Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 9/9/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 9/9/2026.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.

Nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp.
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 346/2026/NĐ-CP là việc sửa đổi quy định về các loại hình sản phẩm bảo hiểm (Điều 4 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP) và bổ sung thêm quy định về nguồn cung cấp chỉ số đối với bảo hiểm theo chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám.
Sửa đổi quy định về các loại hình sản phẩm bảo hiểm
Cụ thể, Nghị định 346/2026/NĐ-CP quy định về các loại hình sản phẩm bảo hiểm như sau:
a) Bảo hiểm đối với rủi ro định danh, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho tổn thất thực tế do các rủi ro được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp gây ra;
b) Bảo hiểm mọi rủi ro, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho tổn thất thực tế do mọi rủi ro gây ra, trừ các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp;
c) Bảo hiểm đối với tổn thất về thu nhập, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường chi phí sản xuất nông nghiệp để bù đắp cho tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm gây ra theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp;
d) Bảo hiểm theo chỉ số năng suất, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo mức sụt giảm năng suất thực tế của một khu vực địa lý (xã, một số xã...) theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm;
đ) Bảo hiểm theo chỉ số thời tiết, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo biến động của chỉ số thời tiết (mưa, gió, hạn hán, ngập lụt, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần...) theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm. Việc lựa chọn nguồn cung cấp các chỉ số thời tiết tại hợp đồng bảo hiểm phải đáp ứng quy định về nguồn cung cấp chỉ số theo quy định ở dưới;
e) Bảo hiểm theo chỉ số viễn thám, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo sự biến động của chỉ số viễn thám theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm. Việc lựa chọn nguồn cung cấp các chỉ số viễn thám tại hợp đồng bảo hiểm phải đáp ứng quy định về nguồn cung cấp chỉ số theo quy định ở dưới;
g) Các loại hình sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp khác theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp.
Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm việc xác định tổn thất thực tế trong trường hợp bảo hiểm quy định tại các điểm a, b và c và cách xác định số tiền bồi thường bảo hiểm trong trường hợp bảo hiểm quy định tại các điểm d, đ và e.
Thêm quy định về nguồn cung cấp chỉ số
Nghị định bổ sung thêm quy định: Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể lựa chọn nguồn cung cấp các chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám theo một hoặc một số trong số các nguồn sau:
a) Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia trực thuộc Cục Khí tượng Thuỷ văn;
b) Hệ thống Thông tin dịch vụ khí hậu của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO);
c) Trung tâm Giám sát nông nghiệp, tài nguyên và môi trường thuộc Cục Viễn thám quốc gia;
d) Các nguồn dữ liệu khác phải bảo đảm nguồn tin cậy của các yếu tố khí hậu, chỉ số viễn thám, được sự xác nhận hoặc chấp thuận của nhà tái bảo hiểm quốc tế và phải được quy định rõ tại Hợp đồng bảo hiểm.
Mở rộng phạm vi các đối tượng được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp
Về đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ, ngoài 3 đối tượng đã được quy định tại Điều 18 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP gồm: 1- Cây trồng (lúa, cao su, hồ tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả, rau); 2- Vật nuôi (trâu, bò, lợn, gia cầm); 3- Nuôi trồng thủy sản (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra), Nghị định 346/2026/NĐ-CP còn bổ sung thêm đối tượng thứ 4 được hỗ trợ là: 4- Đối tượng bảo hiểm khác bao gồm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản, cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương công bố.
Điều này sẽ giúp các tỉnh, thành chủ động hơn trong việc xây dựng chính sách bảo hiểm phù hợp với đặc thù sản xuất của mình.
Nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp
Đặc biệt, Nghị định số 346/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định về mức hỗ trợ tại Điều 19 như sau:
1- Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: Hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp (hiện nay là 90%).
2- Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: Hỗ trợ tối đa 50% phí bảo hiểm nông nghiệp (hiện là 20%).
3- Tổ chức sản xuất nông nghiệp: Hỗ trợ tối đa 30% phí bảo hiểm nông nghiệp (tăng 10% so với hiện nay) cho doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã khi đáp ứng một trong các quy định sau:
a) Có hợp đồng liên kết gắn với sản phẩm nông nghiệp là các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, đảm bảo quy định tại Điều 4 và Điều 5 Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có);
b) Có sản phẩm nông nghiệp là các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được chứng nhận đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm của cơ quan có thẩm quyền hoặc đã được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Quyết định số 19/2018/QĐ-TTg ngày 19/4/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc được xác nhận là doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định tại Nghị định số 260/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao và văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có) hoặc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản xác nhận của Ban quản lý khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định của Chính phủ.
Nghị định số 346/2026/NĐ-CP nêu rõ, căn cứ chiến lược và kế hoạch phát triển của ngành nông nghiệp, chiến lược và kế hoạch phát triển đặc thù của từng địa phương, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể triển khai chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp trên toàn bộ địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc trên một số địa bàn cấp xã.
HĐND cấp tỉnh quyết định địa bàn được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp
Nếu Điều 22 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP quy định: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định cụ thể về đối tượng tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ; loại cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản được hỗ trợ; loại rủi ro được bảo hiểm được hỗ trợ; mức hỗ trợ; thời gian thực hiện hỗ trợ; địa bàn được hỗ trợ; mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương để thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp.
Thì ở Nghị định số 346/2026/NĐ-CP, thẩm quyền đã được phân cho HĐND cấp tỉnh như sau:
1- Căn cứ quy định tại Điều 18, Điều 19, Điều 20 và Điều 21 của Nghị định này, phù hợp với tình hình thực tế và khả năng cân đối ngân sách, HĐND cấp tỉnh quyết định về địa bàn được hỗ trợ trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ; loại rủi ro được bảo hiểm được hỗ trợ; mức hỗ trợ; thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp.
2- HĐND cấp tỉnh công bố văn bản quy định tại khoản 1 Điều này trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương và thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp xã thuộc địa bàn được hỗ trợ.
3- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều này, UBND cấp xã thuộc địa bàn được hỗ trợ tổ chức tập huấn, tuyên truyền về bảo hiểm nông nghiệp.
Nghị định số 346/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/10/2026.
Quy định về điều kiện cơ sở đào tạo, huấn luyện và tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 348/2026/NĐ-CP ngày 08/9/2026 quy định về điều kiện cơ sở đào tạo, huấn luyện và tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải.

Điều kiện và quy trình cấp phép đối với cơ sở đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải.
Nghị định này quy định về điều kiện cơ sở đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải; trình tự, thủ tục để cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện hoạt động đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải; đánh giá, tạm dừng hoạt động đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải; cấp Giấy xác nhận phù hợp về tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải.
Nghị định này áp dụng đối với các cơ sở đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải; tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải; các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải, tuyển dụng và cung ứng thuyền viên hàng hải tại Việt Nam.
Về điều kiện về cơ sở vật chất và giảng viên của cơ sở đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải, Nghị định quy định như sau:
Điều kiện về cơ sở vật chất
1. Có cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành.
2. Có Giấy chứng nhận phù hợp hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn TCVN ISO 9001 hoặc ISO 21001 còn hiệu lực.
3. Có cơ sở dữ liệu quản lý công tác đào tạo, chứng chỉ nghiệp vụ của thuyền viên hàng hải để tra cứu theo quy định của Công ước STCW và thực hiện kết nối vào cơ sở dữ liệu quản lý thuyền viên của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải.
Điều kiện về giảng viên
1. Giảng viên dạy lý thuyết thực hiện giảng dạy chương trình đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành phù hợp với môn học, chương trình đào tạo, huấn luyện được phân công giảng dạy.
2. Giảng viên dạy thực hành phải có:
a) Giấy chứng nhận Huấn luyện viên chính hoặc chứng chỉ do Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), đơn vị được IMO công nhận cấp theo Quy tắc 1/6 của Công ước STCW;
b) Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn chức danh tối thiểu là Đại phó tàu từ 3000 GT trở lên hoặc Máy hai tàu có tổng công suất máy chính từ 3000 kW trở lên; Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ và kinh nghiệm phù hợp với yêu cầu của từng chương trình đào tạo, huấn luyện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải
Nghị định quy định các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận gồm:
a) Cấp lần đầu đối với các cơ sở đào tạo, huấn luyện đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị định này;
b) Thay đổi thông tin về tên cơ sở đào tạo, huấn luyện đã ghi trên Giấy chứng nhận;
c) Thay đổi địa điểm đào tạo, huấn luyện đã ghi trên Giấy chứng nhận.
Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải theo quy định tại Nghị định này.
Tổ chức nộp trực tiếp 01 bộ hồ sơ hoặc gửi qua hệ thống bưu chính hoặc gửi qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến đến Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam.
Hồ sơ bao gồm:
a) Bản chính hoặc biểu mẫu điện tử tờ khai theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao hoặc bản sao điện tử Quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (trong trường hợp không khai thác được thông tin trên cơ sở dữ liệu dùng chung);
c) Bản chính hoặc bản điện tử có ký số Báo cáo thuyết minh các điều kiện bảo đảm cho hoạt động đào tạo, huấn luyện theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này (đối với trường hợp cấp lần đầu hoặc cấp do thay đổi địa điểm đào tạo, huấn luyện).
Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam tiếp nhận hồ sơ, thực hiện theo quy trình sau:
a) Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp, nếu hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam hướng dẫn ngay cho tổ chức để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ; nếu hồ sơ hợp lệ thì lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả đúng thời gian quy định;
b) Trường hợp nhận hồ sơ qua hệ thống bưu chính, nếu hồ sơ chưa hợp lệ theo quy định, chậm nhất 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam có văn bản hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, gửi cho tổ chức đã nộp hồ sơ;
c) Trường hợp nhận hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến, nếu hồ sơ chưa hợp lệ, chậm nhất 08 giờ làm việc kể từ khi hệ thống tiếp nhận, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ thông qua tài khoản của tổ chức trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến.
Trình tự xử lý hồ sơ:
a) Trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu hoặc cấp do thay đổi thông tin về địa chỉ đào tạo, huấn luyện đã ghi trên giấy chứng nhận: Chậm nhất 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam tổ chức kiểm tra thực tế và cấp Giấy chứng nhận theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
b) Trường hợp cấp do thay đổi thông tin tên cơ sở đào tạo, huấn luyện đã ghi trong Giấy chứng nhận: chậm nhất 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam thực hiện cấp Giấy chứng nhận theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
c) Kết quả giải quyết thủ tục hành chính được trả dưới dạng bản điện tử; trường hợp tổ chức có yêu cầu nhận bản giấy thì Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam cấp đồng thời bản điện tử và bản giấy cho tổ chức. Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam trả kết quả thông qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến, trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính theo yêu cầu của tổ chức; đồng thời thực hiện thông báo trên Trang thông tin điện tử của Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam.
Hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính dưới dạng bản điện tử có giá trị pháp lý như bản giấy.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2026.
Nâng cao trách nhiệm, tăng cường kỷ luật trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Công văn số 1093/TTg-PL ngày 8/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng cao trách nhiệm, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu
Công văn nêu: Nhằm nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ động rà soát, hoàn thiện các dự án luật, nghị quyết trình tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, bảo đảm tuân thủ Đề án Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI và Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội đã được thông qua. Trường hợp cần đề xuất điều chỉnh, bổ sung Chương trình lập pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ phải làm rõ cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục, hồ sơ theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; chỉ áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 262 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết ngay vấn đề thực sự cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn đối với trường hợp xây dựng luật, nghị quyết có hồ sơ được gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội sau thời hạn 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội.
Chỉ luật hóa những nội dung đã rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu rà soát kỹ lưỡng các nội dung đã được quy định tại các nghị quyết của Chính phủ ban hành theo Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; đối với những nội dung đề xuất luật hóa, đặc biệt là những nội dung về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh cần làm rõ cơ sở đề xuất, đánh giá tác động, tuân thủ nguyên tắc chỉ luật hóa những nội dung đã rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm và phát huy hiệu quả, bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với các Cơ quan thẩm tra của Quốc hội trong toàn bộ quy trình xây dựng pháp luật, từ khâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá tác động chính sách, soạn thảo, thẩm tra, chỉnh lý, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết.
Đồng thời, tuân thủ nghiêm các quy định về thành phần và trách nhiệm tham gia các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phiên họp thẩm tra của các Cơ quan của Quốc hội và các cuộc họp rà soát kỹ thuật trước khi trình ban hành văn bản. Các bộ, cơ quan ngang bộ phải cử đại diện có thẩm quyền tham gia các cuộc họp và tham gia xuyên suốt cả quá trình để bảo đảm việc tiếp thu, chỉnh lý được liền mạch, thống nhất. Thành phần tham dự các cuộc họp có trách nhiệm thay mặt cho Cơ quan, đơn vị tham gia ý kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến tại cuộc họp.
Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách, không để nợ đọng văn bản
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu phải nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách, soạn thảo dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến, tham vấn chính sách đầy đủ, thực chất của các cơ quan, tổ chức, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và các chuyên gia, nhà khoa học; bảo đảm chất lượng của dự thảo văn bản quy định chi tiết trình kèm theo hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; tập trung rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành, bảo đảm đồng bộ, thống nhất về thể thức, kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, trong đó cần xác định thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết cũng như điều khoản giao quy định chi tiết, bảo đảm khoảng thời gian hợp lý, khả thi để các cơ quan có thời gian xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết.
Các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phải quán triệt triển khai nghiêm túc Kết luận số 235/KL-UBTVQH16 ngày 4/9/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổng kết Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI; khẩn trương soạn thảo, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất; không để xảy ra tình trạng chậm tiến độ, nợ đọng văn bản mới làm phát sinh khoảng trống pháp lý. Trường hợp luật, nghị quyết hoặc nội dung giao quy định chi tiết có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, các bộ, cơ quan ngang bộ tập trung soạn thảo ngay các văn bản quy định chi tiết theo trình tự, thủ tục rút gọn, gửi Bộ Tư pháp thẩm định trước ngày 15/9/2026 để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước ngày 20/9/2026./.