• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/9/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/9/2026.

28/09/2026 18:52

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký ban hành Nghị định số 368/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/9/2026- Ảnh 1.

Quy định mới về tỷ lệ xét tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở áp dụng từ 01/10/2026

Nghị định 368/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/10/2026, quy định cụ thể về nguyên tắc xét danh hiệu thi đua; hình thức khen thưởng; tiêu chuẩn khen thưởng; thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục khen thưởng; quỹ thi đua, khen thưởng và mức tiền thưởng.

Thời gian nghỉ thai sản được tính là thời gian công tác để xét tặng thi đua, khen thưởng

Một trong những nội dung đáng chú ý là nguyên tắc xét danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng. Theo Điều 4 Nghị định 368/2026/NĐ-CP, khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được, không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn.

Cấp có thẩm quyền khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đối với các trường hợp đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục, hồ sơ theo quy định.

Chỉ dùng kết quả khen thưởng công trạng làm căn cứ để xét thành tích khen thưởng công trạng cho lần tiếp theo.

Chưa khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng cho cá nhân, tập thể trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật hoặc điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo, có vấn đề tham nhũng, tiêu cực được báo chí nêu đang được xác minh làm rõ.

Thời gian nghỉ thai sản đối với cá nhân theo quy định của pháp luật được tính là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

Khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng.

Thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến đối với cá nhân là nữ lãnh đạo, quản lý được giảm 1/3 thời gian so với quy định chung. Trường hợp cá nhân nữ lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng được quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn theo quy định của pháp luật thì thời gian để xét khen thưởng quá trình cống hiến thực hiện theo quy định chung.

Tỷ lệ xét tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở

Theo Điều 5 Nghị định 368/2026/NĐ-CP, tỷ lệ xét tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cơ sở" theo quy định tại điểm b, c và d khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng, không quá 10% trong tổng số cá nhân đạt tiêu chuẩn danh hiệu "Lao động tiên tiến" hoặc danh hiệu "Chiến sĩ tiên tiến" (không bao gồm cá nhân được xét tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cơ sở" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng).

Khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng quy định:

1. Danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cơ sở" để tặng cho cá nhân đạt một trong các tiêu chuẩn sau đây:

a) Được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;

b) Đạt tiêu chuẩn danh hiệu "Lao động tiên tiến" hoặc "Chiến sĩ tiên tiến" và có sáng kiến được cơ sở công nhận;

c) Đạt tiêu chuẩn danh hiệu "Lao động tiên tiến" hoặc "Chiến sĩ tiên tiến" và có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá hiệu quả theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

d) Đạt tiêu chuẩn danh hiệu "Lao động tiên tiến" hoặc "Chiến sĩ tiên tiến" và mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu được đơn vị công nhận.

Tiêu chuẩn xét tặng Danh hiệu "Cờ thi đua của Chính phủ"

Nghị định cũng quy định cụ thể tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu "Cờ thi đua của Chính phủ":

1. Danh hiệu "Cờ thi đua của Chính phủ" xét tặng cho tập thể đạt tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật Thi đua, khen thưởng, được cụm, khối thi đua (do bộ, ban, ngành, tỉnh tổ chức) đánh giá, so sánh, bình xét, suy tôn là tập thể dẫn đầu cụm, khối thi đua.

Số lượng tập thể được xét, đề nghị tặng danh hiệu "Cờ thi đua của Chính phủ" theo quy định tại khoản này không quá 20% tổng số tập thể dẫn đầu cụm, khối thi đua do bộ, ban, ngành, tỉnh tổ chức và đạt tiêu chuẩn tặng cờ thi đua của bộ, ban, ngành, tỉnh.

2. Tập thể được xét tặng danh hiệu "Cờ thi đua của Chính phủ" theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật Thi đua, khen thưởng đạt các tiêu chuẩn:

a) Có thành tích xuất sắc trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh;

b) Thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh;

c) Thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng.

Tập thể quy định tại khoản 2 Điều này được cụm, khối thi đua (do Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương tổ chức) đánh giá, so sánh, bình xét, suy tôn là tập thể dẫn đầu cụm, khối thi đua.

3. Danh hiệu "Cờ thi đua của Chính phủ" được xét tặng cho tập thể quy định tại khoản 3 Điều 25 Luật Thi đua, khen thưởng đạt tiêu chuẩn:

a) Đối với bộ, ban, ngành: Tập thể có nhiều thành tích tiêu biểu xuất sắc trong tham mưu xây dựng thể chế, hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới nội dung và hình thức tổ chức phong trào thi đua, các cuộc vận động để huy động sự tham gia tích cực của đoàn viên, hội viên;

b) Đối với địa phương: Tập thể đạt nhiều thành tích nổi trội trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, trật tự xã hội; có mô hình mới, cách làm sáng tạo, đạt hiệu quả cao trong cả nước.

Tập thể đạt tiêu chuẩn quy định tại khoản 3 Điều này được bộ, ban, ngành, tỉnh xét chọn, lập danh sách đề nghị khen thưởng; Bộ Nội vụ tiếp nhận, tổng hợp, thẩm định hồ sơ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Hồ sơ đề nghị khen thưởng thực hiện theo quy định tại Điều 34 Nghị định này.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định tiêu chuẩn cụ thể để xét tặng, truy tặng nhiều loại Huân chương như "Huân chương Sao vàng", "Huân chương Hồ Chí Minh", "Huân chương Độc lập", "Huân chương Quân công", "Huân chương Lao động", "Huân chương Bảo vệ Tổ quốc" theo thành tích và quá trình cống hiến; quy định chung về hồ sơ, thủ tục khen thưởng...

Mức tiền thưởng danh hiệu thi đua

Mức tiền thưởng danh hiệu thi đua được quy định cụ thể tại Điều 53 Nghị định số 368/2026/NĐ-CP như sau:

Đối với cá nhân:

- Danh hiệu "Chiến sĩ thi đua toàn quốc" được tặng bằng, khung, hộp đựng khung bằng, Huy hiệu, hộp đựng Huy hiệu và được thưởng 4,5 lần mức lương cơ sở;

- Danh hiệu chiến sĩ thi đua bộ, ban, ngành, tỉnh được tặng bằng, khung và được thưởng 03 lần mức lương cơ sở;

- Danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cơ sở" được tặng bằng, khung và được thưởng 01 lần mức lương cơ sở;

- Danh hiệu "Lao động tiên tiến", "Chiến sĩ tiên tiến" được thưởng 0,3 lần mức lương cơ sở.

Đối với tập thể:

- Danh hiệu "Tập thể lao động xuất sắc", "Đơn vị quyết thắng" được tặng Bằng chứng nhận, khung và được thưởng 1,5 lần mức lương cơ sở;

- Danh hiệu "Tập thể Lao động tiên tiến", "Đơn vị tiên tiến" được thưởng 0,8 lần mức lương cơ sở;

- Danh hiệu xã, phường, đặc khu tiêu biểu được tặng Bằng chứng nhận, khung và được thưởng 02 lần mức lương cơ sở;

- Danh hiệu thôn, tổ dân phố văn hóa được tặng Bằng chứng nhận, khung và được thưởng 1,5 lần mức lương cơ sở;

- Danh hiệu "Cờ thi đua của Chính phủ" được tặng cờ và được thưởng 12 lần mức lương cơ sở;

- Danh hiệu cờ thi đua của bộ, ban, ngành, tỉnh được tặng cờ và được thưởng 08 lần mức lương cơ sở;

- Danh hiệu cờ thi đua của quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ; cờ thi đua của Đại học Quốc gia được tặng cờ và được thưởng 06 lần mức lương cơ sở.

Mức tiền thưởng Huân chương các loại

Cá nhân được tặng hoặc truy tặng Huân chương các loại được tặng bằng, khung, hộp đựng khung bằng, Huân chương, hộp đựng Huân chương kèm theo mức tiền thưởng như sau:

- "Huân chương Sao vàng": 46,0 lần mức lương cơ sở;

- "Huân chương Hồ Chí Minh": 30,5 lần mức lương cơ sở;

- "Huân chương Độc lập" hạng Nhất, "Huân chương Quân công" hạng Nhất: 15,0 lần mức lương cơ sở;

- "Huân chương Độc lập" hạng Nhì, "Huân chương Quân công" hạng Nhì: 12,5 lần mức lương cơ sở;

- "Huân chương Độc lập" hạng Ba, "Huân chương Quân công" hạng Ba: 10,5 lần mức lương cơ sở;

- "Huân chương Lao động" hạng Nhất, "Huân chương Chiến công" hạng Nhất, "Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất": 9,0 lần mức lương cơ sở;

- "Huân chương Lao động" hạng Nhì, "Huân chưong Chiến công" hạng Nhì, "Huân chương Bảo vệ Tổ quốc" hạng Nhì, "Huân chương Đại đoàn kết dân tộc": 7,5 lần mức lương cơ sở;

- "Huân chương Lao động" hạng Ba, "Huân chương Chiến công" hạng Ba, "Huân chương Bảo vệ Tổ quốc" hạng Ba, "Huân chương Dũng cảm", "Huân chương Hữu nghị": 4,5 lần mức lương cơ sở.

Tập thể được tặng thưởng Huân chương các loại được tặng thưởng Bằng, khung, Huân chương, hộp đựng Huân chương kèm theo mức tiền thưởng gấp hai lần mức tiền thưởng đối với cá nhân.

Mức tiền thưởng Huy chương

Cá nhân được tặng hoặc truy tặng Huy chương được quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Thi đua, khen thưởng được tặng bằng, khung, hộp đựng khung bằng, Huy chương, hộp đựng Huy chương và được thưởng 1,5 lần mức lương cơ sở.

Quy định chi tiết việc tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 371/2026/NĐ-CP quy định chi tiết việc tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/9/2026- Ảnh 2.

Quy định mới về tuyển dụng người Việt Nam làm việc cho tổ chức nước ngoài tại Việt Nam - Ảnh minh họa

Nghị định 371/2026/NĐ-CP quy định về việc tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam theo khoản 3 Điều 150 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14.

Điều 5 Nghị định 371/2026/NĐ-CP quy định cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 3 Nghị định này là các cơ quan, tổ chức được Bộ Ngoại giao phân cấp, ủy quyền, giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu thực hiện quản lý người lao động Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Khoản 2, khoản 3 Điều 3 Nghị định 371/2026/NĐ-CP quy định: "2. Tổ chức nước ngoài tại Việt Nam là cơ quan, tổ chức nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, gồm:

a) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện các tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế liên Chính phủ, các tổ chức khu vực, tiểu khu vực;

b) Văn phòng đại diện tổ chức thuộc Chính phủ nước ngoài;

c) Văn phòng thường trú cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh và truyền hình nước ngoài;

d) Tổ chức phi chính phủ nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy đăng ký theo quy định của pháp luật Việt Nam.

3. Cá nhân nước ngoài tại Việt Nam là người nước ngoài làm việc tại các tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này có hoạt động sử dụng người lao động Việt Nam."

Tổ chức nước ngoài tuyển lao động Việt Nam phải đăng tin tuyển dụng trên Sàn giao dịch việc làm quốc gia

Nghị định quy định rõ về tuyển dụng người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Theo đó, khi có nhu cầu tuyển dụng người lao động Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài phải thông báo bằng văn bản trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến, qua địa chỉ thư điện tử chính thức của cơ quan, tổ chức quản lý quy định tại Điều 5 Nghị định này, trong đó nêu rõ vị trí việc làm, số lượng cần tuyển dụng.

Đồng thời, tổ chức, cá nhân nước ngoài phải thực hiện đăng tải công khai thông tin tuyển dụng người lao động Việt Nam trên Sàn giao dịch việc làm quốc gia (địa chỉ: https://www.vieclam.gov.vn) hoặc cổng thông tin việc làm hợp pháp khác hoặc trang thông tin điện tử chính thức của tổ chức.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tuyển dụng người lao động Việt Nam hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức quản lý quy định tại Điều 5 Nghị định này hỗ trợ việc tuyển dụng người lao động Việt Nam.

Khi có đề nghị từ tổ chức, cá nhân nước ngoài, cơ quan, tổ chức quản lý quy định tại Điều 5 Nghị định này thực hiện việc tuyển chọn, giới thiệu ứng viên theo mô tả công việc đã được cung cấp.

Quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam

Theo Nghị định, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký kết hợp đồng lao động với người lao động Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài phải thông báo bằng văn bản trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến, qua địa chỉ thư điện tử chính thức của cơ quan, tổ chức quản lý quy định tại Điều 5 Nghị định này, trong đó ghi rõ họ và tên, số định danh cá nhân, vị trí việc làm và thời điểm bắt đầu làm việc của người lao động Việt Nam được tuyển dụng.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký kết hợp đồng lao động với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người lao động Việt Nam có trách nhiệm nộp hồ sơ quản lý người lao động theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 8 Nghị định này trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến, qua địa chỉ thư điện tử chính thức của cơ quan, tổ chức quản lý.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đầy đủ thông báo của tổ chức, cá nhân nước ngoài và hồ sơ quản lý người lao động Việt Nam, cơ quan, tổ chức quản lý gửi thông báo bằng văn bản trực tiếp hoặc trực tuyến đến tổ chức, cá nhân nước ngoài về việc tiếp nhận quản lý người lao động Việt Nam.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài phải thông báo bằng văn bản trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến, qua địa chỉ thư điện tử chính thức của cơ quan, tổ chức quản lý, trong đó nêu lý do chấm dứt.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài, cơ quan, tổ chức quản lý gửi văn bản xác nhận trực tiếp hoặc trực tuyến về việc chấm dứt quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài; hoàn trả hồ sơ quản lý người lao động Việt Nam cho người lao động Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Nghị định 371/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 15/11/2026. Nội dung về tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam quy định tại Nghị định số 152/2020/NĐ-CP ngày 30/12/2020 của Chính phủ quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 70/2023/NĐ-CP ngày 18/9/2023 của Chính phủ hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.

Việc tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho Văn phòng đại diện tại Việt Nam của tổ chức nước ngoài hoạt động trong các lĩnh vực: kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, y tế, tư vấn pháp luật nước ngoài được thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động và quy định pháp luật khác liên quan.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2025/NĐ-CP quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã ký ban hành Nghị định số 369/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp.

Một người giữ nhiều chức danh, chức vụ thì được áp dụng tiêu chuẩn, định mức cao nhất

Trong đó, Nghị định sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 3 của Nghị định 155/2025/NĐ-CP liên quan đến tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích làm việc phục vụ công tác của các chức danh, chức vụ theo hướng đảm bảo bao quát các trường hợp trong thực tế.

Theo quy định mới: "Tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích làm việc phục vụ công tác các chức danh được xác định theo từng chức danh, chức vụ. Trường hợp một người giữ nhiều chức danh, chức vụ thì được áp dụng tiêu chuẩn, định mức cao nhất.

Ủy viên Trung ương Đảng dự khuyết đang đảm nhiệm vị trí công tác nào thì được áp dụng tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích làm việc theo chức vụ đang công tác.

Đối với các chức danh, chức vụ trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa được quy định cụ thể tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và tại Quy định số 368-QĐ/TW ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị quy định về Danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị (sau đây gọi là Quy định số 368-QĐ/TW), được điều chỉnh theo Kết luận số 31-KL/TW ngày 11/5/2026 của Bộ Chính trị về việc điều chỉnh phân cấp quản lý cán bộ và Danh mục chức danh lãnh đạo các cơ quan truyền thông, báo chí quốc gia, viện hàn lâm khoa học xã hội và khoa học công nghệ phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới (sau đây gọi là Kết luận số 31-KL/TW) thì căn cứ quy định, quyết định, kết luận hoặc thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền về chức danh, chức vụ đó tương đương với chức danh, chức vụ nào quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này hoặc tương đương nhóm, bậc nào tại Quy định số 368-QĐ/TW (được điều chỉnh theo Kết luận số 31-KL/TW) để xác định tiêu chuẩn, định mức diện tích làm việc tương ứng."

Đồng thời, Nghị định số 369/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 3 của Nghị định 155/2025/NĐ-CP theo hướng quy định rõ cách xác định tiêu chuẩn, định mức diện tích làm việc được giao và điều chuyển như sau:

"Diện tích làm việc phục vụ công tác các chức danh, diện tích sử dụng chung, diện tích chuyên dùng, diện tích công trình sự nghiệp quy định tại Nghị định này là diện tích được tính theo kích thước thông thủy theo quy định của pháp luật, không bao gồm cầu thang, thang máy, thang thoát hiểm, ram dốc, diện tích nhà để xe, diện tích tường bao, tường phân chia các phòng làm việc, diện tích sàn có cột, hộp kỹ thuật và tường bao hộp kỹ thuật (nếu có) bên trong phòng làm việc, diện tích của vật kiến trúc và các tài sản khác gắn liền với đất (trừ nhà).

Tiêu chuẩn, định mức để thực hiện việc giao, điều chuyển được xác định theo tổng diện tích của các loại diện tích này và được tính cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng tài sản công. Trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng nhiều trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp thì tiêu chuẩn, định mức được xác định trên cơ sở tổng diện tích của toàn bộ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp được giao quản lý, sử dụng.".

Rà soát trụ sở làm việc, xử lý phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức (nếu có)

Đáng chú ý, Nghị định bổ sung thêm Điều 3a quy định về việc rà soát trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp theo tiêu chuẩn, định mức, xử lý đối với phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức (nếu có) như sau:

"1- Đối với trường hợp thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chấm dứt hoạt động; cơ quan quản lý cấp trên của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản bị giải thể, chấm dứt hoạt động:

Cơ quan, tổ chức, đơn vị được kế thừa quyền quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp sau khi sáp nhập, hợp nhất; được giao quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp theo đề án/phương án chia tách được cấp có thẩm quyền phê duyệt; được tiếp nhận trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp theo đề án/phương án sắp xếp bộ máy được cấp có thẩm quyền phê duyệt; được tiếp tục quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp sau khi chuyển sang trực thuộc cơ quan quản lý cấp trên khác (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận) có trách nhiệm tiếp nhận nguyên trạng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp. Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày tiếp nhận, cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận có trách nhiệm rà soát để xử lý theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này.

2- Trường hợp trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp tiếp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều này có diện tích phù hợp với tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại Nghị định này hoặc có diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại Nghị định này mà phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức không vượt quá 300 m2 thì cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công để xem xét, quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị mình quản lý, sử dụng và không tính phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức (nếu có) vào diện tích của cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận để xác định tiêu chuẩn, định mức.

3- Trường hợp trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp tiếp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều này có diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại Nghị định này mà phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức vượt quá 300 m2 thì thực hiện như sau:

a) Cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận đăng tải thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Văn phòng Trung ương Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là Cổng thông tin điện tử của bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); thời hạn đăng tải là 30 ngày. Thông tin đăng tải cần nêu rõ về: địa chỉ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; công năng sử dụng; phần diện tích dự kiến bố trí cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tiếp nhận; sơ đồ mặt bằng hoặc tài liệu thể hiện hiện trạng bố trí sử dụng; các thông tin khác có liên quan (nếu có).

b) Trong thời hạn đăng tải 30 ngày, kể từ ngày đăng tải, cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tiếp nhận gửi văn bản đề nghị đến cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận; trong đó thuyết minh rõ: mục đích sử dụng, diện tích theo tiêu chuẩn, định mức của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình, đề nghị tiếp nhận và thuyết minh sự phù hợp giữa diện tích đề nghị tiếp nhận với diện tích dự kiến bố trí của cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận theo thông tin đăng tải. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tiếp nhận chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, số liệu trong văn bản đề nghị.

c) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn đăng tải, cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận có trách nhiệm rà soát, xác định cơ quan, tổ chức, đơn vị đáp ứng điều kiện tiếp nhận theo quy định của Nghị định này (sau đây gọi chung là đơn vị có nhu cầu tiếp nhận phù hợp). Việc xác định đơn vị có nhu cầu tiếp nhận phù hợp được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau:

Mục đích sử dụng của đơn vị có nhu cầu tiếp nhận phù hợp với công năng sử dụng của phần diện tích dự kiến bố trí và diện tích đề nghị tiếp nhận phù hợp với phần diện tích dự kiến bố trí.

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận.

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) của cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận.

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan trung ương, tỉnh, thành phố của cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận.

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan trung ương, tỉnh, thành phố khác (không bao gồm bộ, cơ quan trung ương, tỉnh, thành phố của cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận) theo đề nghị tiếp nhận của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận xem xét, quyết định lựa chọn đơn vị có nhu cầu tiếp nhận phù hợp và phối hợp với đơn vị có nhu cầu tiếp nhận phù hợp để báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định điều chuyển theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

d) Trường hợp hết thời hạn đăng tải mà không có đơn vị có nhu cầu tiếp nhận phù hợp thì cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công để xem xét, quyết định giao nguyên trạng (bao gồm cả phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức) cho cơ quan, tổ chức, đơn vị mình quản lý, sử dụng và không tính phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức vào diện tích của cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận để xác định tiêu chuẩn, định mức. Cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận được quản lý, sử dụng ổn định trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp cho đến khi bắt đầu kỳ rà soát 05 năm tiếp theo.

4. Đối với trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp thực hiện giao, điều chuyển không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:

a) Trường hợp điều chuyển trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp do có sự thay đổi về cơ quan quản lý, cơ cấu tổ chức, phân cấp quản lý (khi điều chuyển không phải thuyết minh sự phù hợp về tiêu chuẩn, định mức) thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày tiếp nhận, cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận tài sản điều chuyển có trách nhiệm rà soát để xử lý theo quy định tại các khoản 2 và 3 Điều này.

b) Trường hợp giao, điều chuyển không thuộc điểm a khoản này mà trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp thực hiện giao, điều chuyển có diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức của cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tiếp nhận nhưng không có cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có nhu cầu tiếp nhận tại thời điểm quyết định giao, điều chuyển thì trên cơ sở đề nghị tiếp nhận nguyên trạng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tiếp nhận, cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) của cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tiếp nhận, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tiếp nhận (nếu điều chuyển ngoài phạm vi của bộ, cơ quan trung ương, tỉnh, thành phố), cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao, điều chuyển theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công quyết định giao, điều chuyển theo nguyên trạng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp.

c) Trường hợp trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp thực hiện giao, điều chuyển theo quy định tại điểm b khoản này có diện tích phù hợp với tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại Nghị định này hoặc có diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại Nghị định này mà phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức không vượt quá 300 m2 thì cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận được quản lý, sử dụng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền và không tính phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức (nếu có) vào diện tích của cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận để xác định tiêu chuẩn, định mức.

d) Trường hợp trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp thực hiện giao, điều chuyển theo quy định tại điểm b khoản này có diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại Nghị định này mà phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức vượt quá 300 m2 thì cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận có trách nhiệm xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều này.".

Định mức trụ sở làm việc được xác định theo kỳ ổn định 05 năm

Bên cạnh đó, Nghị định số 369/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 3b quy định về ổn định tiêu chuẩn, định mức trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp như sau:

" 1. Tiêu chuẩn, định mức trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp được xác định theo kỳ ổn định 05 năm. Việc rà soát được thực hiện một lần trong mỗi kỳ ổn định.

a) Kỳ rà soát đầu tiên được thực hiện trong quý I năm 2027, thời điểm chốt số liệu là ngày 01 tháng 01 năm 2027.

b) Các kỳ rà soát tiếp theo, việc rà soát được thực hiện trong quý I năm đầu tiên của kỳ rà soát, thời điểm chốt số liệu là ngày 01 tháng 01 năm đầu tiên của kỳ rà soát đó để áp dụng kết quả từ ngày 01 tháng 01 của năm đầu tiên của chu kỳ 05 năm.

c) Cơ quan, tổ chức, đơn vị đã hoàn thành việc rà soát, xử lý theo quy định tại Điều 3a của Nghị định này trong thời hạn 02 năm tính đến ngày 01 tháng 01 của năm đầu tiên của kỳ rà soát tiếp theo thì không phải thực hiện rà soát trong kỳ đó; kết quả rà soát trước đó được sử dụng trong suốt kỳ ổn định còn lại.

2. Diện tích được ổn định trong kỳ là toàn bộ diện tích trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp được cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao quản lý, sử dụng, bao gồm:

a) Diện tích theo tiêu chuẩn, định mức quy định tại Nghị định này.

b) Phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức đã được cơ quan, người có thẩm quyền quyết định cho phép tiếp tục quản lý, sử dụng theo quy định tại Điều 3a và Điều này; không tính phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức này vào diện tích của cơ quan, tổ chức, đơn vị khi xác định tiêu chuẩn, định mức.

3. Việc xác định diện tích trong kỳ ổn định được thực hiện như sau:

a) Trường hợp trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp có diện tích phù hợp với tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại Nghị định này hoặc có diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại Nghị định này mà phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức không vượt quá 300 m2 thì cơ quan, tổ chức, đơn vị đang quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp báo cáo cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) để báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công cho phép tiếp tục quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp.

b) Trường hợp trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp có diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại Nghị định này mà phần diện tích lớn hơn so với tiêu chuẩn, định mức vượt quá 300 m2 thì cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 3a Nghị định này.

Trường hợp hết thời hạn đăng tải mà không có cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tiếp nhận phù hợp thì báo cáo cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) để báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công cho phép tiếp tục quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp.

4. Diện tích của cơ quan, tổ chức, đơn vị được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều này được ổn định trong 05 năm; trừ các trường hợp sau đây:

a) Sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

b) Thay đổi chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức làm thay đổi tiêu chuẩn, định mức.

c) Phát sinh yêu cầu đặc thù về nhiệm vụ, chuyển đổi số, chuyển đổi công năng, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo mật hoặc an toàn thông tin làm thay đổi nhu cầu sử dụng diện tích.

d) Có cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tiếp nhận phù hợp và có văn bản đề nghị tiếp nhận phần diện tích vượt tiêu chuẩn, định mức theo quy định tại khoản 3 Điều 3a của Nghị định này.

đ) Việc rà soát để xử lý trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 3a Nghị định này.".

Nghị định số 369/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 11/11/2026.

Phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đến năm 2045

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1855/QĐ-TTg phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đến năm 2045.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/9/2026- Ảnh 3.

Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn thành trung tâm dịch vụ cửa khẩu và hậu cần logistics quốc tế

Theo Quyết định phê duyệt, quy mô lập quy hoạch Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn có diện tích rộng 39.400 ha. Phạm vi, ranh giới bao gồm các phường: Đông Kinh, Tam Thanh, Lương Văn Tri, xã Đồng Đăng; một phần phường Kỳ Lừa (không bao gồm xã Gia Cát cũ) và một phần các xã Cao Lộc (xã Thạch Đạn cũ); Hoàng Văn Thụ (xã Tân Thanh và Tân Mỹ cũ); Khánh Khê (xã Bình Trung và một phần xã Khánh Khê cũ), Chiến Thắng (một phần xã Vân An cũ).

Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn thành trung tâm dịch vụ cửa khẩu và hậu cần logistics quốc tế

Quan điểm điều chỉnh quy hoạch nhằm phù hợp với định hướng của quy hoạch cấp quốc gia; quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc; quy hoạch tỉnh Lạng Sơn; chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia; phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới đất liền kết hợp với tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư tại Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn.

Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn thành trung tâm kinh tế cửa khẩu hiện đại, năng động, trung tâm dịch vụ cửa khẩu và hậu cần logistics quốc gia và quốc tế; là cầu nối quan trọng kết nối Việt Nam, ASEAN với thị trường Trung Quốc, là một trong những trung tâm du lịch, thương mại, dịch vụ trọng điểm của tỉnh và vùng Đông Bắc, gắn với phát triển bền vững và đảm bảo môi trường sinh thái. Bảo vệ và tôn tạo các giá trị cảnh quan thiên nhiên, cấu trúc không gian đặc trưng đô thị và tạo lập bản sắc đô thị.

Mục tiêu điều chỉnh quy hoạch là định hướng phân bổ không gian phát triển hợp lý, khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế và bảo đảm cơ hội cho các hoạt động phát triển trong Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn; kế thừa các định hướng còn phù hợp tại Quy hoạch chung đã được phê duyệt trước đây.

Đồng thời, tạo động lực phát triển đột phá về kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn; có hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại; không gian kiến trúc cảnh quan, đô thị văn minh, tiên tiến, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng đất đai hiệu quả; làm cơ sở pháp lý để quản lý xây dựng theo quy hoạch, bảo đảm các mục tiêu phát triển bền vững.

Về tính chất chức năng của khu kinh tế, Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn được xác định là một trong những trung tâm thương mại, dịch vụ du lịch và công nghiệp lớn của vùng trung du và miền núi phía Bắc; là đầu mối hạ tầng giao thông quan trọng của quốc gia mang sứ mệnh kết nối chiến lược giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.

Là khu kinh tế tổng hợp, trung tâm dịch vụ cửa khẩu và hậu cần logistics tầm cỡ quốc gia, quốc tế; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển đô thị biên giới với bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh quốc gia.

Quy mô dân số đến năm 2035 là khoảng 235.000 - 240.000 người; đến năm 2045 khoảng 295.000 - 300.000 người. Đến năm 2035, đất xây dựng khoảng 10.630 - 11.000 ha. Đến năm 2045 đất xây dựng khoảng 13.200 - 13.700 ha.

Định hướng phát triển toàn bộ khu kinh tế được cấu trúc thành 3 phân vùng trọng điểm

Về định hướng phát triển không gian tổng thể, từng bước hình thành không gian khu kinh tế - đô thị đồng bộ thống nhất với các phân vùng chức năng đặc thù của từng khu vực; khu vực đô thị dịch vụ, công nghiệp tập trung phát triển theo các hành lang dọc quốc lộ 1 và 4A và các đầu mối giao thông đường bộ và đường sắt, tạo nên chuỗi các khu chức năng; các khu vực đồi núi phía Đông và phía Tây được phát triển nông, lâm nghiệp gắn với bảo vệ hệ sinh thái đồi rừng, bảo vệ nguồn nước; nâng cấp, bổ sung các tuyến đường vành đai kết nối, hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội các khu dân cư hiện hữu, nâng cao điều kiện sống của người dân khu vực.

Định hướng phát triển không gian các khu vực: Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn được chia thành 3 phân vùng chính:

Vùng 1 (vùng phía Bắc) - vùng kinh tế cửa khẩu và đô thị, bao gồm các khu vực sát biên giới thuộc xã Đồng Đăng và một phần các xã Hoàng Văn Thụ, Cao Lộc; diện tích khu vực khoảng 19.123 ha; quy mô dân số đến năm 2045 khoảng 71.000 - 71.200 người.

Đây là phân vùng động lực về kinh tế cửa khẩu; là đầu mối giao thông, cửa ngõ giao lưu, phát triển kinh tế theo hướng hiện đại, thông minh, gắn với hệ thống cửa khẩu đường bộ, đường sắt, khu trung chuyển hàng hóa, khu chế xuất, cảng cạn, thương mại biên giới và dịch vụ logistics.

Vùng 2 (vùng trung tâm) - vùng đô thị Lạng Sơn, bao gồm các khu vực phường Tam Thanh, một phần các phường Kỳ Lừa, Đông Kinh, Lương Văn Tri và một phần xã Khánh Khê; diện tích khu vực khoảng 12.774 ha; quy mô dân số đến năm 2045 khoảng 203.000 - 207.000 người.

Theo quy hoạch, đây là cực tăng trưởng động lực phía Bắc của tỉnh Lạng Sơn gắn với Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn; là đô thị dịch vụ đa ngành, đa lĩnh vực, với vai trò là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, đầu mối giao thông và hỗ trợ logistics của tỉnh Lạng Sơn.

Vùng 3 (vùng phía Nam) - vùng phát triển du lịch, dịch vụ và công nghiệp, bao gồm các khu vực một phần các phường Kỳ Lừa, Đông Kinh, Lương Văn Tri, một phần xã Chiến Thắng; diện tích khu vực khoảng 7.502 ha; quy mô dân số đến năm 2045 khoảng 21.000 - 21.800 người.

Đây là vùng phát triển mới, cửa ngõ phía Nam của khu kinh tế; là vùng đô thị sinh thái, dịch vụ du lịch; khu vực trọng tâm về phát triển công nghiệp, gắn với dịch vụ kho tàng, bến bãi giữ vai trò đầu mối trung chuyển vùng và quốc gia; có hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thân thiện với môi trường, đáp ứng các điều kiện để hình thành khu thương mại tự do.

Quy chế phối hợp công tác của thành viên Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc - Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên ký Quyết định số 142/QĐ-HĐQGTPNCTN ban hành Quy chế phối hợp công tác của thành viên Hội đồng này.

Quy chế này quy định nguyên tắc phối hợp giữa các thành viên Hội đồng; công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng; công tác phối hợp chỉ đạo tổ chức thực hiện pháp luật về tư pháp người chưa thành niên.

Công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng

Về công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng, Quyết định quy định phối hợp trong: Tham mưu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng; thực hiện các hoạt động của Hội đồng; phối hợp công tác của Cơ quan thường trực và thành viên Hội đồng như sau:

Tham mưu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng:

- Phối hợp chặt chẽ với Cơ quan thường trực hoặc bộ, ngành, cơ quan là thành viên Hội đồng được Chủ tịch Hội đồng phân công chủ trì tổ chức cuộc họp Hội đồng và thông báo kết quả cuộc họp đến thành viên Hội đồng, các cơ quan, đơn vị liên quan.

- Thành viên Hội đồng trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn được giao phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên.

- Phối hợp trao đổi thông tin báo cáo đánh giá kết quả công tác tư pháp người chưa thành niên theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Phối hợp trong công tác kiểm tra đánh giá, kiến nghị giải pháp tăng cường quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực liên quan đến người chưa thành niên.

Thực hiện các hoạt động của Hội đồng:

- Thành viên Hội động phối hợp tổ chức các cuộc họp với các cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương liên quan công tác tư pháp người chưa thành niên.

- Báo cáo Hội đồng kết quả công tác tư pháp người chưa thành niên theo thẩm quyền, trách nhiệm được phân công.

- Phối hợp thông tin, báo cáo, giải trình kết quả công tác tư pháp người chưa thành niên của thành viên Hội đông.

Phối hợp công tác của Cơ quan thường trực và thành viên Hội đồng:

- Cơ quan thường trực phối hợp với thành viên Hội đồng thành lập Tổ giúp việc của Hội đồng.

- Phối hợp chuẩn bị nội dung, xây dựng chương trình, kế hoạch, hướng dẫn các cơ quan, tổ chức liên quan về công tác tư pháp người chưa thành niên.

- Phối hợp theo dõi, kiểm tra, tổng hợp tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụ về công tác tư pháp người chưa thành niên theo phân công.

- Phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan, chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức, cá nhân, tổ chức quốc tế huy động nguồn lực xã hội cho công tác tư pháp người chưa thành niên.

Công tác phối hợp chỉ đạo tổ chức thực hiện pháp luật về tư pháp người chưa thành niên

Về công tác phối hợp chỉ đạo tổ chức thực hiện pháp luật về tư pháp người chưa thành niên, Quyết định quy định phối hợp trong: Rà soát, kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về tư pháp người chưa thành niên; công tác truyền thông về tư pháp người chưa thành niên; tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp người chưa thành niên; tiếp nhận và báo cáo kết quả trả lời kiến nghị về công tác tư pháp người chưa thành niên; kiểm tra, đánh giá công tác tư pháp người chưa thành niên; trao đổi, cung cấp thông tin trong công tác tư pháp người chưa thành niên như sau:

Rà soát, kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về tư pháp người chưa thành niên:

- Phối hợp rà soát, kiến nghị, sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản liên quan đến công tác tư pháp người chưa thành niên thuộc chức năng, nhiệm vụ.

- Trường hợp văn bản cần có sự tham gia của các đơn vị, thành viên Hội đồng báo cáo đề xuất Chủ tịch Hội đồng thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập để thực hiện theo quy định.

Công tác truyền thông về tư pháp người chưa thành niên:

- Các thành viên Hội đồng chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng nội dung, chương trình truyền thông giáo dục pháp luật về tư pháp người chưa thành niên.

- Phối hợp tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, truyền thông trực tiếp, trực tuyến, truyền thông tại cộng đồng về công tác tư pháp người chưa thành niên.

Tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp người chưa thành niên:

- Phối hợp hướng dẫn cơ quan, tổ chức, địa phương xây dựng tài liệu, tập huấn liên ngành nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác tư pháp, xử lý chuyển hướng và tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên.

- Phối hợp hướng dẫn công tác hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên sau khi chấp hành các biện pháp xử lý chuyển hướng.

Tiếp nhận và báo cáo kết quả trả lời kiến nghị về công tác tư pháp người chưa thành niên:

- Phối hợp trao đổi về kết quả trả lời kiến nghị, phối hợp giải trình các vấn đề về tư pháp người chưa thành niên theo đề nghị của các cơ quan, ban, ngành, tổ chức liên quan.

- Phối hợp hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo giải trình các vấn đề về tư pháp người chưa thành niên.

Kiểm tra, đánh giá công tác tư pháp người chưa thành niên:

- Định kỳ hằng năm, Cơ quan thường trực chủ trì, phối hợp xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác tư pháp người chưa thành niên trình Chủ tịch Hội đồng quyết định. Trường hợp cần thiết, thành viên Hội đồng báo cáo Chủ tịch Hội đồng kế hoạch kiểm tra, đánh giá các nội dung về tư pháp người chưa thành niên.

- Căn cứ kết quả kiểm tra, đánh giá, phối hợp xử lý khó khăn, vướng mắc trong giải quyết các vấn đề về tư pháp người chưa thành niên. Trường hợp vượt thẩm quyền thì báo cáo Chủ tịch Hội đồng xem xét quyết định.

Trao đổi, cung cấp thông tin trong công tác tư pháp người chưa thành niên:

- Hội đồng giao Cơ quan thường trực tổng hợp kết quả công tác tư pháp người chưa thành niên của Hội đồng.

- Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 294/2025/NĐ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ quy định Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên.

Ông Lương Hoàng Thái giữ chức Thứ trưởng Bộ Công Thương

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1836/QĐ-TTg bổ nhiệm ông Lương Hoàng Thái, Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại giữ chức Thứ trưởng Bộ Công Thương./.