• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/6/2026 (1)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/6/2026 (1).

08/06/2026 17:51

Nghị định quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/6/2026 (1)- Ảnh 1.

Chính phủ ban hành Nghị định số 197/2026/NĐ-CP quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về thẩm quyền, phạm vi khai thác Cơ sở dữ liệu liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Nghị định này quy định về xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo (sau đây gọi tắt là Cơ sở dữ liệu); tổ chức cập nhật, xử lý, khai thác, sử dụng dữ liệu liên quan đến tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên môi trường số; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Nghị định này áp dụng đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Vị trí, vai trò và giá trị pháp lý của Cơ sở dữ liệu

Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu được xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, nhằm thu thập, lưu trữ, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu được cập nhật, quản lý theo thời gian thực; có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu và pháp luật có liên quan; được khai thác, sử dụng thay thế giấy tờ, tài liệu bản giấy trong trường hợp đáp ứng điều kiện về tính toàn vẹn, xác thực, khả năng truy cập, sử dụng và pháp luật không có quy định khác.

Dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu được số hóa, chuẩn hóa, bao gồm dữ liệu có cấu trúc và dữ liệu phi cấu trúc, được tổ chức và quản lý theo cấu trúc phù hợp, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, liên thông và khai thác giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị theo quy định của pháp luật; xác định và phân loại theo cấp độ an toàn dữ liệu trong quá trình lưu trữ, chia sẻ và khai thác, bảo đảm kiểm soát, theo dõi hoạt động truy cập và kịp thời phát hiện, xử lý sự cố, bảo đảm an ninh mạng, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi xảy ra sự cố làm lộ, mất hoặc bị truy cập trái phép dữ liệu.

Cơ sở dữ liệu được đặt tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Nguyên tắc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu

Nghị định quy định việc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Bảo đảm phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung; đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Dữ liệu được rà soát, cập nhật, quản lý bảo đảm kịp thời, đầy đủ, chính xác, thống nhất, đồng bộ và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Bảo đảm việc quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu chặt chẽ, an toàn, ổn định, thông suốt; việc khai thác, sử dụng dữ liệu được thực hiện theo phân quyền, đúng mục đích, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng theo quy định của pháp luật.

Bảo đảm lấy người dân làm trung tâm, tạo điều kiện để người dân theo dõi, giám sát quá trình xử lý vụ việc của mình trên môi trường số.

Việc quản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu phải bảo đảm công khai, minh bạch, có khả năng truy xuất nguồn gốc, lịch sử cập nhật và chủ thể thực hiện, có thể kiểm tra, giám sát, làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Bảo đảm tự động hóa, số hóa toàn trình quản lý, xử lý dữ liệu, hạn chế tối đa việc xử lý thủ công.

Thẩm quyền, phạm vi khai thác Cơ sở dữ liệu

Nghị định quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân được cấp quyền truy cập vào Cơ sở dữ liệu để thực hiện các hoạt động liên quan đến nhập, chuyển, xử lý đơn; giải quyết, theo dõi, nhận kết quả; khai thác và sử dụng dữ liệu theo chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quyền hạn được giao.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu bao gồm:

a) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước, các Phó Thủ tướng Chính phủ và Thành viên Chính phủ, các Phó Chủ tịch Quốc hội và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi toàn quốc;

b) Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng và các Ban Đảng Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi toàn quốc;

c) Các ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng tỉnh ủy, thành ủy và các Ban thuộc tỉnh ủy, thành ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

d) Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã, Văn phòng và các ban thuộc Đảng ủy cấp xã, cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã.

đ) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật.

Nghị định nêu rõ: Việc khai thác, sử dụng dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước trong Cơ sở dữ liệu được thực hiện theo quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Việc khai thác dữ liệu được thực hiện chủ yếu thông qua phương thức điện tử trên cơ sở phân quyền truy cập; hạn chế việc cung cấp dữ liệu bằng văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Công dân có quyền được cung cấp thông tin cá nhân của mình do cơ quan nhà nước thu thập, lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu theo quy định; có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, cập nhật, sửa đổi, bổ sung khi phát hiện thông tin không chính xác theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/6/2026 (1)- Ảnh 2.

Văn phòng Chính phủ có văn bản số 5274/VPCP-QHĐP ngày 06/6/2026 truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà về việc thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai.

Cụ thể, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai và các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đồng Nai, trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.

Đồng thời, giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng nghiên cứu, xử lý kiến nghị về bố trí nguồn lực triển khai các dự án trọng điểm quốc gia, nhất là Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 2, đường sắt Biên Hòa – Vũng Tàu, các tuyến đường sắt đô thị và hạ tầng giao thông kết nối Sân bay Long Thành, kết nối vùng và các dự án trọng điểm của Đồng Nai; có văn bản trả lời địa phương trước ngày 10/6/2026.

Bên cạnh đó, giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, xử lý kiến nghị về rà soát, điều chỉnh hợp lý các khu vực bô xít để vừa tháo gỡ điểm nghẽn, phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả trong từng giai đoạn, vừa bảo đảm yêu cầu pháp lý, môi trường, quốc phòng – an ninh và lợi ích lâu dài của quốc gia; có văn bản trả lời địa phương trước ngày 10/6/2026.

Về kiến nghị quản lý phần diện tích Vườn quốc gia Cát Tiên thuộc địa giới thành phố Đồng Nai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại Công văn số 5251/VPCP-NN ngày 5/6/2026 của Văn phòng Chính phủ.

Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ: Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường và Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 15/6/2026, đồng gửi Văn phòng Trung ương Đảng để tổng hợp, báo cáo đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Phê duyệt Danh sách thành viên Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa học

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa học sau chiến tranh ở Việt Nam ký Quyết định số 55/QĐ-BCĐKPBMHH ngày 05/6/2026 phê duyệt Danh sách thành viên Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo này.

Theo Quyết định, Trưởng Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo là Thượng tướng Nguyễn Trường Thắng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo.

Các Phó Trưởng Cơ quan Thường trực gồm: Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn, Ủy viên Ban Chỉ đạo; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành, Ủy viên Ban Chỉ đạo; Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương, Ủy viên Ban Chỉ đạo; Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Lê Quang Minh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Các Ủy viên Cơ quan Thường trực trong Quân đội gồm: Thiếu tướng Dương Minh Hải, Cục trưởng Cục Khoa học quân sự (Ủy viên Thường trực); Thiếu tướng Trần Trung Hòa, Tư lệnh Binh chủng Công binh; Thiếu tướng Nguyễn Đình Hiền, Tư lệnh Binh chủng Hóa học; Trung tướng Vũ Thành Văn, Cục trưởng Cục Đối ngoại; Đại tá Nguyễn Trường Sơn, Phó Cục trưởng Cục Tài chính; Đại tá Bùi Yên Tĩnh, Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu; Đại tá Đỗ Duy Chinh, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị; Đại tá Đỗ Quyết Khoa, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ an ninh quân đội, Tổng cục Chính trị; Đại tá Ngô Thị Lệ, Phó Cục trưởng Cục Chính sách - Xã hội, Tổng cục Chính trị.

Các Ủy viên Cơ quan Thường trực ngoài Quân đội là lãnh đạo cấp cục, vụ thuộc các cơ quan gồm: Vụ trưởng Vụ Khoa giáo - Văn xã (Văn phòng Chính phủ) Nguyễn Cửu Đức; Phó Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Lê Hoài Nam; Phó Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội (Bộ Y tế) Phạm Thị Hải Hà; Phó Vụ trưởng Vụ Quốc phòng, an ninh, đặc biệt (Bộ Tài chính) Trương Vĩnh Hiền; Thượng tá Đỗ Thị Thu Hằng, Phó Cục trưởng Cục An ninh Đối ngoại (Bộ Công an).

Thư ký Cơ quan Thường trực: Đại tá Trần Trọng Hiếu, Trợ lý Phòng Tổng hợp bảo đảm, Văn phòng Bộ Quốc phòng./.