• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (2).

07/08/2026 22:19

thôngNghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026 

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 216/NQ-CP phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (2)- Ảnh 1.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Nghị quyết nêu rõ: Thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục biến động phức tạp, khó đoán định, tác động đến triển vọng tăng trưởng toàn cầu... Ở trong nước, nền kinh tế tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; tình hình thiên tai, thời tiết cực đoan tiềm ẩn rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh năng lượng, tạo áp lực đến ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, mục tiêu tăng trưởng, các cân đối lớn của nền kinh tế và công tác quản lý, điều hành.

Trước tình hình đó, Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện 07 nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, các nghị quyết, kết luận, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là 10 nghị quyết đột phá, chiến lược của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chung sức, đồng lòng, tích cực, chủ động triển khai quyết liệt, kịp thời, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trên các lĩnh vực; rà soát kết quả thực hiện 07 tháng đầu năm, xác định chỉ tiêu còn thấp để có giải pháp phù hợp, phấn đấu hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, nhất là hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt từ 10% trở lên (kịch bản 6 tháng cuối năm phấn đấu tăng trưởng khoảng 11,7% theo Nghị quyết số 180/NQ-CP của Chính phủ).

Thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô; phấn đấu thu ngân sách nhà nước năm 2026 tăng ít nhất 10%

Chính phủ yêu cầu tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa chính sách tiền tệ chủ động và chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, trọng tâm, trọng điểm; ổn định tỷ giá và mặt bằng lãi suất. Theo dõi sát diễn biến thị trường quốc tế, bảo đảm ổn định giá cả, nguồn cung, thị trường, nhất là năng lượng (xăng dầu, điện, khí đốt), mặt hàng thiết yếu, giá vật liệu xây dựng.

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý thu, chi ngân sách nhà nước, chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, phấn đấu thu ngân sách nhà nước năm 2026 tăng ít nhất 10% so với ước thực hiện năm 2025, giải ngân 100% vốn đầu tư công năm 2026; phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công. Chủ động, tích cực huy động tối đa các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh thu hút các nguồn vốn hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước; đa dạng hóa thị trường vốn, phát triển đồng bộ thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán và thu hút dòng vốn trung, dài hạn; nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tuyệt đối không trông chờ, ỷ lại vào nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Tháo gỡ triệt để "điểm nghẽn" thể chế; quyết liệt cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; xử lý dứt điểm các vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là trong đấu thầu, quản lý đất đai, tài chính..., khơi thông nguồn lực cho phát triển. Khẩn trương hoàn thiện báo cáo kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm thực chất, hiệu quả. Tiếp tục rà soát, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027; định kỳ hằng tháng rà soát, cập nhật danh mục, tình hình triển khai, kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực, đồng thời gửi Bộ Tư pháp để theo dõi, tổng hợp chung.

Đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng quan trọng quốc gia, trọng điểm

Đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải, năng lượng, hạ tầng số trọng điểm quốc gia... Phát huy hiệu quả vai trò của 3 khu vực doanh nghiệp: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và thu hút FDI. Thúc đẩy đầu tư tư nhân và hợp tác công tư, tăng cường thu hút vốn xã hội hóa tham gia vào hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kỹ thuật số và năng lượng tái tạo. Phát huy vai trò "đầu tàu" của các vùng kinh tế, các cực tăng trưởng và các thành phố lớn, nhất là: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Đồng Nai...; đẩy mạnh thi đua tăng trưởng 2 con số, đóng vai trò dẫn dắt và lan tỏa kinh tế cả nước.

Làm mới các động lực tăng trưởng truyền thông; kích cầu thị trường nội địa, đẩy mạnh các chương trình khuyến mại, phát triển du lịch, thương mại điện tử và dịch vụ tiêu dùng. Chủ động làm việc với các đối tác lớn để mở rộng thị trường xuất khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp khai thác hiệu quả các Hiệp định Thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới. Chủ động đón dòng vốn FDI thế hệ mới, chất lượng cao vào các ngành công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo... Thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới; đẩy nhanh tiến độ phê duyệt và triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược, các nhiệm vụ chuyển đổi số; khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ mới, mô hình sản xuất xanh, giảm phát thải các-bon và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo

Nâng cao hiệu quả thực thi công vụ, khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp. Tập trung rà soát, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, chậm tiến độ để giải phóng nguồn lực cho tăng trưởng. Tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu. Mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để tăng tính minh bạch, hạn chế tiếp xúc trực tiếp nhằm loại bỏ "tham nhũng vặt". Đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý nghiêm các vụ án trọng điểm gắn với nâng cao tỷ lệ thu hồi tài sản.

Chủ động ứng phó với diễn biến thời tiết cực đoan, lũ quét, sạt lở đất và áp thấp nhiệt đới, bão vào cao điểm của mùa mưa bão tháng 8 hằng năm tại Bắc Bộ, Trung Bộ cùng đợt triều cường, lũ sông tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nâng cao năng lực cảnh báo và dự báo sớm; duy trì nghiêm chế độ trực ban, kiểm tra, rà soát các khu vực xung yếu và chủ động di dời, sơ tán người dân ra khỏi vùng nguy hiểm. Chủ động rà soát quy trình vận hành liên hồ chứa, bảo đảm an toàn đập, hồ chứa và hạ tầng kỹ thuật; bảo vệ sản xuất nông nghiệp và phục hồi sau thiên tai.

Theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, khu vực; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ an toàn tuyệt đối các mục tiêu chiến lược và các sự kiện lớn diễn ra trong tháng 8. Tăng cường đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng; nâng cao khả năng bảo vệ hạ tầng dữ liệu quốc gia và ứng phó với tội phạm công nghệ cao. Triển khai cao điểm tấn công trấn áp tội phạm; tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy và bảo đảm an toàn giao thông. Triển khai hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tại các địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo...

Chuẩn bị tốt cho các chuỗi hoạt động đối ngoại trọng điểm từ nay đến cuối năm 2026

Đồng thời, triển khai đồng bộ các hoạt động đối ngoại, hợp tác song phương và đa phương phục vụ trực tiếp cho các mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia. Chủ động tham gia các diễn đàn an ninh - kinh tế khu vực; kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân, quản lý biên giới và tuyên truyền đối ngoại; chuẩn bị tốt cho các chuỗi hoạt động đối ngoại trọng điểm từ nay đến cuối năm 2026.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo lĩnh vực quản lý nhà nước và quy định pháp luật, tập trung chỉ đạo rà soát danh mục quy hoạch ngành chưa được phê duyệt điều chỉnh ban hành tại Phụ lục V của Nghị quyết này, khẩn trương hoàn thiện việc lập, điều chỉnh, phê duyệt theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trong quý III/2026.

Các bộ, cơ quan ngang bộ theo lĩnh vực quản lý nhà nước, định kỳ trước ngày 25 hằng tháng báo cáo về kết quả thực hiện các nhiệm vụ đột phá của bộ, ngành mình, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ hằng tháng.

Nhiệm vụ cụ thể của các bộ, ngành, địa phương trong tháng 8/2026 và thời gian tới.

Quy định về kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh

Chính phủ ban hành Nghị định số 312/2026/NĐ-CP ngày 07/8/2026 về kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (2)- Ảnh 2.

Kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội là việc đáp ứng yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh trong quá trình xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội.

Nghị định này quy định về nguyên tắc, căn cứ, nội dung, hình thức kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh; trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân liên quan.

Đối tượng áp dụng gồm:

1. Bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội.

2. Tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, công dân Việt Nam.

3. Cá nhân, tổ chức nước ngoài cư trú, đầu tư, kinh doanh và hoạt động tại Việt Nam.

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Nội dung kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh

Nghị định nêu rõ: Kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội là việc đáp ứng yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh trong quá trình xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội; sử dụng tài nguyên, cung cấp sản phẩm, dịch vụ đặc thù của lực lượng Công an nhân dân phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Kết hợp kinh tế - xã hội với an ninh là việc phát triển, tăng cường tiềm lực công nghiệp an ninh; việc xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án trong lĩnh vực kinh tế - xã hội phục vụ nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Kết hợp trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh

Về kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội, Nghị định nêu rõ quy định kết hợp trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh và kết hợp trong đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh.

Cụ thể, kết hợp trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh, Điều 6 của Nghị định quy định như sau:

1. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh là chiến lược, quy hoạch, kế hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch, pháp luật khác có liên quan phải đáp ứng yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện.

2. Yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh gồm:

a) Tuân thủ chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

b) Tuân thủ quy định về bí mật nhà nước;

c) Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất an ninh, quy hoạch hạ tầng phòng cháy, chữa cháy;

d) Không có hoạt động móc nối, tác động nội bộ, biểu hiện lợi ích nhóm, phá hoại, trục lợi trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện;

đ) Không có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia;

e) Không cản trở việc xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân; việc triển khai biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật.

3. Bộ Công an, Công an cấp tỉnh tham gia ý kiến hoặc cho ý kiến thẩm định hoặc đánh giá tác động về an ninh theo đề nghị của cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định đối với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quy định tại khoản 1 Điều này trên cơ sở xem xét, đánh giá yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh quy định tại khoản 2 Điều này.

Kết hợp trong đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh

Về kết hợp trong đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh, Điều 7 Nghị định quy định:

1. Đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh là đề án, dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật khác có liên quan phải đáp ứng yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện.

2. Yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh gồm:

a) Yêu cầu, điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định này;

b) Người đại diện theo pháp luật không có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;

c) Đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện phải có phương án bảo đảm an ninh, trật tự theo quy định của pháp luật.

3. Bộ Công an, Công an cấp tỉnh tham gia ý kiến hoặc cho ý kiến thẩm định hoặc đánh giá tác động về an ninh theo đề nghị của cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định đối với đề án, dự án quy định tại khoản 1 Điều này trên cơ sở xem xét, đánh giá yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh quy định tại khoản 2 Điều này.

Tham gia ý kiến hoặc cho ý kiến thẩm định về an ninh

Nghị định nêu rõ: Cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định gửi Bộ Công an, Công an cấp tỉnh hồ sơ theo quy định của pháp luật về quy hoạch, đầu tư, pháp luật có liên quan.

Bộ Công an, Công an cấp tỉnh tiếp nhận, trao đổi với cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định về thành phần hồ sơ theo quy định của pháp luật về quy hoạch, đầu tư, pháp luật có liên quan trong thời hạn 02 ngày làm việc.

Bộ Công an, Công an cấp tỉnh tham gia ý kiến hoặc cho ý kiến thẩm định về việc đáp ứng yêu cầu, điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 7 Nghị định này và gửi kết quả về cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định trong thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức. Trường hợp pháp luật chưa có quy định, Bộ Công an, Công an cấp tỉnh gửi kết quả về cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến của Bộ Công an, Công an cấp tỉnh theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/9/2026.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Chính phủ ban hành Nghị định số 311/2026/NĐ-CP ngày 06/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (2)- Ảnh 3.

Bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính từ ngày 26/9/2026.

Nghị định số 311/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số khoản tại Điều 6 của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP về thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành, lĩnh vực và một số chức danh khác. Cụ thể như sau:

Tại khoản 1, Điều 6: Sửa đổi, bổ sung theo hướng đổi tên một số chức danh như: Chi cục trưởng Chi cục An toàn thực phẩm, Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực dân số, trẻ em thuộc Sở Y tế thành Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm, Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực dân số, trẻ em, phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Sở Y tế; Chi cục trưởng Chi cục Thống kê cấp tỉnh thuộc Cục Thống kê thành Trưởng Thống kê cấp tỉnh; Giám đốc Bảo hiểm xã hội khu vực thành Giám đốc Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh.

Đồng thời, bổ sung thẩm quyền xử phạt của Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực môi trường thuộc Cục Môi trường để phù hợp với thực tiễn, bảo đảm sự tương đồng về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường (lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú y, quản lý chất lượng nông lâm, thủy sản, thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai).

Bổ sung thẩm quyền xử phạt của Chánh Thanh tra tỉnh và một số chức danh Cục trưởng

Tại khoản 2, khoản 3 Điều 6: Bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chánh Thanh tra tỉnh và một số chức danh Cục trưởng như: Cục trưởng Cục Phát triển đô thị; Cục trưởng Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng; Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản; Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng; Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng; Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu; Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam; Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam; Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu; Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài; Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục; Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng; Cục trưởng Cục Quản lý Y Dược cổ truyền; Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em; Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội; Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công; Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại; Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại; Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu; Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả; Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện; Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm; Cục trưởng Cục Thể dục thể thao Việt Nam; Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam; Cục trưởng Cục Di sản văn hóa; Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn; Cục trưởng Cục Điện ảnh; Chánh Văn phòng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước; Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương...

Việc bổ sung thẩm quyền xử phạt đối với một số chức danh Cục trưởng để phù hợp với Nghị định số 217/2025/NĐ-CP và phù hợp với bối cảnh hiện nay khi nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ không còn tổ chức thanh tra, thanh tra chuyên ngành mà thay vào đó là hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Theo đó, Nghị định số 217/2025/NĐ-CP quy định người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành đối với tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi được phân cấp, ủy quyền.

Tại khoản 4 Điều 6: Sửa đổi thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn kiểm tra do Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ thành lập. Đồng thời, bổ sung thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn kiểm tra do Thủ trưởng thuộc Ban cơ yếu Chính phủ thành lập, Trưởng đoàn kiểm tra do Trưởng Ban cơ yếu Chính phủ thành lập để phù hợp với thực tiễn, thống nhất, đồng bộ với quy định tại điểm g khoản 1 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Bổ sung thẩm quyền xử phạt của Thanh tra viên Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh

Nghị định số 311/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số khoản tại Điều 7 của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP về thẩm quyền của Thanh tra, theo hướng như sau:

- Tại khoản 1 Điều 7: Bổ sung thẩm quyền xử phạt của Thanh tra viên Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh để phù hợp với thực tiễn khi Thanh tra viên tham gia Đoàn thanh tra, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra viên tại Luật Thanh tra.

- Tại khoản 2, khoản 4 Điều 7: Bổ sung thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn thanh tra của Thanh tra tỉnh, Trưởng đoàn thanh tra của Thanh tra Chính phủ để phù hợp với thực tiễn, phù hợp chức năng, nhiệm vụ của Trưởng đoàn thanh tra tại Luật Thanh tra.

Ngoài ra, Nghị định số 311/2026/NĐ-CP cũng bổ sung thẩm quyền xử phạt của của một số chức danh Công an nhân dân và của Chấp hành viên thi hành án dân sự để phù hợp với thực tiễn và đồng bộ, thống nhất với các quy định của Luật liên quan.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 26/9/2026.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 07/8/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Chương trình).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (2)- Ảnh 4.

Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh giai đoạn 2026 - 2030.

Mục tiêu của Chương trình nhằm thể chế hóa và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết số 20-NQ/TW; cụ thể hóa Chương trình hành động của Bộ Chính trị thành các nhiệm vụ quản lý, điều hành của Chính phủ, bảo đảm rõ nội dung, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, kết quả/đánh giá và thời hạn hoàn thành.

Xác định những nhiệm vụ trọng tâm, có tính đột phá trong giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện; lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, tài chính - ngân sách, quy hoạch và chương trình công tác hằng năm.

Đồng thời, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh giai đoạn 2026 - 2030, trong đó tập trung vào tăng tỷ trọng đóng góp của các địa phương ven biển, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh, hoàn thiện hạ tầng biển, nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân vùng biển, đảo.

9 nhiệm vụ

Bám sát quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 20-NQ/TW, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả 9 nhiệm vụ sau:

1- Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia.

2- Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh.

3- Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.

4- Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao.

5- Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành kinh tế biển mới.

6- Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển.

7- Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo.

8- Xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

9- Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia.

Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh

Về hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh, Chính phủ yêu cầu:

Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan như: đất đai, tài nguyên, môi trường, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực biển, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế; tháo gỡ các điểm nghẽn, chồng chéo, mâu thuẫn.

Hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), bảo đảm quy định rõ cơ chế giao, cho thuê, sử dụng, khai thác không gian biển; nghĩa vụ tài chính; bảo vệ tài nguyên, môi trường; phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và xử lý xung đột trong sử dụng biển.

Tổ chức rà soát, cập nhật, điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Ban hành quy định, hướng dẫn kỹ thuật về phân vùng chức năng, sử dụng không gian biển; thiết lập cơ chế cập nhật, điều chỉnh linh hoạt, định kỳ; xây dựng bản đồ số và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát việc thực hiện quy hoạch.

Xây dựng và thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển cho các đặc khu, đảo tiền tiêu và địa bàn chiến lược.

Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành kinh tế biển mới

Đối với nhiệm vụ đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành kinh tế biển mới, các bộ quản lý ngành chủ động rà soát chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển ngành để hình thành hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại; ưu tiên mô hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ biển thông minh, phát thải thấp, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; phát triển kinh tế biển gần bờ (12 hải lý).

Phát triển ngành dầu khí, công nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí, khai thác tài nguyên, khoáng sản biển theo hướng hiệu quả, bền vững; hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù đối với dự án vùng nước sâu, xa bờ, mỏ cận biên và các dự án năng lượng ngoài khơi.

Phát triển kinh tế hàng hải, hệ thống cảng biển xanh, thông minh, đội tàu vận tải biển, công nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu biển và dịch vụ logistics hàng hải; bảo đảm kết nối đồng bộ với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không; rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; xây dựng và triển khai hiệu quả Chương trình Quốc gia về công nghiệp hàng hải và cơ khí biển.

Cơ cấu lại ngành thủy sản, giảm khai thác ven bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ có trách nhiệm và nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao; phát triển hạ tầng, giống, bảo quản, chế biến, bảo hiểm thủy sản và chính sách hỗ trợ ngư dân. Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU); triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm sớm gỡ cảnh báo "thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu (EC), nâng cao hiệu lực quản lý nghề cá, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản, truy xuất nguồn gốc và thực thi pháp luật trên biển. Tăng cường bảo tồn, phát triển nguồn gen, tự chủ sản xuất giống thủy sản; đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ nuôi biển hiện đại; từng bước hình thành hệ thống lồng nuôi thông minh, phương tiện và thiết bị phục vụ nuôi biển, ứng dụng công nghệ số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và năng lượng tái tạo.

Phát triển du lịch, dịch vụ biển có thương hiệu quốc tế; hình thành các trung tâm, cụm du lịch biển quy mô lớn, sản phẩm du lịch xanh, du lịch tàu biển, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, kinh tế đêm và lễ hội biển.

Các bộ, ngành và địa phương có liên quan xây dựng cơ chế, chính sách để phát triển các ngành kinh tế biển mới như nuôi biển công nghệ cao, dược liệu biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh và hạ tầng cáp ngầm biển.

Danh mục trang thiết bị bảo đảm huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp 

Phó Thủ tướng Phan Văn Giang ký Quyết định số 1508/QĐ-TTg ngày 7/8/2026 ban hành Danh mục trang thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (2)- Ảnh 5.

Ban hành Danh mục trang thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp

Quyết định này ban hành Danh mục trang thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Tình trạng khẩn cấp.

Danh mục trang thiết bị

Quyết định quy định Danh mục trang thiết bị đặc thù bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp được xác định theo tính năng, công dụng và chưa được quy định trong các danh mục trang thiết bị chuyên ngành bao gồm: Trang thiết bị bảo đảm huấn luyện, diễn tập; cảnh báo và thông tin; phục vụ chỉ huy, điều hành; thống kê thiệt hại và quản lý cứu trợ; bảo đảm an toàn hệ thống thông tin và duy trì chỉ huy; bảo đảm nơi sơ tán và sinh hoạt tập trung; kiểm soát địa bàn không thuộc vũ khí, công cụ hỗ trợ và trang bị kỹ thuật nghiệp vụ; hỗ trợ phục hồi hoạt động thiết yếu (chi tiết theo Phụ lục I Quyết định này).

Danh mục nhóm trang thiết bị dùng chung Thủ tướng Chính phủ đã quy định là một bộ phận của nguồn trang thiết bị bảo đảm thực hiện nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp, gồm: Danh mục trang bị phòng thủ dân sự ban hành theo Quyết định số 371/QĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ; Danh mục vật tư, phương tiện, trang thiết bị chuyên dùng phòng, chống thiên tai ban hành theo Quyết định số 20/2021/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ (chi tiết theo Phụ lục II Quyết định này).

Nguyên tắc quản lý, sử dụng trang thiết bị

Quyết định nêu rõ, việc bảo đảm trang thiết bị phục vụ cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp phải căn cứ chức năng, nhiệm vụ, kế hoạch, phương án huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp và khả năng cân đối nguồn lực của bộ, ngành, địa phương. Không đầu tư, mua sắm trùng lặp trang thiết bị đã được bảo đảm theo danh mục trang thiết bị dùng chung.

Việc xác định chủng loại, tính năng, tiêu chuẩn và tổ chức đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, ngân sách nhà nước, đầu tư công, đấu thầu và pháp luật chuyên ngành có liên quan.

Việc lập kế hoạch bảo đảm, bố trí, điều phối, huy động và sử dụng trang thiết bị phục vụ cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp thực hiện theo pháp luật về tình trạng khẩn cấp, phòng thủ dân sự, phòng chống thiên tai và pháp luật khác có liên quan.

Trường hợp danh mục nhóm trang thiết bị dùng chung theo quy định nêu trên được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo danh mục nhóm trang thiết bị được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó.

Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức theo dõi, tổ chức thực hiện Quyết định này; tổng hợp, đề xuất điều chỉnh, bổ sung danh mục trang thiết bị phục vụ huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp của các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Đồng thời, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành danh mục chi tiết hàng dự trữ quốc gia bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp trong Bộ Quốc phòng.

Các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ Quyết định này, tiến hành rà soát, ban hành chi tiết tiêu chuẩn kỹ thuật trang thiết bị huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp theo chức năng, phạm vi quản lý được giao.

Bố trí kinh phí thực hiện kế hoạch đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng trang thiết bị huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp theo quy định pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, ngân sách nhà nước, đầu tư công, đấu thầu và pháp luật có liên quan.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, kịp thời đề xuất điều chỉnh, bổ sung danh mục trang thiết bị phục vụ huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ (qua Bộ Quốc phòng) để xem xét, quyết định./.