Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/8/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/8/2026.
Kế hoạch hành động thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Thông báo số 117-TB/VPTW ngày 04/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về công tác phòng, chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 201/NQ-CP về Kế hoạch hành động thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Thông báo số 117-TB/VPTW ngày 04/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về công tác phòng, chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu.

Chuyển mạnh từ ứng phó bão, lũ, thiên tai bị động sang quản trị rủi ro chủ động; từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa
Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định nhiệm vụ cụ thể để các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương xây dựng kế hoạch hành động chi tiết đến cấp cơ sở, đơn vị và tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, nội dung tại Thông báo số 117-TB/VPTW bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, thống nhất, hiệu quả và hoàn thành đúng tiến độ.
Đồng thời, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành, địa phương và toàn xã hội, trong đó xác định công tác phòng, chống thiên tai là một cấu phần của phát triển bền vững, gắn với bảo đảm an ninh con người, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và ổn định xã hội; tích hợp trong các kịch bản điều hành phát triển, kế hoạch đầu tư công, điều hành sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư, bảo đảm an sinh và bảo vệ đời sống nhân dân; định hướng chuyển mạnh từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro chủ động; từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; từ chỉ đạo theo mùa vụ sang chuẩn bị thường xuyên; từ cách làm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang cách làm dựa trên dữ liệu, khoa học, công nghệ, pháp luật, kỷ luật quy hoạch và trách nhiệm của người đứng đầu.
Chủ động ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn, lũ quét, sạt lở đất
Theo Kế hoạch, từ nay đến hết năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia giai đoạn 2026-2030; cập nhật kịch bản thiên tai, hướng dẫn cảnh báo theo tác động.
Chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn đê điều, hồ đập; chủ động ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn, lũ quét, sạt lở đất; nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo; chuyển mạnh từ cảnh báo hiện tượng sang cảnh báo tác động, chi tiết đến từng địa bàn.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các địa phương liên quan rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên, hoàn thiện danh mục dự án để bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu thuộc các Đề án do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tại Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chuẩn bị lực lượng, phương tiện, phương án cứu hộ, cứu nạn, phối hợp sơ tán dân, bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn xảy ra thiên tai. Chủ trì, phối hợp với Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia điều động lực lượng vũ trang để chi viện hỗ trợ các lực lượng tại chỗ ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai hoặc để ổn định, duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong trường hợp vượt quá khả năng ứng phó của cấp tỉnh.
Bộ Xây dựng rà soát quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, thoát nước đô thị, nhà ở an toàn, hạ tầng chống chịu thiên tai.
Bảo đảm tuyệt đối an toàn tính mạng Nhân dân trong mọi tình huống
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai trên địa bàn; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra các địa bàn xung yếu, khu vực có nguy cơ cao xảy ra thiên tai; chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã nắm chắc từng hộ dân, địa bàn và các khu vực có nguy cơ xảy ra thiên tai (lũ quét, sạt lở, ngập lụt, …) để chủ động ứng phó, không bị động, bất ngờ.
Bảo đảm tuyệt đối an toàn tính mạng Nhân dân trong mọi tình huống. Đồng thời, cần xác định rõ các phương án sơ tán khi có tình huống khẩn cấp: Đối tượng ưu tiên sơ tán trước, lộ trình di chuyển phương tiện, lực lượng hỗ trợ; bảo đảm các điều kiện thiết yếu tại nơi trú tránh như nước sạch, thuốc men, điện, vệ sinh môi trường và an ninh trật tự.
Thường xuyên rà soát, cập nhật, tích hợp công tác phòng, chống thiên tai vào kịch bản điều hành tăng trưởng năm 2026. Đồng thời, có phương án cụ thể để duy trì hoạt động và phục hồi nhanh các lĩnh vực trọng yếu khi xảy ra thiên tai, bao gồm các khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển, sân bay, logistics, du lịch; vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản; hệ thống năng lượng, điện, nước, viễn thông, giao thông…, không để sản xuất kinh doanh bị đình trệ kéo dài do tác động của thiên tai.
Cập nhật kịch bản sẵn sàng ứng phó với các tình huống thiên tai bất thường, vượt lịch sử
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố rà soát, cập nhật phương án ứng phó thiên tai những tháng cuối năm 2026 (hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước, cháy rừng, bão mạnh, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng đô thị, sự cố hồ đập, đê điều...), trong đó cập nhật kịch bản sẵn sàng ứng phó với các tình huống thiên tai bất thường, vượt lịch sử như đã xảy ra các năm 2024, 2025. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm phê duyệt, triển khai phương án ứng phó tại địa phương đảm bảo xây dựng chi tiết, khả thi, phù hợp với đặc thù từng vùng, từng địa bàn, từng khu dân cư có nguy cơ chịu ảnh hưởng cao; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý đường bộ trong việc phân luồng giao thông, huy động lực lượng, phương tiện, bố trí bãi đổ đất, đá, giải phóng mặt bằng và xử lý các vướng mắc phát sinh khi khắc phục sự cố giao thông do thiên tai gây ra.
Các địa phương khu vực Nam Trung Bộ, cao nguyên Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long chủ động xây dựng kế hoạch ứng phó cụ thể với hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn mùa khô 2026-2027, tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp từ điều chỉnh lịch thời vụ, giống cây trồng, điều tiết hồ chứa, cấp nước, trữ nước cho sinh hoạt và sản xuất, phòng cháy rừng, bảo vệ cây trồng, vật nuôi… đến thông tin cảnh báo cho từng cộng đồng dân cư.
Tổ chức lại phương châm "bốn tại chỗ" trên cơ sở rà soát lực lượng phòng thủ dân sự tại chỗ ở cấp xã, ở thôn, bản, đặc biệt là thanh niên, người có kỹ năng vận hành máy móc, phương tiện. Chỉ đạo thiết lập, triển khai cơ chế phối hợp liên xã, liên địa bàn theo lưu vực sông, vùng hạ du hồ chứa, ven biển, vùng có nguy cơ sạt lở, ngập sâu, chia cắt; xác định rõ xã trung tâm, điểm tập kết lực lượng, vật tư, phương tiện, tuyến sơ tán, nơi trú tránh và phương án chi viện chéo giữa các xã, giữa địa bàn xung yếu với địa bàn an toàn hơn. Khi có tình huống vượt quá khả năng cấp xã, phải có lực lượng cơ động cấp tỉnh, quân đội, công an chi viện.
Chuyển mạnh từ cảnh báo hiện tượng sang cảnh báo tác động, chi tiết đến từng địa bàn
Thường xuyên kiểm tra an toàn công trình xung yếu và hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là công trình đê điều, hồ đập, công trình phòng, chống thiên tai, công trình hạ tầng quan trọng đang sử dụng như sân bay, đường sắt, đường cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ, đường độc đạo liên xã, liên thôn, bến cảng quốc gia, hệ thống lưới cao thế từ 66 kV trở lên, trường học, bệnh viện, trụ sở các cơ quan, các khu kinh tế, khu công nghiệp, công trình thủy lợi, khu neo đậu tàu thuyền, hệ thống viễn thông, công trình cấp nước, các điểm sạt lở bờ sông, bờ biển,… Trên cơ sở đó, phải có biện pháp khẩn cấp cần áp dụng ngay để ứng phó và khắc phục hậu quả nhằm ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai và sự cố công trình; đồng thời cảnh báo, hạn chế đi lại, bố trí lực lượng, vật tư, xây dựng phương án sơ tán người dân vùng có nguy cơ chịu ảnh hưởng.
Nâng cao chất lượng cảnh báo và truyền tin đến người dân. Chuyển mạnh từ cảnh báo hiện tượng sang cảnh báo tác động, chi tiết đến từng địa bàn (khu vực nào có thể ngập, bị chia cắt, tuyến đường nào bị cấm, hộ dân nào cần sơ tán…). Kết hợp đa dạng kênh truyền tin để cảnh báo đến đúng người, đúng nơi, đúng thời điểm, thông qua chính quyền, các tổ chức đoàn thể và các hình thức như truyền hình, phát thanh, loa truyền thanh, tin nhắn, mạng xã hội,... Trong trường hợp không có sóng điện thoại hoặc mất điện, phải bố trí phương án truyền tin thay thế bằng loa truyền thanh, loa lưu động, bộ đàm, lực lượng trực tiếp đến từng hộ dân và các hình thức thông tin phù hợp khác; nội dung cảnh báo phải ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với đặc điểm dân cư từng địa bàn...
Thành lập Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1499/QĐ-TTg về việc thành lập Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên.
Theo Quyết định, thành lập Khu Công nghệ cao trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên với tên gọi là Khu Công nghệ cao tỉnh Hung Yên; có quy mô diện tích 496,1 ha, thuộc địa bàn các xã: Hoàn Long và Việt Yên, tỉnh Hưng Yên.
Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên có chức năng thực hiện các hoạt động công nghệ cao phù hợp với chính sách phát triển công nghệ cao của Việt Nam; thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm công nghệ chiến lược; cung ứng dịch vụ công nghệ cao, dịch vụ công nghệ chiến lược; hỗ trợ ươm tạo, đào tạo, chuyển giao công nghệ cao, công nghệ chiến lược và thực hiện các nhiệm vụ, chức năng khác của khu công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.
Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên có trách nhiệm ban hành, sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động của Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên; chủ trì chỉ đạo, tổ chức triển khai, bảo đảm bố trí nguồn lực theo khả năng cân đối ngân sách và huy động các nguồn lực hợp pháp khác để thực hiện các nhiệm vụ về đầu tư xây dựng và phát triển, hoạt động quản lý nhà nước, các chính sách hỗ trợ và các nhiệm vụ khác đối với Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên theo đúng mục tiêu và nhiệm vụ được phê duyệt; chịu trách nhiệm trước Chính phủ về các hoạt động, hiệu quả đầu tư của Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên.
Triển khai việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết và xác định ranh giới, vị trí Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên bảo đảm thống nhất với vị trí và quy mô diện tích đã được quy định.
Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên chủ động quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định theo thẩm quyền được quy định tại pháp luật về công nghệ cao đối với các vấn đề phát sinh cần điều chỉnh, bổ sung trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ; giải quyết nhanh, kịp thời các vấn đề phát sinh để tránh làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện nhiệm vụ.
Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát để bảo đảm Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên sau khi được thành lập hoạt động hiệu quả, đúng mục tiêu, nhiệm vụ đã phê duyệt; chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung báo cáo, đề xuất, kiến nghị về việc thành lập Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên.
Tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg ngày 05/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Quyết định này quy định Tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo danh mục ngành, lĩnh vực và khung tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp (sau đây gọi là Tiêu chí phân loại) làm cơ sở xây dựng kế hoạch để sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo hướng giữ nguyên tỷ lệ vốn nhà nước đang nắm giữ tại doanh nghiệp hoặc thực hiện các hình thức cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và quy định của pháp luật có liên quan.
Công ty nông, lâm nghiệp; doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định khác của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ.
Đối tượng áp dụng gồm:
1. Cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp.
2. Doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có), tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng, trừ Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam.
3. Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong việc sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Tiêu chí phân loại
Tiêu chí phân loại theo ngành, lĩnh vực đối với doanh nghiệp nhà nước và khung tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp để thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp được quy định cụ thể như sau: (*)
Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn Điều lệ hoạt động trong các ngành, lĩnh vực: Doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên; doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; doanh nghiệp xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, quan trọng quốc gia trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi, năng lượng, hạ tầng số quy định tại Nghị định số 366/2025/NĐ-CP; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế…
Doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ trở lên, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực: Quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay, vận chuyển hàng không; quản lý khai thác bến cảng tại cảng biển đặc biệt; khai thác khoáng sản quy mô lớn; sản xuất phim hoạt hình do Nhà nước đặt hàng hoặc tài trợ; tài chính, ngân hàng; cơ khí chế tạo; doanh nghiệp bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, khai thác sản xuất, cung cấp nước sạch và thoát nước đô thị, nông thôn…
Doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn, nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 65% vốn điều lệ, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực: Đầu mối nhập khẩu xăng dầu chiếm thị phần từ 30% trở lên, có vai trò bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, bình ổn thị trường; cung cấp dịch vụ viễn thông có tầm quan trọng đặc biệt đối với hạ tầng viễn thông quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh; tìm kiếm, thăm dò, đánh giá trữ lượng các loại khoáng sản (trừ dầu khí).
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành, lĩnh vực không thuộc Tiêu chí phân loại nêu trên thì sử dụng một trong các tiêu chí sau để thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp: (**)
a) Sản xuất xi măng chiếm thị phần từ 30% trở lên, trong đó có khai thác các mỏ nguyên liệu thuộc địa bàn trọng yếu về an ninh quốc phòng;
b) Các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích có tỷ trọng doanh thu từ hoạt động công ích trên tổng doanh thu của doanh nghiệp 03 năm liên tiếp liền kề trước thời điểm thực hiện cơ cấu lại đạt từ 50% trở lên;
c) Các doanh nghiệp có giá trị văn hóa; giá trị lịch sử, giá trị kiến trúc; giá trị thương hiệu quốc gia; có vai trò quan trọng đối với quốc phòng, an ninh; thực hiện nhiệm vụ chính trị hoặc phát triển kinh tế xã hội của ngành, địa phương trong từng thời kỳ;
d) Các doanh nghiệp thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải; chiếu sáng công cộng; trồng cây, chăm sóc và duy trì.
Sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo Tiêu chí phân loại
Theo Quyết định, tiêu chí phân loại làm căn cứ để phê duyệt kế hoạch và thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/02/2026 của Chính phủ về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp (sau đây gọi là Nghị định số 57/2026/NĐ-CP), văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có) và quy định dưới đây:
a) Tiếp tục giữ nguyên tỷ lệ vốn nhà nước đang nắm giữ tại doanh nghiệp;
b) Thực hiện các hình thức cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 57/2026/NĐ-CP hoặc các hình thức khác làm thay đổi tỷ lệ sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về chứng khoán.
Việc sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp bảo đảm tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp thuộc khung tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp như sau:
a) Đối với doanh nghiệp quy định tại (*), khung tỷ lệ nhà nước nắm giữ vốn tại doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này;
b) Đối với doanh nghiệp không thuộc quy định tại (*) và thuộc tiêu chí quy định tại (**):
b1) Đối với doanh nghiệp do Nhà nước đang nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp bảo đảm trong khung tỷ lệ nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ;
b2) Đối với doanh nghiệp do Nhà nước đang nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống thực hiện theo hướng chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp cho doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cùng ngành nghề theo quy định tại Nghị định số 57/2026/NĐ-CP để quản lý, đầu tư phát triển, thực hiện tái cơ cấu, bổ sung vốn hoặc thoái vốn theo quy định, bảo đảm hiệu quả.
c) Đối với doanh nghiệp có ngành, lĩnh vực không thuộc Tiêu chí phân loại quy định trên thì thực hiện các hình thức sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo hướng Nhà nước không tiếp tục nắm giữ vốn tại doanh nghiệp (trừ trường hợp thực hiện theo pháp luật chuyên ngành).
d) Cơ quan đại diện chủ sở hữu báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với các trường hợp như sau:
d1) Sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp khác về khung tỷ lệ vốn nhà nước theo Tiêu chí phân loại quy định tại (*) (trừ ngành, lĩnh vực khai thác, sản xuất, cung cấp nước sạch và thoát nước đô thị, nông thôn thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Quyết định này);
d2) Nhà nước không tiếp tục nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đối với doanh nghiệp quy định tại điểm b1 nêu trên;
d3) Nhà nước tiếp tục nắm giữ vốn tại doanh nghiệp có ngành, lĩnh vực không thuộc Tiêu chí phân loại quy định trên (trừ trường hợp thực hiện theo pháp luật chuyên ngành).
đ) Đối với doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành, lĩnh vực thì căn cứ vào ngành, lĩnh vực có tỷ trọng lớn nhất trong tổng sản lượng hoặc tổng doanh thu của 03 năm liên tiếp liền kề theo báo cáo tài chính hoặc báo cáo tài chính hợp nhất (đối với doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con) trước thời điểm phê duyệt kế hoạch 05 năm cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp để xác định khung tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ theo Tiêu chí phân loại.
Trường hợp tại thời điểm thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt có sự thay đổi về tỷ trọng trong tổng sản lượng hoặc tổng doanh thu thì cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh kế hoạch 05 năm cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp cho phù hợp với thực tế hoạt động của doanh nghiệp.
Quyết định nêu rõ: Việc phê duyệt kế hoạch và thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp bảo đảm phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, mục tiêu tăng cường hiệu quả kinh doanh và năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh, cạnh tranh của doanh nghiệp, hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, phòng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/8/2026.
Phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026 phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược (Chương trình).

Phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược
Chương trình đặt mục tiêu tổng quát là làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa được các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển các công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi; hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia.
Phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược
Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026 - 2030, làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành; phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành; trong đó có tối thiểu 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược thông qua việc chủ trì hoặc tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình, trong đó có tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm công nghệ chiến lược tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Giai đoạn 2031 - 2035: Làm chủ 6 công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành; phát triển và thương mại hóa tối thiểu 25 sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành; trong đó có tối thiểu 15 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế; sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa đạt tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 40%.
Phát triển tối thiểu 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược thông qua việc chủ trì hoặc tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình, trong đó có tối thiểu 10 doanh nghiệp có sản phẩm công nghệ chiến lược tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đề ra 5 nhiệm vụ và giải pháp: Hoàn thiện cơ chế, chính sách; nghiên cứu, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược; hỗ trợ thương mại hóa và phát triển thị trường cho sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế phục vụ Chương trình; theo dõi, đánh giá và điều phối thực hiện Chương trình.
Hình thành chuỗi liên kết phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược
Về hỗ trợ thương mại hóa và phát triển thị trường cho sản phẩm công nghệ chiến lược: Thúc đẩy cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước ưu tiên đặt hàng, mua sắm, thuê, sử dụng sản phẩm công nghệ chiến lược được phát triển trong khuôn khổ Chương trình theo quy định của pháp luật.
Xây dựng, công bố tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia theo trình tự, thủ tục rút gọn; phát triển năng lực đo lường, thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận đối với sản phẩm công nghệ chiến lược, bảo đảm đồng bộ với tiến độ thực hiện nhiệm vụ và đáp ứng yêu cầu đưa sản phẩm ra thị trường.
Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu công nghệ, quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường trong nước, quốc tế; thúc đẩy sản phẩm công nghệ chiến lược tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ chiến lược, đặc biệt là doanh nghiệp đầu chuỗi, hợp tác với doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học trong nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao công nghệ, hình thành chuỗi liên kết phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.
Khuyến khích xác định ngay từ khi xây dựng nhiệm vụ cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp dự kiến tiếp nhận, thử nghiệm, ứng dụng hoặc thương mại hóa kết quả thực hiện nhiệm vụ; trường hợp chưa xác định được thì phải xây dựng phương án phát triển thị trường và thương mại hóa sản phẩm sau khi nhiệm vụ hoàn thành.
Phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế phục vụ Chương trình
Chương trình sẽ tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ Tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc và nhân lực chất lượng cao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thuộc Chương trình theo quy định của pháp luật.
Xây dựng, cập nhật và khai thác mạng lưới chuyên gia công nghệ chiến lược trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phục vụ tuyển chọn chuyên gia, Tổng công trình sư, thành viên hội đồng tư vấn và nhân sự chủ chốt thực hiện nhiệm vụ.
Xác định nhu cầu nhân lực chất lượng cao của các nhiệm vụ thuộc Chương trình; gắn kết với các chương trình, đề án đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học phối hợp đào tạo, bồi dưỡng nhân lực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, phát triển, làm chủ, chuyển giao và đồng phát triển công nghệ chiến lược; thu hút chuyên gia, tổ chức khoa học và công nghệ nước ngoài tham gia thực hiện nhiệm vụ; tăng cường tham gia hoạt động tiêu chuẩn hóa quốc tế, thừa nhận lẫn nhau về kết quả thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận đối với sản phẩm công nghệ chiến lược.
Phê duyệt Kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 1 năm 2027
Phó Thủ tướng Phan Văn Giang vừa ký Quyết định số 1494/QĐ-TTg ngày 6/8/2026 phê duyệt Kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 1 năm 2027 (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 03 tháng 5 năm 2007 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trong tình hình mới.
Là cơ sở để tổ chức thực hiện tốt việc bồi dưỡng nâng cao kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 1 theo quy định của Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh số 30/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013; Luật số 98/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật về quân sự, quốc phòng; các Nghị định của Chính phủ: số 13/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2014 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh; số 139/2020/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 13/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ; số 220/2025/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Nghị định trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
Mở 5 khóa, mỗi khóa từ 50 đến 70 đồng chí
Nội dung bồi dưỡng thực hiện theo Thông tư số 172/2020/TT-BQP ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành chương trình, nội dung; chương trình khung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh.
Đối tượng gồm: Đối tượng 1 chưa được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh.
Thời gian: Năm 2027.
Chỉ tiêu: Mở 5 khóa, mỗi khóa từ 50 đến 70 đồng chí (01 khóa dành riêng cho Đại biểu Quốc hội không chuyên trách).
Địa điểm: Tại Học viện Quốc phòng.
Các cơ quan, đơn vị, địa phương rà soát, lập danh sách cán bộ đăng ký nhu cầu tham gia từng khóa bồi dưỡng báo cáo Ban Tổ chức Trung ương (qua Cục Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ), địa chỉ: Số 2A Hoàng Văn Thụ, phường Ba Đình, thành phố Hà Nội và Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương (qua Cục Dân quân tự vệ), địa chỉ: số 28A, đường Điện Biên Phủ, phường Ba Đình, thành phố Hà Nội trước ngày 30 tháng 12 năm 2026 và báo cáo kịp thời khi có thay đổi nhân sự.
Bộ Quốc phòng phê duyệt kế hoạch từng khóa, chỉ đạo Học viện Quốc phòng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh theo kế hoạch; trực tiếp theo dõi, quản lý nội dung, chương trình, chất lượng, kết quả các khóa bồi dưỡng; kịp thời đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình tổ chức; tổng hợp kết quả, báo cáo Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương, Thủ tướng Chính phủ, Ban Bí thư Trung ương Đảng theo quy định.
Thành lập Hội đồng xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1492/QĐ-TTg thành lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7.
Quyết định nêu rõ, thành lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7 (Hội đồng), để giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ.
Theo Quyết định, Chủ tịch Hội đồng là Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân.
Phó Chủ tịch Hội đồng là ông Trần Hồng Thái - Giáo sư, Tiến sĩ, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và ông Lê Văn Lợi - Giáo sư, Tiến sĩ, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Các Ủy viên bao gồm: Ông Nguyễn Văn Chương - Giáo sư, Tiến sĩ, Nguyên Chủ nhiệm bộ môn Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103; ông Đỗ Tất Cường - Giáo sư, Tiến sĩ, Chủ tịch Hội đồng cố vấn lâm sàng, Công ty Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec; bà Trần Thị Minh Đức - Giáo sư, Tiến sĩ, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước ngành Tâm lý học; bà Vũ Thị Thu Hà - Giáo sư, Tiến sĩ, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ lọc hoá dầu, Bộ Tài chính; ông Thái Hoàng - Giáo sư, Tiến sĩ, Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; ông Bạch Nhật Hồng - Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học và công nghệ quân sự; ông Phạm Văn Hùng - Giáo sư, Tiến sĩ, Nguyên Viện trưởng Viện Cơ khí (Nay là Trường Cơ khí), Đại học Bách khoa Hà Nội; ông Mai Quang Huy - Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự, Bộ Quốc phòng; ông Nguyễn Công Khẩn - Giáo sư, Tiến sĩ, Nguyên Cục trưởng Cục Khoa học và Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế; ông Trần Đình Kiên - Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo; ông Nguyễn Văn Kính - Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam; bà Ngô Thị Phương Lan - Giáo sư, Tiến sĩ, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; ông Nguyễn Thanh Liêm - Giáo sư, Tiến sĩ, Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Tế bào gốc và công nghệ Gen Vinmec, Trường Đại học VinUni; ông Phạm Thế Long - Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, nguyên Giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự, Bộ Quốc phòng; ông Trần Xuân Nam - Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự, Bộ Quốc phòng; ông Mai Trọng Nhuận - Giáo sư, Tiến sĩ, Chủ tịch Hội đồng Đảm bảo chất lượng, Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Nguyễn Quân - Tiến sĩ, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Nguyễn Văn Thân - Tiến sĩ, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân; ông Nguyễn Trung Việt - Giáo sư, Tiến sĩ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Bùi Hoàng Phương - Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 18/2024/NĐ-CP ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Chính phủ về Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước và các giải thưởng khác về khoa học và công nghệ.
Nguyên tắc, chế độ làm việc của Hội đồng
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan Thường trực của Hội đồng. Hội đồng có Tổ Công tác giúp việc do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định thành lập.
Trình tự, thủ tục làm việc của Hội đồng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định. Hội đồng được sử dụng con dấu của Bộ Khoa học và Công nghệ để giải quyết công việc.
Hội đồng tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 41/2026/QĐ-TTg bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ.
Cụ thể, Quyết định số 41/2026/QĐ-TTg bãi bỏ toàn bộ 66 văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó có: Quyết định số 25-TTg ngày 19/1/1993 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật; Quyết định số 210/1999/QĐ-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài; Quyết định số 124/2003/QĐ-TTg ngày 17/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam; Quyết định số 287/2006/QĐ-TTg ngày 27/12/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết phụ cấp thâm niên đối với công chức, viên chức ngành Hải quan nghỉ hưu; Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg ngày 18/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển ngành mây tre; Quyết định số 18/2017/QĐ-TTg ngày 31/5/2017 quy định về liên thông giữa trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng với trình độ đại học; Quyết định số 17/2021/QĐ-TTg ngày 31/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp...
Đồng thời, Quyết định cũng bãi bỏ một phần 3 văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ gồm:
1- Bãi bỏ Điều 1, Điều 2 Quyết định số 150/2001/QĐ-TTg ngày 05/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc Ngân hàng thương mại.
2- Bãi bỏ khoản 3 Điều 3 Quyết định số 16/2016/QĐ-TTg ngày 29/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc thành lập và tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh động vật các cấp.
3- Bãi bỏ khoản 8 Điều 1 Quyết định số 11/2021/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc kéo dài thời gian thực hiện cơ chế tài chính đặc thù của một số cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước.
Quyết định số 41/2026/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026./.