Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tháng 12/2025 và chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 1/2026
MỘT SỐ VĂN BẢN CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ TRONG THÁNG 12/2025
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh tiêu dùng, phục vụ nhu cầu Tết của Nhân dân
Thủ tướng Phạm Minh Chính ký Công điện số 239/CĐ-TTg ngày 12/12/2025 yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh tiêu dùng, phục vụ nhu cầu Tết của Nhân dân.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương triển khai quyết liệt, hiệu quả "Chiến dịch Quang Trung", quyết tâm hoàn thành sửa chữa nhà cho các gia đình có nhà bị hư hỏng nặng trước ngày 31/12/2025; xây dựng lại nhà, tái định cư cho tất cả các gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi chậm nhất trước ngày 31/01/2026.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố bị ảnh hưởng bởi thiên tai phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan chủ động triển khai các giải pháp theo thẩm quyền nhằm bảo đảm an sinh xã hội, công tác học tập, khám chữa bệnh, ổn định đời sống Nhân dân; khôi phục các hoạt động sản xuất, kinh doanh, ổn định thị trường trên địa bàn.
Đồng thời, các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao triển khai các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triển mạnh thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng.
Các Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước khẩn trương khắc phục hậu quả bão lũ, triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu hiệu quả, linh hoạt; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu; chú trọng các hoạt động phát triển, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2025
Để tăng tốc, bứt phá, phấn đấu hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 237/CĐ-TTg ngày 6/12/2025 về việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2025.
Tại Công điện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương phân bổ số vốn kế hoạch năm 2025 còn lại chưa giao chi tiết cho các nhiệm vụ, dự án và có giải pháp quyết liệt, kịp thời đẩy mạnh thực hiện và giải ngân số vốn đầu tư công, vốn chương trình mục tiêu quốc gia đã được giao; đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình, dự án đầu tư công trọng điểm, quan trọng quốc gia, đường cao tốc, công trình trọng điểm, liên vùng, dự án có tác động lan tỏa,...; đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm gắn với trách nhiệm của người đứng đầu của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
Thủ tướng Chính phủ chỉ thị chấn chỉnh, tăng cường minh bạch, phòng ngừa tiêu cực trong xét duyệt, mua - bán, cho thuê nhà ở xã hội
Thủ tướng Phạm Minh Chính ký Chỉ thị số 34/CT-TTg ngày 11/12/2025 về việc chấn chỉnh, tăng cường minh bạch, phòng ngừa tiêu cực trong việc xét duyệt, mua - bán, cho thuê nhà ở xã hội.
Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Xây dựng và các Sở ngành liên quan của địa phương thực hiện nghiêm trình tự, thủ tục bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật; xử lý nghiêm hành vi môi giới trái phép, trục lợi trong làm thủ tục, hồ sơ, mua - bán nhà ở xã hội.
Chủ đầu tư không được thu tiền đặt cọc hoặc ủy quyền cho các cá nhân, sàn giao dịch thu tiền đặt cọc ngoài quy định.
Người dân có nhu cầu mua nhà ở xã hội phải chủ động tìm hiểu quy định pháp luật để không bị lợi dụng, trục lợi. Nộp hồ sơ, thực hiện các thủ tục mua, thuê mua trực tiếp với Chủ đầu tư, không thông qua các tổ chức, cá nhân tư vấn, môi giới hay sàn giao dịch…
Cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư
Chính phủ ban hành Nghị định số 312/2025/NĐ-CP ngày 6/12/2025 quy định cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT.
Nghị định số 312/2025/NĐ-CP quy định rõ về: Nguồn vốn thực hiện dự án PPP của nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP; quản lý, sử dụng, thanh toán vốn nhà nước trong dự án PPP; quyết toán vốn đầu tư công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng dự án PPP...
Về nguồn vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, Nghị định quy định nhà đầu tư chịu trách nhiệm góp vốn chủ sở hữu tham gia dự án PPP theo quy định tại Điều 77 Luật PPP. Trong quá trình triển khai hợp đồng dự án PPP có sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP huy động mà không làm thay đổi chủ trương đầu tư, mang lại hiệu quả cao hơn về tài chính, kinh tế - xã hội, các bên trong hợp đồng dự án PPP được xem xét, sửa đổi quy định về cơ cấu nguồn vốn trong hợp đồng dự án PPP.
Cấm sử dụng viện trợ để trốn thuế, tư lợi cá nhân
Chính phủ ban hành Nghị định số 313/2025/NĐ-CP ngày 8/12/2025 quy định về quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho Việt Nam.
Nghị định 313/2025/NĐ-CP cấm các hành vi sử dụng viện trợ để phục vụ mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, trốn thuế; sử dụng viện trợ để tìm kiếm lợi nhuận phân chia, tư lợi cá nhân, không vì mục đích nhân đạo, phát triển kinh tế xã hội, không vì lợi ích cộng đồng…
Trường hợp nào được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp?
Chính phủ ban hành Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Cụ thể, khoản 2, Điều 18 của Nghị định quy định nhiều ngành, nghề ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như: Ứng dụng công nghệ cao, đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao; sản xuất sản phẩm phần mềm; sản xuất sản phẩm an toàn thông tin mạng và cung cấp dịch vụ an toàn thông tin mạng; sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; bảo vệ môi trườn; sản xuất, lắp ráp ô tô; sản xuất sản phẩm công nghiệp số khác; đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua…
Ban hành 8 Nghị định quy định các chính sách đối với Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam
Chính phủ ban hành 8 Nghị định liên quan đến Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam gồm: Nghị định số 323/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; Nghị định số 324/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về chính sách tài chính trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; Nghị định số 325/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về lao động, việc làm và an sinh xã hội trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; Nghị định số 326/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về đất đai và môi trường trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; Nghị định số 327/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về chính sách nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với người nước ngoài tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; Nghị định số 328/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; Nghị định số 330/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về thành lập và hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Cá nhân mua, bán vàng miếng với tổ chức không có giấy phép sẽ bị phạt tới 20 triệu đồng
Chính phủ ban hành Nghị định số 340/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Trong đó, Nghị định quy định hành vi không thực hiện thanh toán mua, bán vàng qua tài khoản thanh toán bị phạt tới 20 triệu đồng; cá nhân mua, bán vàng miếng với tổ chức không có giấy phép sẽ bị phạt tới 20 triệu đồng; mang theo vàng khi xuất, nhập cảnh không đúng quy định bị phạt tới 100 triệu đồng; phạt tiền từ 250 - 300 triệu đồng đối với hành vi hoạt động sản xuất vàng miếng không đúng quy định của pháp luật… - Chính phủ ban hành Quy chế làm việc mẫu của UBND cấp tỉnh
Ngày 8/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 314/2025/NĐ-CP ban hành Quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Một trong những nguyên tắc làm việc của UBND cấp tỉnh là hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời đề cao thẩm quyền và trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, phát huy vai trò lãnh đạo của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Tổ chức, hoạt động của UBND cấp tỉnh phải bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương chuyên nghiệp, hiện đại, đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; điều hành, xử lý công việc, khai thác dữ liệu số và cung cấp dịch vụ công trên môi trường điện tử để nâng cao hiệu quả quản trị, hướng tới mục tiêu xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số...
Quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu
Chính phủ ban hành Nghị định 315/2025/NĐ-CP ngày 8/12/2025 Quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (Quy chế).
Quy chế này quy định nguyên tắc làm việc; chế độ trách nhiệm; quan hệ công tác; phạm vi, cách thức, quy trình giải quyết công việc; chương trình công tác, các hoạt động và chế độ thông tin, báo cáo của Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (cấp xã).
Về nguyên tắc làm việc của Ủy ban nhân dân cấp xã, Quy chế nêu rõ, mọi hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; giải quyết công việc theo quy định của pháp luật; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy cấp xã, sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp và của nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Ủy ban nhân dân cấp xã làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số; đồng thời đề cao thẩm quyền và trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình...
Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân đặc khu
Nghị định số 322/2025/NĐ-CP ngày 16/12/2025 của Chính phủ quy định UBND đặc khu gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên UBND đặc khu là công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý của UBND đặc khu, trừ trường hợp bố trí sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân giữ chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên UBND đặc khu.
Số lượng cụ thể Phó Chủ tịch và Ủy viên UBND đặc khu do UBND cấp tỉnh quyết định bảo đảm tinh gọn, phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tại địa bàn đặc khu và theo quy định của Chính phủ về khung số lượng Phó Chủ tịch, số lượng và cơ cấu Ủy viên UBND.
UBND đặc khu được tổ chức các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác hoặc bố trí các công chức chuyên môn để tham mưu, giúp UBND đặc khu quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.
Đối tượng thuê nhà ở công vụ tại các địa phương thuộc diện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 45/2025/QĐ-TTg ngày 3/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định đối tượng thuê nhà ở công vụ tại các địa phương thuộc diện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Quyết định quy định Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng thuộc Sở và tương đương, công chức, viên chức tại các địa phương thuộc diện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh được bố trí cho thuê một trong hai loại hình nhà ở công vụ, bao gồm:
- Căn hộ chung cư có diện tích sử dụng từ 45 m2 đến dưới 60 m2 được thiết kế không gian ở khép kín, có một hay nhiều không gian chức năng khác nhau như: Phòng khách, các phòng ngủ, phòng ăn, bếp, khu vệ sinh, ban công hoặc lô gia;
- Căn nhà có diện tích sử dụng từ 48 m2 đến dưới 60 m2 được xây dựng theo kiểu nhà 01 tầng có nhiều căn nhà sát nhau, từng căn nhà có công trình phụ khép kín.
Định mức kinh phí tối đa trang thiết bị nội thất cho nhà ở công vụ nêu trên là 120 triệu đồng.
Quy định mới về tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước
Chính phủ ban hành Nghị định số 334/2025/NĐ-CP ngày 21/12/2025 quy định tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước.
Nghị định quy định tiêu chuẩn chung áp dụng đối với các chức danh công chức lãnh đạo, quản lý gồm: tiêu chuẩn về chính trị tư tưởng; tiêu chuẩn về đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật; tiêu chuẩn về trình độ; tiêu chuẩn về năng lực, uy tín và khả năng quy tụ, đoàn kết; tiêu chuẩn về kết quả công tác; về sức khỏe, độ tuổi và kinh nghiệm.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định một số trường hợp đặc thù áp dụng tiêu chuẩn chức danh khi bổ nhiệm như: Trường hợp được điều động, luân chuyển từ nơi khác; trường hợp bổ nhiệm công chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định của Đảng và pháp luật về chính sách thu hút, trọng dụng đối với người có tài năng, chuyên gia...
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định cụ thể các tiêu chuẩn đối với từng chức danh công chức lãnh đạo, quản lý thuộc Bộ, thuộc sở và tương đương, phòng thuộc cấp xã.
Chấm điểm, xếp loại cơ quan hành chính nhà nước theo 4 mức
Chính phủ ban hành Nghị định số 335/2025/NĐ-CP quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với cơ quan hành chính nhà nước và công chức.
Tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức được tính theo thang điểm 100, gồm tiêu chí chung (tối đa 30 điểm) và tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ (tối đa 70 điểm).
Tổ chức được xếp loại theo 4 mức:
Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (đạt từ 90 điểm trở lên, đồng thời hoàn thành 100% các nhiệm vụ được giao, đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng, hiệu quả; trong đó có ít nhất 30% nhiệm vụ hoàn thành vượt mức yêu cầu; Không có đơn vị cấp dưới trực tiếp (nếu có) bị xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ; đã khắc phục toàn bộ hạn chế, khuyết điểm được chỉ ra từ kỳ đánh giá trước hoặc từ kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền (nếu có)).
Hoàn thành tốt nhiệm vụ: Đạt từ 70 đến dưới 90 điểm, đồng thời hoàn thành 100% các nhiệm vụ được giao, đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng, hiệu quả.
Hoàn thành nhiệm vụ: Đạt từ 50 đến dưới 70 điểm, đồng thời hoàn thành 100% các nhiệm vụ được giao, số nhiệm vụ chưa bảo đảm tiến độ không vượt quá 20%.
Không hoàn thành nhiệm vụ: Có tổng điểm đánh giá dưới 50 điểm hoặc thuộc một trong các trường hợp sau: a) Bị cấp có thẩm quyền kết luận có sai phạm trong công tác cán bộ, mất đoàn kết nội bộ, bè phái, chạy chức, chạy quyền; b) Hoàn thành dưới 70% nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch trong năm. Trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ mà có lý do bất khả kháng thì cấp có thẩm quyền căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, tính chất nhiệm vụ, kết quả thực hiện; hành vi, mức độ vi phạm, hậu quả, nguyên nhân và các yếu tố liên quan khác để xem xét, đánh giá, xếp loại, bảo đảm khách quan, toàn diện, thận trọng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình theo phân cấp.
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030
Ngày 29/12/2025, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030.
Quyết định này quy định Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030, gồm:
a) Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030;
b) Quy định khung thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026 - 2030;
c) Quy định tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030.
Theo Quyết định 51/2025/QĐ-TTg, bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 bao gồm 10 tiêu chí, 47 chỉ tiêu.
10 tiêu chí gồm: 1- Quy hoạch; 2- Hạ tầng kinh tế - xã hội; 3- Phát triển kinh tế nông thôn; 4- Đào tạo nguồn nhân lực nông thôn; 5- Văn hóa, giáo dục, y tế; 6- Giảm nghèo và an sinh xã hội; 7- Khoa học công nghệ và chuyển đổi số; 8- Môi trường và cảnh quan nông thôn; 9 - Xây dựng hệ thống chính trị và hành chính công; 10- Tiếp cận pháp luật và an ninh, quốc phòng.
Nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ công lập
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 2813/QĐ-TTg ngày 27/12/2025 phê duyệt Chương trình nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ công lập giai đoạn 2025-2030.
Chương trình tập trung nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ công lập, xây dựng nền tảng khoa học và công nghệ vững chắc, tạo ra một số tổ chức nghiên cứu và phát triển hạt nhân làm động lực thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ. Qua đó tạo đột phá trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh quốc gia.
Chính sách phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử
Chính phủ ban hành Nghị định số 331/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Năng lượng nguyên tử về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử. Trong đó, Nghị định nêu rõ một số chính sách đầu tư, phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực năng lượng nguyên tử như: Nhà nước bảo đảm kinh phí cho xây dựng, phát triển, duy trì cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ hạt nhân; chuyển giao, ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; ưu tiên tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp loại giỏi trở lên các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử...
Áp dụng tỷ lệ vay lại 10% vốn vay ODA cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Hiện nay, việc cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ không áp dụng riêng cho đối tượng là "tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ tài chính" mà chỉ có quy định áp dụng chung cho các đơn vị sự nghiệp công lập.
Nghị định số 317/2025/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 10/12/2025 đã bổ sung nội dung trên vào khoản 2 Điều 21 Nghị định số 97/2018/NĐ-CP như sau: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập có dự án đầu tư trong hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thuộc phạm vi của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý nợ công, được áp dụng tỷ lệ vay lại 10% vốn vay ODA, vay ưu đãi sử dụng cho dự án đầu tư".
Hướng dẫn việc lấy ý kiến Nhân dân về thành lập, giải thể, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính
Chính phủ ban hành Nghị định số 321/2025/NĐ-CP ngày 16/12/2025 hướng dẫn việc lấy ý kiến Nhân dân về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính.
Theo Nghị định, việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính phải được lấy ý kiến Nhân dân ở những đơn vị hành chính cấp xã chịu ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể:
Trường hợp thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lấy ý kiến Nhân dân ở tất cả các đơn vị hành chính cấp xã thuộc đơn vị hành chính cấp tỉnh đó.
Trường hợp thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lấy ý kiến Nhân dân ở đơn vị hành chính cấp xã đó.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lấy ý kiến Nhân dân bằng hình thức phát Phiếu lấy ý kiến hộ gia đình theo mẫu quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Căn cứ tình hình thực tiễn của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định các hình thức phát Phiếu lấy ý kiến đến từng hộ gia đình cho phù hợp hoặc giao Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định đối với từng đơn vị cụ thể, khuyến khích áp dụng hình thức lấy ý kiến điện tử thông qua trang, cổng thông tin điện tử của địa phương hoặc mạng viễn thông, mạng xã hội hoạt động hợр pháp, các phần mềm điện tử theo quy định của pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, thuận tiện và phù hợp với mức độ ứng dụng công nghệ thông tin tại cấp xã, tại thôn, tổ dân phố.
Quy trình tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 48/2025/QĐ-TTg ngày 12/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị trên Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật.
Quy chế này quy định về nguyên tắc, quy trình, cơ chế phối hợp, trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định của văn bản quy phạm pháp luật có mâu thuẫn, chồng chéo, có nhiều cách hiểu khác nhau; không rõ ràng, không hợp lý, không khả thi, gây khó khăn trong áp dụng, thực hiện pháp luật, tạo gánh nặng chi phí tuân thủ; hạn chế việc đổi mới sáng tạo, phát triển động lực tăng trưởng mới, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế trên Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật.
Tập trung hoàn thành mục tiêu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh
Thủ tướng Phạm Minh Chính ký ban hành Công điện số 242/CĐ-TTg ngày 21/12/2025 chỉ đạo tập trung hoàn thành mục tiêu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh theo Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ. Công điện yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát để bãi bỏ ngay các điều kiện kinh doanh đối với những ngành, nghề đã được đưa ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư; hoàn thành việc rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành và hoàn thành 100% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp được thực hiện trực tuyến, thông suốt, liền mạch, hiệu quả, giảm tối đa giấy tờ trước ngày 31/12/2025.
Quy định về hợp đồng lao động điện tử
Chính phủ ban hành Nghị định 337/2025/NĐ-CP ngày 24/12/2025 quy định về hợp đồng lao động điện tử.
Nghị định quy định hợp đồng lao động điện tử là hợp đồng lao động được giao kết, thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị pháp lý như hợp đồng lao động bằng văn bản giấy.
Hợp đồng lao động điện tử được tạo lập, xác thực định danh chủ thể giao kết hợp đồng lao động điện tử, ký số, dấu thời gian gắn kèm chữ ký số của các chủ thể giao kết và chứng thực thông điệp dữ liệu của Nhà cung cấp eContract vào hợp đồng lao động điện tử trên eContract bảo đảm các điều kiện theo quy định. Trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm bên sau cùng ký, Nhà cung cấp eContract phải gửi hợp đồng lao động điện tử về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để gắn ID theo quy định của Bộ Nội vụ.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.
Chậm nhất là ngày 1/7/2026, Nền tảng hợp đồng lao động điện tử phải được chính thức đưa vào vận hành. Việc giao kết, thực hiện hợp đồng lao động điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định này từ ngày 1/7/2026.
3 nhóm đối tượng được đăng ký lao động
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 318/2025/NĐ-CP ngày 12/12/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về đăng ký lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động.
Nghị định quy định 03 nhóm đối tượng được đăng ký lao động:
1. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.
2. Người lao động đang có việc làm và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
3. Người thất nghiệp là người đang không có việc làm, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc.
Chính sách cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm
Chính phủ ban hành Nghị định số 338/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm. Trong đó đáng chú ý là các quy định về cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm.
Nghị định quy định mức vay như sau:
1. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức vay tối đa là 10 tỷ đồng và không quá 200 triệu đồng cho 01 người lao động được hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm.
2. Đối với người lao động, mức vay tối đa là 200 triệu đồng.
3. Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức vay tối đa cao hơn mức vay quy định tại khoản 1, khoản 2 nêu trên đối với nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội.
Phê duyệt Chiến lược quốc gia về phát triển đội ngũ trí thức đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 2711/QĐ-TTg ngày 12/12/2025 phê duyệt Chiến lược quốc gia về phát triển đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).
Mục tiêu của Chiến lược nhằm phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam có chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, đóng vai trò là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, dẫn dắt chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, là động lực then chốt để Việt Nam đạt mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030; nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời góp phần giải quyết các thách thức toàn cầu và khu vực.
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm
Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 2776/QĐ-TTg ngày 24/12/2024 phê duyệt Đề án "Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026–2035, định hướng đến năm 2045" (Đề án).
Trong giai đoạn 2026–2030, Đề án tập trung đào tạo các ngành, lĩnh vực: sức khỏe, công nghệ thông tin, nông nghiệp, tài chính – ngân hàng, đào tạo giáo viên, du lịch và công tác xã hội; giai đoạn 2030–2035 sẽ mở rộng thêm các ngành, lĩnh vực đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đề án đặt mục tiêu giai đoạn 2026–2035 tuyển mới hằng năm từ 2.000 đến 2.500 sinh viên trình độ cao đẳng, đại học; trong đó thu hút từ 1.000 đến 1.500 sinh viên có tiềm năng để đào tạo, hình thành lực lượng lao động, cán bộ nòng cốt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Quy mô đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ là người dân tộc thiểu số phấn đấu tăng tối thiểu 10% mỗi năm; quy mô tuyển sinh đào tạo dự bị đại học cũng phấn đấu tăng ít nhất 10% hằng năm.
Định hướng đến năm 2045, Đề án tiếp tục mở rộng quy mô và phạm vi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Phê duyệt Đề án tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045
Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 2732/QĐ-TTg ngày 16/12/2025 phê duyệt Đề án tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045.
Mục tiêu của Đề án nhằm nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ cho người học đáp ứng nhu cầu học tập, giao tiếp, tiếp cận tri thức, văn hóa, khoa học, công nghệ toàn cầu và hội nhập quốc tế; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực trên thị trường lao động trong nước và quốc tế. Xây dựng một thế hệ trẻ có khả năng ngoại ngữ tốt, đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Chế độ an điều dưỡng, chăm sóc ốm đau cho sĩ quan quân đội nghỉ hưu
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 343/2025/NĐ-CP ngày 28/12/2025 quy định 4 chế độ đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu gồm: Chế độ an điều dưỡng; chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo; chế độ thông tin; hỗ trợ tang lễ khi từ trần. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 - Tăng mức trợ cấp hằng tháng đối với thanh niên xung phong Chính phủ ban hành Nghị định số 344/2025/NĐ-CP ngày 29/12/2025 điều chỉnh mức trợ cấp hằng tháng đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến và thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975.
Nghị định 344/2025/NĐ-CP điều chỉnh trợ cấp hằng tháng bằng 2 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội theo quy định hiện hành.
Mức trợ cấp hằng tháng này được áp dụng từ ngày 01/7/2025. Trường hợp thanh niên xung phong quy định trên đã từ trần kể từ ngày 01/7/2025 nhưng chưa được điều chỉnh trợ cấp theo Nghị định này thì người tổ chức mai táng được truy lĩnh khoản tiền chênh lệch do điều chỉnh trợ cấp kể từ ngày 01/7/2025 đến tháng thanh niên xung phong từ trần.
Hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học, THCS ở các xã biên giới
Chính phủ ban hành Nghị định số 339/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 quy định chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở học ở các xã biên giới đất liền.
Theo đó, mỗi học sinh được hỗ trợ tiền ăn 450.000 đồng/tháng và 08 kg gạo/tháng. Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 09 tháng/năm học.
Nâng cao chất lượng công tác người cao tuổi thích ứng với già hóa dân số
Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 23/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện công tác người cao tuổi thích ứng với già hóa dân số.
Trong đó, Chỉ thị yêu cầu các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn các địa phương phát triển các mô hình chăm sóc ban ngày, nhà sinh hoạt cộng đồng theo hướng "sáng đón đi, tối đưa về"; hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi tại gia đình, cộng đồng và các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; đẩy mạnh phát triển các câu lạc bộ cho người cao tuổi và câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau; hỗ trợ, tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, khởi nghiệp và tăng cường thực hiện hiệu quả các chính sách đối với người cao tuổi ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…
Một số quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính thuế, hóa đơn
Chính phủ ban hành Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 2/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Trong đó, Nghị định số 310/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP theo hướng mở rộng và làm rõ khái niệm vi phạm hành chính về thuế; bổ sung khoản 10 vào sau khoản 9 Điều 2 quy định các trường hợp bất khả kháng trong xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; sửa đổi quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, cá nhân liên quan; phạt hành vi không lập hóa đơn và lập hóa đơn không đúng quy định...
Vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ bị phạt tới 150 triệu đồng
Chính phủ ban hành Nghị định số 336/2025/NĐ-CP ngày 22/12/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ với mức phạt tiền tối đa trong hoạt động đường bộ thuộc lĩnh vực giao thông đường bộ đối với cá nhân là 75.000.000 đồng và đối với tổ chức là 150.000.000 đồng...
Áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người chưa thành niên phạm tội
Tại Nghị định số 333/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Tư pháp người chưa thành niên, Chính phủ quy định cụ thể về việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người chưa thành niên phạm tội.
Nghị định quy định phạm vi giám sát trong địa bàn cấp xã nơi người chưa thành niên là bị can, bị cáo cư trú.
Thiết bị giám sát điện tử là thiết bị điện tử được sử dụng để theo dõi, thu thập và truyền dữ liệu về các hoạt động của người chưa thành niên là bị can, bị cáo, thiết bị có thể được gắn trên người hoặc trên đồ vật mà người đó buộc phải mang theo.
Việc mang thiết bị giám sát điện tử phải đảm bảo không bị cản trở sinh hoạt, vệ sinh cá nhân của người mang và không bị lợi dụng để có hành vi phân biệt đối xử trong cộng đồng.
Tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên đề tập trung vào lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 2821/QĐ-TTg ngày 29/12/2025 phê duyệt Đề án tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên đề công tác phát hiện, chuyển giao, tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, dư luận bức xúc, báo chí phản ánh.
Mục tiêu của Đề án nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát chuyên đề công tác phát hiện, chuyển giao, tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; phòng ngừa, phát hiện sớm, xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực; không bỏ lọt tội phạm, không để xảy ra oan sai; nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tiếp nhận và xử lý nguồn tin về tội phạm; đẩy mạnh quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác kiểm tra, giám sát chuyên đề, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam…
Các trường hợp được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ 1/1/2026
Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 216/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về việc kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Theo Nghị định, các đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 28/2016/QH14 ngày 11/11/2016 của Quốc hội), cụ thể như sau:
1. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm theo quy định của pháp luật về đất đai; diện tích đất làm muối.
2. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ nghèo.
3. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cho các đối tượng sau đây:
a) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp).
b) Hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh và hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhận đất giao khoán ổn định của công ty nông, lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.
c) Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã.
4. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp.
Đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp thì thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai; trong thời gian Nhà nước chưa thu hồi đất thì phải nộp 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Quy định trên được thực hiện từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 31/12/2030.
Tăng lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
Nghị định 293/2025/NĐ-CP được ban hành quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng, áp dụng từ ngày 1/1/2026.
Theo đó, mức lương tối thiểu tháng và giờ của bốn vùng được điều chỉnh tăng so với hiện hành như sau:
Vùng I: 5.310.000 đồng/tháng và 25.500 đồng/giờ (tăng 350.000 đồng so với mức cũ).
Vùng II: 4.730.000 đồng/tháng và 22.700 đồng/giờ (tăng 320.000 đồng).
Vùng III: 4.140.000 đồng/tháng và 20.000 đồng/giờ (tăng 280.000 đồng).
Vùng IV: 3.700.000 đồng/tháng và 17.800 đồng/giờ (tăng 250.000 đồng).
Đối tượng áp dụng gồm tất cả người lao động làm việc theo hợp đồng và người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động, bao gồm doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình và cá nhân có thuê mướn lao động.
Ba nhóm người lao động phải đăng ký theo quy định mới
Chính phủ ban hành Nghị định số 318/2025/NĐ-CP ngày 12/12/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về đăng ký lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động.
Nghị định quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký lao động. Theo đó, Nghị định quy định 3 nhóm đối tượng được đăng ký lao động: Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15; Người lao động đang có việc làm và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; Người thất nghiệp là người đang không có việc làm, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc.
Cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân không thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động theo quy định tại Nghị định này.
Nghị định 318/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.
Tiêu chí lựa chọn tổ chức được nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt
Chính phủ ban hành Nghị định 319/2025/NĐ-CP ngày 12/12/2025 quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền để triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt về phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ đối với công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt theo các Nghị quyết của Quốc hội.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Về tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc được đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt, Nghị định quy định: Tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc được đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau:
a) Là tổ chức, doanh nghiệp được thành lập theo quy định pháp luật Việt Nam;
b) Có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng (đối với tổ chức) hoặc có đăng ký ngành nghề kinh doanh, giấy phép hoạt động (đối với doanh nghiệp) phù hợp với lĩnh vực công nghệ nhận chuyển giao;
c) Có quy mô về nhà xưởng, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, lắp đặt máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ;
d) Có nguồn lực tài chính hoặc khả năng huy động nguồn tài chính đủ để thanh, quyết toán chi phí nhận chuyển giao công nghệ;
đ) Có đội ngũ chuyên gia, cán bộ kỹ thuật, người lao động có năng lực quản lý, nghiên cứu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bảo đảm tiếp nhận, làm chủ, vận hành công nghệ nhận chuyển giao;
e) Có kế hoạch huy động nguồn lực đáp ứng yêu cầu nhận chuyển giao công nghệ;
g) Có cam kết bảo đảm hoàn thành việc tiếp nhận, làm chủ, vận hành công nghệ nhận chuyển giao;
h) Có kinh nghiệm hợp tác quốc tế về chuyển giao công nghệ;
i) Không đang trong quá trình thực hiện thủ tục giải thể hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh; không thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về phá sản;
k) Có giá chuyển giao công nghệ không vượt dự toán kinh phí nhận chuyển giao công nghệ trong dự án đường sắt đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4 chế độ đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu từ 01/01/2026
Nghị định 343/2025/NĐ-CP về chế độ an điều dưỡng, chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo, chế độ thông tin, hỗ trợ tang lễ khi từ trần đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Các chế độ quy định tại Nghị định 343/2025/NĐ-CP như sau:
1 - Chế độ an điều dưỡng
Sĩ quan Quân đội nghỉ hưu hằng năm được hưởng tiền an điều dưỡng, mức hưởng tương đương với sĩ quan đang tại ngũ cùng cấp bậc quân hàm hoặc chức vụ, chi trả 01 lần/năm (trong quý I).
Ngoài ra, tùy từng đối tượng, sĩ quan nghỉ hưu còn được cấp phiếu mời cá nhân hoặc gia đình đi an điều dưỡng tại các Đoàn an điều dưỡng của Quân đội (hằng năm hoặc 2 năm/lần).
Khi đi an điều dưỡng, được bảo đảm nơi nghỉ, chăm sóc sức khỏe; được thanh toán tiền tàu xe theo quy định nếu tự túc phương tiện.
2 - Chế độ chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo
Sĩ quan nghỉ hưu mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh hiểm nghèo và được Hội đồng giám định y khoa kết luận thì:
- Hằng quý được hỗ trợ bằng 02 lần mức lương cơ sở, tính từ quý được kết luận mắc bệnh;
- Khi điều trị nội trú, được bảo đảm tiền ăn bệnh lý theo số ngày điều trị thực tế;
- Trường hợp đã được giám định mắc bệnh hiểm nghèo nhưng chưa kịp ban hành quyết định hưởng chế độ mà từ trần, thân nhân được hỗ trợ một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở.
3 - Chế độ thông tin
- Chế độ báo chí: Một số đối tượng sĩ quan nghỉ hưu được cấp tiền mua Báo Quân đội nhân dân (báo ngày, báo cuối tuần, tập san), cấp theo quý, mức tính theo giá báo tại thời điểm chi trả.
- Cung cấp thông tin, gặp mặt: Hằng năm, nhân các dịp lễ lớn (Tết Nguyên đán, Ngày thành lập Quân đội…), sĩ quan nghỉ hưu được gặp mặt, thông tin tình hình, tặng quà theo phân cấp (Bộ Quốc phòng, Quân khu, tỉnh, xã).
4 - Chế độ hỗ trợ tang lễ khi từ trần
- Trường hợp thuộc diện tổ chức lễ tang cấp Nhà nước hoặc cấp cao thì thực hiện theo quy định chung.
- Các trường hợp còn lại, cơ quan, đơn vị chủ trì hoặc tham gia tổ chức lễ tang được hỗ trợ kinh phí (tính theo số lần mức lương cơ sở, tùy cấp tổ chức), để chi cho trang trí, lễ viếng, vòng hoa và các hoạt động phục vụ tang lễ.
Quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Chính phủ ban hành Nghị định số 296/2025/NĐ-CP ngày 16/11/2025 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Nghị định này quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp khẩn cấp cần khắc phục ngay hậu quả vi phạm (cưỡng chế), chi phí cưỡng chế, trách nhiệm thi hành và bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026./.