thao, vui chơi và giải trí.

26. Hoạt động chiếu phim.

27. Sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển.

28. Sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm.

29. Hoạt động xuất bản.

30. Hoạt động sản xuất phim điện ảnh, video, chương trình truyền hình, ghi âm và xuất bản âm nhạc.

31. Hoạt động xây dựng chương trình, phát sóng, thông tấn và phân phối nội dung khác.

32. Lập trình máy tính, dịch vụ tư vấn và các hoạt động liên quan.

33. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu, lưu trữ và các dịch vụ thông tin liên quan khác.

34. Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên (không gia hạn đối với thuế thu nhập doanh nghiệp của dầu thô, condensate, khí thiên nhiên thu theo hiệp định, hợp đồng).

35. Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai khoáng.

36. Sản xuất đồ uống.

37. In, sao chép bản ghi các loại.

38. Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế.

39. Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất.

40. Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị).

41. Sản xuất mô tô, xe máy.

42. Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị.

43. Thoát nước và xử lý nước thải.

II. Việc xác định ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại Mục I

1. Danh mục ngành kinh tế nêu Mục I được xác định theo Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam. Trong đó, phân ngành kinh tế theo Phụ lục I ban hành kèm theo Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg gồm 5 cấp và việc xác định ngành kinh tế được áp dụng theo nguyên tắc: Trường hợp tên ngành kinh tế nêu tại các điểm nêu trên thuộc ngành cấp 1 thì ngành kinh tế được áp dụng quy định gia hạn bao gồm tất cả các ngành kinh tế thuộc phân cấp 2, cấp 3, cấp 4, cấp 5 của ngành cấp 1; trường hợp thuộc ngành cấp 2 thì ngành kinh tế được áp dụng quy định gia hạn bao gồm tất cả các ngành kinh tế thuộc phân cấp 3, cấp 4, cấp 5 của ngành cấp 2; trường hợp thuộc ngành cấp 3 thì ngành kinh tế được áp dụng quy định gia hạn bao gồm tất cả các ngành kinh tế thuộc phân cấp 4, cấp 5 của ngành cấp 3; trường hợp thuộc ngành cấp 4 thì ngành kinh tế được áp dụng quy định gia hạn bao gồm tất cả các ngành kinh tế thuộc phân cấp 5 của ngành cấp 4.

2. Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển nêu tại điểm 27 Mục I được xác định theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 205/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 7 năm 2025).

3. Sản phẩm cơ khí trọng điểm nêu tại điểm 28 Mục I được xác định theo Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15 tháng 3 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. 

Sửa đổi, bổ sung một số quy định về nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ được bán sản lượng điện dư

Chính phủ ban hành Nghị định 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2025/NĐ-CP ngày 3/3/2025 quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 3/3/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới.

Một trong các nội dung đáng chú ý là về phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, Nghị định 243/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 14 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP về cơ chế mua bán sản lượng điện dư.

Theo đó, nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ được bán sản lượng điện dư theo quy định tại Nghị định này gồm:

a) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ của hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ;

b) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp;

c) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ lắp đặt tại khu vực miền núi, biên giới, hải đảo có lưới điện nhưng chưa đấu nối, liên kết với hệ thống điện quốc gia;

d) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ lắp đặt tại công trình là tài sản công. Việc mua bán sản lượng điện dư của nguồn điện này phải bảo đảm tuân thủ quy định tại Nghị định này, quy định pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, quy định pháp luật khác có liên quan và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bên bán điện dư;

đ) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ khác có đấu nối với hệ thống điện quốc gia và thuộc quy mô công suất phát triển trong quy hoạch phát triển điện lực, kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh.

Sản lượng điện dư được mua bán không vượt quá 50% sản lượng điện phát tại đầu ra

Sản lượng điện dư được mua bán giữa Bên mua điện dư và Bên bán điện dư bao gồm sản lượng điện dư của nguồn điện mặt trời mái nhà và sản lượng điện từ hệ thống lưu trữ điện được tích điện từ nguồn điện mặt trời mái nhà (nếu có). Sản lượng điện dư được xác định tại đầu ra của bộ chuyển đổi nghịch lưu (inverter) và được mua bán theo quy định sau:

Sản lượng điện dư được mua bán theo thỏa thuận giữa hai bên nhưng không vượt quá 50% sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ. (Theo quy định cũ tại Nghị định 58/2025/NĐ-CP thì tỷ lệ này là 20%).

Được bán quá 50% sản lượng trong một số trường hợp

Từ ngày Nghị định này có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2030, hai bên được thỏa thuận để mua bán sản lượng điện dư với tỷ lệ cao hơn 50% sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ trong trường hợp lưới điện tại khu vực đấu nối bảo đảm khả năng tiếp nhận, việc mua bán sản lượng điện dư đáp ứng điều kiện vận hành an toàn lưới điện và phương thức vận hành hệ thống điện theo quy định.

Đối với khu vực miền núi, biên giới, hải đảo chưa được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia thì không giới hạn sản lượng điện dư được mua bán. Sản lượng điện dư được thanh toán là toàn bộ điện năng phát lên lưới điện của Bên mua điện dư được đo đếm tại công tơ. Kể từ thời điểm khu vực này được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia, việc mua bán sản lượng điện dư thực hiện theo quy định nêu trên tùy theo thời điểm áp dụng.

Giá mua bán sản lượng điện dư

Nghị định số 243/2026/NĐ-CP cũng nêu rõ: Giá mua bán sản lượng điện dư là giá điện năng thị trường điện bình quân trong năm trước liền kề do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện công bố, được tính bằng đơn vị Đồng Việt Nam/kWh. Trường hợp giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề cao hơn mức giá tối đa của khung giá phát điện loại hình điện mặt trời mặt đất không có pin lưu trữ tương ứng theo miền áp dụng, giá mua bán sản lượng điện dư được xác định bằng mức giá tối đa (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) của khung giá phát điện đó.

Tổ chức, cá nhân bán sản lượng điện dư phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực, trừ trường hợp được miễn giấy phép hoạt động điện lực theo quy định. 

Chương trình hành động của Chính phủ phòng, chống sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL

Chính phủ vừa có Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26/6/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026 - 2035.

Để đạt được yêu cầu của Bộ Chính trị đề ra tại Kết luận số 26-KL/TW, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ.

Một trong những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm là hoàn thiện rà soát, bổ sung quy hoạch và thể chế, chính sách, các quy định của pháp luật liên quan đến phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn.

Cụ thể, hoàn thành việc rà soát, bổ sung các nội dung về sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn, lấn biển vùng đồng bằng sông Cửu Long vào hệ thống quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch chi tiết ngành, quy hoạch của các địa phương để điều chỉnh phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Hoàn thành việc rà soát, thể chế hóa cơ bản đầy đủ các chủ trương, định hướng của Đảng thành hệ thống pháp luật và văn bản hướng dẫn thi hành trong các lĩnh vực: tài nguyên nước, thuỷ lợi, phòng, chống thiên tai, đất đai, lâm nghiệp, xây dựng, tài nguyên khoáng sản, khí tượng thuỷ văn.

Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ phù hợp với điều kiện tự nhiên; ứng dụng mô hình nông thuỷ sản thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi giống, phương thức canh tác nuôi trồng thuỷ sản, cây trồng ít sử dụng nước, phù hợp với các vùng sinh thái, nâng cao hiệu quả sản xuất; bảo vệ, nâng cao chất lượng rừng ngập mặn gắn với quản lý, khai thác tín chỉ các-bon và các nguồn lợi từ rừng.

Xây dựng chính sách phù hợp để khuyến khích, thu hút các dự án đầu tư ngoài ngân sách, đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) trong xây dựng công trình phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển; trồng, khôi phục rừng ngập mặn ven biển; xây dựng, cải tạo hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất; khai thác hiệu quả các nguồn lực bổ sung như bán tín chỉ các-bon và các nguồn lực hợp pháp khác.

Rà soát, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật đối với công trình, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đa mục tiêu, trong đó có lồng ghép mục tiêu phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn.

Quản lý chặt hoạt động xây dựng nhà ở, khai thác cát lòng sông có nguy cơ làm gia tăng sụt lún, sạt lở, ngập úng, xâm nhập mặn

Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm khác là kiện toàn tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước. Cụ thể, kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về nguồn nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai, bảo đảm tập trung đầu mối, thống nhất, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, hình thành đội ngũ chuyên gia chuyên sâu.

Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước lưu vực sông, hệ thống thuỷ lợi, đê điều và chống ngập đô thị. Cụ thể, xây dựng, điều chỉnh và thực hiện kế hoạch sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; chủ động trữ nước tại các kênh, rạch, hồ tự nhiên, trữ nước lũ ở vùng ngập sâu, có các phương án, giải pháp sử dụng nguồn nước, thu trữ nước để ứng phó với hạn mặn.

Sắp xếp, di dời dân cư khu vực thường xuyên xảy ra ngập úng, có nguy cơ cao xảy ra sụt lún, sạt lở đến nơi an toàn đảm bảo ổn định và phát triển bền vững.

Quản lý chặt chẽ hoạt động xây dựng nhà ở, công trình, khai thác cát lòng sông, nước ngầm và các hoạt động khác có nguy cơ làm gia tăng sụt lún, sạt lở, ngập úng, xâm nhập mặn.

Đầu tư các dự án phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn có tính tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu

Đầu tư xây dựng các dự án tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn.

Rà soát, đánh giá hiệu quả, tác động của các công trình, cơ sở hạ tầng đã đầu tư liên quan đến sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn; khắc phục những hạn chế, kịp thời điều chỉnh các dự án, công trình còn bất cập.

Đầu tư các dự án phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn có tính tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu, thích ứng thông minh, ứng dụng khoa học - công nghệ; các dự án cơ sở hạ tầng phục vụ di dời dân ở những vùng thường xuyên xảy ra ngập úng, có nguy cơ sụt lún, sạt lở cao.

Đầu tư trang thiết bị, công nghệ, mô hình dự báo để nâng cao độ tin cậy cảnh báo sớm.

Ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả nguồn vốn vay, viện trợ nước ngoài) cho các nhiệm vụ phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, tuyệt đối không để xảy ra lãng phí, tiêu cực. 

Áp dụng chính sách tinh giản biên chế với người nghỉ việc do tổ chức lại Ban Chỉ huy quân sự xã

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 167/NQ-CP ngày 26/6/2026 về áp dụng chính sách tinh giản biên chế đối với người làm việc tại Ban Chỉ huy quân sự xã, phường, đặc khu nghỉ việc do tổ chức lại Ban Chỉ huy quân sự xã, phường, đặc khu theo Nghị quyết số 66.12/2026/NQ-CP ngày 26/01/2026 của Chính phủ.

Cụ thể, Chính phủ quyết nghị người làm việc tại Ban Chỉ huy quân sự xã, phường, đặc khu (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ huy quân sự cấp xã) nghỉ việc do tổ chức lại Ban Chỉ huy quân sự cấp xã theo Nghị quyết số 66.12/2026/NQ-CP ngày 26 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ được áp dụng chính sách tinh giản biên chế quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ.

Trường hợp khi áp dụng chính sách biên chế nêu trên, nếu trợ cấp tinh giản biên chế đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm thấp hơn trợ cấp tinh giản biên chế của vị trí việc làm trước khi tuyển dụng công chức theo Luật số 98/2025/QH15 thì được lựa chọn hưởng một chính sách có lợi nhất.

Chính phủ giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý lập danh sách đối tượng nghỉ việc; dự toán số tiền thực hiện chính sách đối với từng trường hợp theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP và nội dung nêu trên, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo phân cấp quản lý, đảm bảo hoàn thành trước ngày 01 tháng 9 năm 2026. 

Chính phủ giao chỉ tiêu tăng trưởng năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 đối với các địa phương

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 về mục tiêu tăng trưởng của các địa phương năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 để thực hiện Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, Nghị quyết số 25/2026/QH16 của Quốc hội và Nghị quyết số 109/NQ-CP của Chính phủ.

Mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong giai đoạn 2026 - 2030, khẳng định khát vọng vươn lên của cả dân tộc.

Năm 2026 có ý nghĩa quan trọng, khởi đầu cho giai đoạn phát triển mới của đất nước, trong khi tình hình thế giới tiếp tục biến động rất nhanh, mạnh, khó lường, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.

Tư duy đổi mới, hành động quyết liệt

Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số" trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất, Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

Theo dõi sát, nắm chắc diễn biến tình hình tăng trưởng trên địa bàn, phối hợp chặt chẽ, thực hiện đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trên các lĩnh vực; phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành; có tư duy đổi mới, đột phá, hành động quyết liệt, không ngừng nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu tăng trưởng của địa phương năm 2026 và giai đoạn 05 năm 2026 - 2030 tại Phụ lục Nghị quyết này.

Trong đó, theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, khu vực, nhất là những thay đổi trong chính sách của các nền kinh tế lớn tác động đến nước ta; nâng cao chất lượng phân tích, dự báo, chủ động tham mưu, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cấp có thẩm quyền các giải pháp ứng phó phù hợp, kịp thời, hiệu quả.

Các địa phương có tốc độ tăng trưởng đạt và vượt kịch bản đề ra thì tiếp tục phấn đấu đạt mức cao hơn. Các địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp hơn kịch bản đề ra hoặc thấp hơn mức bình quân chung của cả nước phải khẩn trương rà soát, cập nhật kịch bản; đánh giá các nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhận diện đầy đủ các điểm nghẽn, tồn tại, hạn chế; bám sát mục tiêu, yêu cầu, kịch bản điều hành tăng trưởng kinh tế “2 con số” năm 2026 và giai đoạn 5 năm 2026 - 2030, xác định rõ động lực và dự địa tăng trưởng mới để xây dựng các nhiệm vụ, giải pháp đột phá, khả thi để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đã đề ra.

Các địa phương đầu tàu kinh tế phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt, lan tỏa, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu được giao, đóng góp nhiều hơn vào thu ngân sách nhà nước, tăng trưởng kinh tế chung của cả nước.

Rà soát, cập nhật kịch bản, nhiệm vụ tăng trưởng hằng tháng, hằng quý

Chính phủ cũng yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khẩn trương rà soát, cập nhật kịch bản, nhiệm vụ tăng trưởng của các ngành, lĩnh vực hằng tháng, hằng quý trong các tháng cuối năm 2026, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu tại Phụ lục Nghị quyết này. Chủ động thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo thẩm quyền và nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trong trường hợp vượt thẩm quyền, gửi các bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực để phối hợp xử lý theo thẩm quyền và báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện hằng quý, cập nhật kịch bản tăng trưởng (nếu có) theo từng chỉ tiêu và kiến nghị, đề xuất giải pháp để đạt được mục tiêu tăng trưởng, gửi Bộ Tài chính trước ngày 25 của tháng cuối cùng trong quý.

Tổ chức nghiên cứu, rà soát các nguồn lực, động lực, năng lực mới cho tăng trưởng và giải pháp thực hiện, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp trong tháng 06 năm 2026 để giao bổ sung mục tiêu tăng trưởng của địa phương năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 theo Nghị quyết này và điều chỉnh trong trường hợp Hội đồng nhân dân đã quyết nghị mục tiêu thấp hơn mục tiêu tại Nghị quyết này.

Quyết liệt tăng tốc, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công

Chính phủ giao các bộ, cơ quan chủ trì, theo dõi chỉ tiêu theo phân công tại Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ đánh giá tình hình thực hiện chỉ tiêu tại các địa phương, kịp thời kiến nghị (nếu có) địa phương triển khai các giải pháp để bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu đề ra.

Các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ được giao tại Kết luận 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Trung ương và Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ. Trong đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm, cần làm ngay:

Tiếp tục tập trung xử lý, tháo gỡ, giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài liên quan đến đất đai, quy hoạch trên địa bàn, sớm đưa vào khai thác, sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng; tiếp tục cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; xử lý triệt để tài sản công là nhà, đất dôi dư, không sử dụng. Phối hợp chặt chẽ thông tin với Bộ Tài chính trong quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô.

Khẩn trương rà soát nội dung quy hoạch các tỉnh, thành phố và hoàn thành việc lập, điều chỉnh, phê duyệt các quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch bảo đảm đồng bộ, thống nhất với yêu cầu tăng trưởng "2 con số”, phù hợp với quy hoạch 6 vùng kinh tế - xã hội.

Khẩn trương chỉ đạo quyết liệt tăng tốc, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân, trong đó có người đứng đầu. Tập trung giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hiệu quả, phù hợp; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm trên địa bàn, bảo đảm chất lượng, tiến độ, hiệu quả đầu tư, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực, đóng góp thực chất cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các bộ, cơ quan liên quan tập trung xử lý vấn đề nguồn cung đất, đá, cát... và quản lý giá vật liệu xây dựng theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 213/TB-VPCP ngày 25 tháng 4 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ; thiết lập cơ chế điều phối liên vùng trong quản lý nguồn cung vật liệu xây dựng phục vụ đầu tư công, nhất là các dự án hạ tầng trọng điểm, kiên quyết xử lý các trường hợp gây cản trở, cục bộ, găm hàng để trục lợi; có giải pháp xử lý đối với tình trạng phế thải xây dựng gia tăng tại các đô thị lớn.

Tổ chức theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, thiên tai, nguồn nước, kịp thời chỉ đạo, triển khai công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương chỉ đạo vận hành linh hoạt các hồ chứa thủy lợi, thủy điện ứng phó nguy cơ thiếu nước và bảo đảm an ninh năng lượng; tăng cường dự báo, chủ động giải pháp ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn, nhất là tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, các giải pháp phòng, chống thiên tai trong mùa mưa bão sắp tới.

Thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu

Bộ Công Thương triển khai hiệu quả các giải pháp bảo đảm nguồn cung xăng dầu với giá cạnh tranh trong khu vực và cung ứng đủ điện, nhất là trong các tháng cao điểm, nắng nóng, tuyệt đối không để thiếu điện, xăng dầu trong mọi tình huống.

Theo dõi sát diễn biến xuất nhập khẩu, tình hình nhập siêu, có giải pháp thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, tăng cường sản xuất, sử dụng nguyên vật liệu trong nước, bảo đảm cán cân thương mại bền vững; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu, mở rộng thị phần tại các thị trường truyền thống và phát triển các thị trường mới, tiềm năng.

Tiếp tục thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng để tiêu dùng trong nước đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng của các địa phương và chung cả nước.

Kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo dõi chặt chẽ diễn biến cán cân thanh toán quốc tế, thị trường tiền tệ, ngoại hối, tín dụng, lãi suất, tỷ giá, dòng vốn ra nước ngoài. Đồng thời, xây dựng kịch bản điều hành chính sách tiền tệ cho cả năm và từng quý, chủ động công cụ điều hành với từng tình huống cụ thể; ổn định mặt bằng lãi suất phù hợp, hiệu quả, thực chất; khẩn trương rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định theo thẩm quyền, các biện pháp phù hợp để bảo đảm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phối hợp chặt chẽ thông tin với Bộ Tài chính trong quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô và sửa đổi các quy định, triển khai các giải pháp phát triển thị trường vốn theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tổng hợp, theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện và kiến nghị, đề xuất (nếu có), báo cáo Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng cuối cùng trong quý; tổng hợp, tham mưu xây dựng, báo cáo cấp có thẩm quyền giao mục tiêu tăng trưởng hằng năm của các địa phương trong giai đoạn 2027 - 2030. 

Ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai đấu giá tài sản trực tuyến theo quy định của Luật Đấu giá tài sản

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 66.21/2026/NQ-CP ngày 26/6/2026 về việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai đấu giá tài sản trực tuyến theo quy định của Luật Đấu giá tài sản.

Nghị quyết quy định cụ thể các cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc trong triển khai đấu giá tài sản trực tuyến theo quy định của Luật Đấu giá tài sản gồm:

1. Việc đấu giá tài sản trực tuyến được thực hiện thông qua Hệ thống đấu giá trực tuyến hoặc trang thông tin đấu giá trực tuyến đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện kết nối kỹ thuật do Bộ Công an quy định và đồng bộ dữ liệu kết quả với Hệ thống đấu giá trực tuyến.

2. Cơ quan, người có thẩm quyền quyết định việc đấu giá tài sản có trách nhiệm yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện đấu giá trực tuyến thông qua Hệ thống đấu giá trực tuyến để bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu và phòng, chống tiêu cực đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đấu giá, bao gồm:

a) Tài sản kết cấu hạ tầng; tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước; tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị (trừ tài sản là trụ sở, nhà gắn liền với đất) và tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân có tổng giá khởi điểm của tất cả tài sản trong một cuộc đấu giá từ 200 triệu đồng trở lên, trừ tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân;

b) Quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư theo điểm a khoản 1 Điều 125 Luật Đất đai mà thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án đầu tư theo quy định pháp luật về đầu tư.

3. Khuyến khích cơ quan, người có thẩm quyền quyết định việc đấu giá tài sản và tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện đấu giá trực tuyến thông qua Hệ thống đấu giá trực tuyến đối với trường hợp giao đất ở cho cá nhân theo điểm b khoản 1 Điều 125 Luật Đất đai và trường hợp giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư theo điểm a khoản 1 Điều 125 Luật Đất đai mà không thuộc trường hợp quy định tại điểm 2b nêu trên.

4. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đấu giá không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 nêu trên và tài sản cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn đấu giá, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện theo một trong các hình thức sau:

a) Đấu giá trực tuyến thông qua Hệ thống đấu giá trực tuyến;

b) Đấu giá trực tuyến thông qua trang thông tin đấu giá trực tuyến;

c) Đấu giá theo hình thức khác theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

Chức năng, cơ chế phối hợp giữa Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và Hệ thống đấu giá trực tuyến

Nghị quyết cũng quy định cụ thể chức năng, cơ chế phối hợp giữa Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và Hệ thống đấu giá trực tuyến.

Theo đó, Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và Hệ thống đấu giá trực tuyến bảo đảm tính kết nối, liên thông, đồng bộ dữ liệu về đấu giá tài sản.

Cổng Đấu giá tài sản quốc gia đáp ứng các chức năng:

Quản lý, phê duyệt, niêm yết thông báo lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, kết quả lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, thông báo đấu giá tài sản đối với tài sản được tổ chức đấu giá không theo hình thức đấu giá trực tuyến.

Kết nối, đồng bộ và công khai dữ liệu về tài sản đấu giá, thông báo lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, thông báo đấu giá tài sản và kết quả đấu giá tài sản trực tuyến từ Hệ thống đấu giá trực tuyến.

Quản lý, theo dõi, tổng hợp và phân tích số liệu thông qua hệ thống đo lường các chỉ số (KPIs), bảng điều hành (dashboard) và các công cụ hỗ trợ khác phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách.

Hệ thống đấu giá trực tuyến đáp ứng các chức năng:

a) Tiếp nhận, quản lý dữ liệu về tài sản đấu giá và niêm yết thông báo lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, kết quả lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản từ người có tài sản;

b) Tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, niêm yết và công khai kết quả lựa chọn;

c) Tiếp nhận dữ liệu về tài sản đấu giá từ Trang thông tin điện tử về tài sản công, hệ thống của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức trung gian thanh toán, các trang thông tin đấu giá trực tuyến, các nền tảng số quốc gia, các cơ sở dữ liệu và các hệ thống nghiệp vụ khác liên quan;

d) Tích hợp kênh thanh toán trực tuyến của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức trung gian thanh toán để người tham gia đấu giá thanh toán tiền mua hồ sơ mời tham gia đấu giá, nộp tiền đặt trước;

đ) Tổ chức đấu giá trực tuyến;

e) Đồng bộ dữ liệu thông báo lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, thông báo đấu giá tài sản, kết quả lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản và kết quả đấu giá tài sản trực tuyến với Cổng Đấu giá tài sản quốc gia;

g) Các chức năng khác liên quan.

Nghị quyết quy định: Việc kết nối giữa Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và Hệ thống đấu giá trực tuyến được thực hiện thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP), nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu (LGSP), các nền tảng khác theo quy định của pháp luật.

Các đơn vị chủ quản của Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và Hệ thống đấu giá trực tuyến có trách nhiệm xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp vận hành giữa các hệ thống, bảo đảm các yêu cầu sau:

a) Duy trì hệ thống hoạt động ổn định, khai thác hiệu quả dữ liệu và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin;

b) Nâng cao chất lượng phục vụ tổ chức, cá nhân và các đơn vị có liên quan, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động đấu giá trực tuyến;

c) Tổ chức xử lý sự cố và kịp thời thông báo cho các đơn vị có liên quan;

d) Thực hiện kiểm tra, giám sát và cập nhật, nâng cấp kết nối hệ thống định kỳ hoặc đột xuất; đánh giá hiệu quả kết nối, đồng bộ dữ liệu; áp dụng công cụ giám sát tập trung để theo dõi thời gian thực về hiệu suất và sự cố trong quá trình liên thông.

Sử dụng tài khoản định danh điện tử mức độ 2 để đăng nhập Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và Hệ thống đấu giá trực tuyến

Người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, đấu giá viên, Chủ tịch Hội đồng đấu giá tài sản, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động đấu giá tài sản trực tuyến sử dụng tài khoản định danh điện tử mức độ 2 theo quy định pháp luật về định danh và xác thực điện tử để đăng nhập trên Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và Hệ thống đấu giá trực tuyến.

Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và Hệ thống đấu giá trực tuyến bảo đảm ghi nhận, lưu trữ đầy đủ nhật ký đăng nhập và các giao dịch điện tử của tài khoản theo thời gian thực, phục vụ việc kiểm tra, giám sát, đối chiếu và giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình tổ chức đấu giá tài sản trực tuyến. 

Ban hành Khung chuẩn mực đạo đức, văn hóa kinh doanh gắn với bản sắc dân tộc và tiếp cận được tinh hoa văn hóa kinh doanh thế giới

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1157/QĐ-TTg ngày 26/6/2026 ban hành Khung chuẩn mực đạo đức, văn hóa kinh doanh gắn với bản sắc dân tộc và tiếp cận được tinh hoa văn hóa kinh doanh thế giới.

Đối tượng áp dụng gồm:

- Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam;

- Doanh nhân là người Việt Nam, người nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam;

- Tổ chức xã hội nghề nghiệp;

- Cơ quan nhà nước hoạch định chiến lược, xây dựng, tổ chức thực thi chuẩn mực đạo đức, văn hóa trong hoạt động kinh doanh.

Về phạm vi, Khung chuẩn mực được áp dụng đối với toàn bộ hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh, truyền thông thương hiệu và quan hệ đối tác của doanh nghiệp, doanh nhân.

Mục tiêu tổng quát là xây dựng và triển khai Khung chuẩn mực đạo đức, văn hóa kinh doanh Việt Nam trên nền tảng các giá trị văn hóa dân tộc và các giá trị nhân văn phổ quát, gắn với các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững, nhằm hình thành đội ngũ doanh nhân liêm chính, tôn trọng con người, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, cộng đồng và người tiêu dùng; góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập quốc tế.

Đến năm 2030 có ít nhất 1.000 doanh nghiệp áp dụng Khung chuẩn mực

Mục tiêu cụ thể đến năm 2027, đạt ít nhất 60 trong số 200 doanh nghiệp thí điểm ban hành được bộ quy tắc ứng xử hoặc bộ quy tắc đạo đức doanh nghiệp trên cơ sở áp dụng Khung chuẩn mực; thực hiện phổ biến tối thiểu 02 lần/năm tới toàn thể cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp;

Đào tạo nâng cao nhận thức cho ít nhất 10.000 doanh nhân, doanh nghiệp về Khung chuẩn mực và hướng dẫn áp dụng trong doanh nghiệp.

Đến năm 2030 có ít nhất 1.000 doanh nghiệp áp dụng Khung chuẩn mực, từng bước tiệm cận và đáp ứng các yêu cầu về sản phẩm, dịch vụ theo các chuẩn mực ESG quốc tế.

Quảng bá thành công tối thiểu 20 doanh nghiệp Việt Nam mang bản sắc dân tộc tại 10 diễn đàn, hội nghị và cơ chế đối thoại quốc tế uy tín (OECD, UN Global Compact,…).

6 nhóm chuẩn mực

Khung chuẩn mực được xây dựng trên cơ sở 06 giá trị cốt lõi (Nhân văn, Liêm chính, Minh bạch, Trách nhiệm, Sáng tạo và Hội nhập), trong đó chuẩn mực Nhân văn giữ vai trò trung tâm, đồng thời, được cụ thể hóa thành 06 nhóm chuẩn mực bao gồm:

Chuẩn mực 1: NHÂN VĂN (Tôn trọng con người, lấy khách hàng, người lao động làm trung tâm của việc kinh doanh)

(1.1) Khách hàng là trung tâm.

(1.2) Xây dựng văn hóa doanh nghiệp.

(1.3) Bảo đảm quyền lợi người lao động.

Chuẩn mực 2: LIÊM CHÍNH (Tuân thủ pháp luật, trung thực, không gian lận; phòng, chống tham nhũng)

(2.1) Tuân thủ pháp luật.

(2.2) Tôn trọng đối thủ và thị trường.

(2.3) Cạnh tranh lành mạnh.

(2.4) Phòng, chống tham nhũng, rửa tiền.

Chuẩn mực 3: MINH BẠCH (Công khai thông tin, rõ ràng trong hợp đồng, quản trị)

(3.1) Trung thực và minh bạch với khách hàng.

(3.2) Trung thực và minh bạch với đối tác.

(3.3) Trung thực và minh bạch trong quản trị, quản lý và vận hành doanh nghiệp hướng tới chuẩn quốc tế.

Chuẩn mực 4: TRÁCH NHIỆM (Trách nhiệm với xã hội, cộng đồng và môi trường)

(4.1) Trách nhiệm với xã hội, cộng đồng.

(4.2) Trách nhiệm với nhiệm vụ phát triển kinh tế chung của đất nước.

(4.3) Trách nhiệm với môi trường.

Chuẩn mực 5: SÁNG TẠO (Coi đổi mới là động lực phát triển)

(5.1) Sáng tạo bền vững trong phát triển lĩnh vực và sản phẩm kinh doanh.

(5.2) Sáng tạo bền vững trong mô hình và quản lý doanh nghiệp.

Chuẩn mực 6: HỘI NHẬP (Mở rộng tầm nhìn quốc tế, phát huy bản sắc Việt Nam)

(6.1) Xây dựng bộ quy tắc ứng xử cơ bản trong các giao dịch thương mại quốc tế.

(6.2) Tiếp cận tinh hoa văn hóa kinh doanh thế giới.

(6.3) Đạo đức, văn hóa kinh doanh gắn với phẩm chất đặc trưng của người Việt Nam.

(6.4) Phát huy, lan tỏa bản sắc dân tộc trong văn hóa kinh doanh.

(6.5) Quảng bá và giới thiệu mô hình chuẩn mực đạo đức, văn hóa kinh doanh gắn với bản sắc dân tộc Việt Nam ra môi trường quốc tế. 

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả 11 Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa TTHC

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Công văn 731/TTg-CĐS ngày 26/6/2026 gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả 11 Nghị quyết của Chính phủ.

Triển khai Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số", Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết để cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), điều kiện kinh doanh (ĐKKD), cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Trên cơ sở Báo cáo số 439/BC-BTP ngày 18 tháng 6 năm 2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD và đề xuất của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

Các Bộ: Dân tộc và Tôn giáo, Giáo dục và Đào tạo, Y tế thực hiện cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD theo các phương án đã đề xuất, hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2026, gửi Bộ Tư pháp kết quả thực hiện trước ngày 03 tháng 7 năm 2026.

Các Bộ: Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Xây dựng tiếp tục rà soát, đề xuất phương án cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu tại Kết luận số 18-KL/TW; gửi Bộ Tư pháp trước ngày 03 tháng 7 năm 2026; Bộ Tư pháp tổng hợp, rà soát độc lập, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 05 tháng 7 năm 2026.

Các Bộ: Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Nội vụ, Xây dựng, Y tế rà soát lại 22 TTHC đã phân cấp nhưng vẫn yêu cầu xin ý kiến của cơ quan cấp trên để đề xuất phương án xử lý, bảo đảm phân cấp triệt để, gửi Bộ Tư pháp trước ngày 03 tháng 7 năm 2026; Bộ Tư pháp tổng hợp, rà soát độc lập, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 05 tháng 7 năm 2026.

Khắc phục triệt để lỗi kỹ thuật; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia và hệ thống của địa phương

Các bộ, cơ quan ngang bộ chuẩn hóa, công bố quy trình nội bộ, quy trình điện tử, cấu hình, tích hợp trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tập trung của Bộ, Cổng Dịch vụ công quốc gia đối với các TTHC đã được phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa; thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; mở rộng việc sử dụng dữ liệu đã có để thay thế thành phần hồ sơ, giấy tờ mà cơ quan nhà nước đã quản lý.

Rà soát, hoàn thiện, vận hành ổn định Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tập trung; khắc phục triệt để lỗi kỹ thuật; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia và hệ thống của địa phương; tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ; phân cấp triệt để, không để tình trạng đã phân cấp nhưng vẫn phải xin ý kiến Trung ương.

Hoàn thiện cơ chế hậu kiểm, thanh tra, kiểm tra trên cơ sở quản lý rủi ro; xây dựng tiêu chí phân loại đối tượng quản lý theo mức độ tuân thủ để thực hiện có hiệu quả cơ chế chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Rà soát, ban hành mới, sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc biện pháp quản lý thay thế phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam, giảm tối đa chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu về an toàn, an ninh cho người dân; bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm với việc cắt giảm ngành nghề, TTHC, ĐKKD, tuyệt đối không để xảy ra khoảng trống pháp lý, lỗ hổng trong quản lý nhà nước (theo yêu cầu tại mục 1c Văn bản số 527/TTg-CĐS ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ), hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2026; gửi Bộ Tư pháp kết quả thực hiện trước ngày 03 tháng 7 năm 2026.

Tập trung nguồn lực để xây dựng, trình Chính phủ trình cơ quan có thẩm quyền hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ theo yêu cầu tại 11 Nghị quyết của Chính phủ, bảo đảm có hiệu lực trước ngày 01 tháng 3 năm 2027.

Chỉ đạo các đơn vị thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan kiểm soát chặt, không để phát sinh thêm TTHC, ĐKKD sau khi cắt giảm, đơn giản hóa trong quá trình xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời, kiểm soát việc hình thành TTHC, ĐKKD dưới hình thức gián tiếp thông qua quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình nội bộ hoặc các yêu cầu hành chính phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện.

Phân bổ, bố trí đủ nguồn lực được giao để giải quyết các thủ tục hành chính đã được phân quyền, phân cấp cho địa phương

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phân bổ, bố trí đủ nguồn lực được giao để giải quyết các TTHC đã được phân quyền, phân cấp cho địa phương, bảo đảm thông suốt, không gián đoạn, chậm trễ đối với cá nhân, tổ chức. Đồng thời, rà soát, kịp thời đầu tư, nâng cấp hạ tầng, thiết bị công nghệ thông tin, bảo đảm năng lực kết nối, liên thông và khai thác, sử dụng dữ liệu hiệu quả.

Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết TTHC; bảo đảm điều kiện, năng lực thực thi sau khi tiếp nhận TTHC được phân cấp từ Trung ương.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện TTHC tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc; kịp thời phát hiện, xử lý tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, nhất là việc phát sinh thêm thành phần hồ sơ, yêu cầu hoặc quy trình giải quyết ngoài quy định.

Nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh, bổ sung biên chế gắn với nhiệm vụ mới và mô hình chính quyền địa phương 02 cấp

Bộ Tư pháp kiểm soát chặt, không để phát sinh thêm TTHC, ĐKKD sau khi cắt giảm, đơn giản hóa trong quá trình xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời, kiểm soát việc hình thành TTHC, ĐKKD dưới hình thức gián tiếp thông qua quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình nội bộ hoặc các yêu cầu hành chính phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện.

Tổng hợp báo cáo của các bộ, cơ quan, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 05 tháng 7 năm 2026 cùng với báo cáo kết quả kiểm tra việc thực hiện 11 Nghị quyết của các bộ, địa phương.

Bộ Nội vụ chủ trì, hướng dẫn các địa phương rà soát, sắp xếp, bố trí biên chế phù hợp với khối lượng TTHC được phân cấp, phân định thẩm quyền, nhất là cấp xã; nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh, bổ sung biên chế gắn với nhiệm vụ mới và mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. 

Cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu, chuyển đổi số

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh trà đã ký Văn bản 732/TTg-CĐS ngày 26/6/2026 gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu, chuyển đổi số.

Trên cơ sở Báo cáo số 434/BC-BTP ngày 16 tháng 6 năm 2026 của Bộ Tư pháp về kết quả rà soát, đề xuất phương án cắt giảm, đơn giản hóa dựa trên dữ liệu, chuyển đổi số đối với các thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã và đề xuất của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo như sau:

1. Các bộ, cơ quan ngang bộ

a) Ban hành theo thẩm quyền, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) đối với các TTHC được cắt giảm, đơn giản hóa thành phần hồ sơ dựa trên dữ liệu đã được công bố thông tin; thời hạn hoàn thành theo Chương trình, Kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan.

b) Khẩn trương hoàn thiện, đưa các cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia, chuyên ngành theo danh mục tại Nghị định số 278/2025/NĐ-CP vào vận hành đáp ứng yêu cầu khai thác, tái sử dụng dữ liệu phục vụ giải quyết TTHC, nhất là các TTHC cấp xã.

c) Tiếp tục công bố các trường thông tin, dữ liệu được phép khai thác, tái sử dụng; tiêu chuẩn kết nối, chia sẻ, tái sử dụng theo từng trường thông tin, dữ liệu để các bộ, cơ quan, địa phương kết nối, khai thác được ngay đối với các CSDL đã hoàn thiện thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan mình.

d) Công bố, cập nhật, công khai các TTHC đã được cắt giảm, đơn giản hóa, thay thế bằng dữ liệu, bảo đảm nguyên tắc: Đối với các dịch vụ công trực tuyến đã được kết nối CSDL quốc gia, chuyên ngành để khai thác, tái sử dụng thành phần hồ sơ, thông tin, dữ liệu thì Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tự động cung cấp, hiển thị các nội dung này để người dân, doanh nghiệp kiểm tra lại trước khi nộp hồ sơ; trường hợp chưa hoàn tất xây dựng, kết nối CSDL quốc gia thì tải thành phần hồ sơ, kết quả điện tử đã được lưu trữ tại Kho quản lý dữ liệu điện tử của cá nhân, tổ chức để nộp hồ sơ trực tuyến.

2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố

a) Ban hành theo thẩm quyền, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa TTHC đối với các TTHC được cắt giảm, đơn giản hóa thành phần hồ sơ dựa trên dữ liệu đã được công bố thông tin; thời hạn hoàn thành theo Chương trình, Kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của địa phương.

b) Công bố, cập nhật, công khai các TTHC đã được cắt giảm, đơn giản hóa, thay thế bằng dữ liệu, bảo đảm nguyên tắc nêu tại mục 1d nêu trên.

3. Bộ Tư pháp

a) Hướng dẫn các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện rà soát, công bố tái cấu trúc quy trình giải quyết TTHC có thành phần hồ sơ được thay thế bằng thông tin trên các cơ sở dữ liệu và công bố, công khai TTHC theo đúng nguyên tắc nêu tại muc 1d và 2b nêu trên; nghiên cứu bổ sung nội dung này trong quá trình xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc bộ, ngành, địa phương công bố, công khai và giải quyết TTHC dựa trên dữ liệu; kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền xử lý ngay các trường hợp thực hiện không đúng quy định.

b) Tiếp tục phối hợp với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các bộ, địa phương thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu, chuyển đổi số và các nhiệm vụ được giao tại Văn bản này.