• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chuyển đổi số giáo dục: Nhân rộng những cách làm hiệu quả

(Chinhphu.vn) - Từ quản trị bằng dữ liệu số đến đưa trí tuệ nhân tạo vào lớp học, Thanh Hóa, Hà Nội và TPHCM đã có những kết quả đáng chú ý trong chuyển đổi số giáo dục. Kinh nghiệm từ các địa phương cho thấy hiệu quả của những cách làm mới, nhưng cũng đặt ra yêu cầu tháo gỡ các vướng mắc về kết nối dữ liệu, cơ chế và nguồn lực để có thể nhân rộng.

06/11/2026 18:18
Chuyển đổi số giáo dục: Nhân rộng những cách làm hiệu quả - Ảnh 1.

Ông Đỗ Đức Quế nhấn mạnh, chuyển đổi số giảm áp lực hành chính cho nhà trường và cán bộ giáo viên - Ảnh: Baothanhhoa.vn

Những kết quả, kinh nghiệm và kiến nghị này được đại diện các địa phương chia sẻ tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ngày 6/11.

Dữ liệu dùng chung giáo dục, giảm áp lực cho nhà trường

Tại Thanh Hóa, việc đưa dữ liệu vào quản trị nhà trường đã bước đầu mang lại những chuyển biến rõ nét. Đến nay, 100% cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn, với 578 đơn vị, đã triển khai nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia. Đáng chú ý, toàn tỉnh đã phát hành học bạ số đạt tỷ lệ 99,996%, chỉ còn 30 học sinh chưa hoàn thành do thiếu số định danh cá nhân.

Ông Đỗ Đức Quế, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa nhấn mạnh, giá trị của nền tảng không chỉ nằm ở việc chuẩn hóa dữ liệu mà còn ở khả năng khai thác thông tin phục vụ quản lý. Từ phân công giảng dạy, quản lý sĩ số đến theo dõi kết quả học tập và lập báo cáo, các công việc được thực hiện trên một hệ thống thống nhất. Cách làm này góp phần khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, hạn chế trùng lặp, sai lệch số liệu, giúp giáo viên giảm thời gian nhập liệu để tập trung cho chuyên môn.

Dữ liệu tập trung còn hỗ trợ hiệu trưởng theo dõi tình hình học tập, cân đối số tiết dạy và quản lý cơ sở vật chất. Từ kinh nghiệm triển khai, Thanh Hóa kiến nghị mở rộng nền tảng đến cấp mầm non, bổ sung chức năng phục vụ quản lý của Sở và UBND cấp xã, hỗ trợ giáo viên soạn giáo án, xây dựng kế hoạch giảng dạy. Địa phương cũng đề xuất hướng dẫn kết nối, chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực với hệ thống điều hành của tỉnh.

Tại Hà Nội, chiến dịch 100 ngày hoàn thiện cơ sở dữ liệu giáo dục đã ghi nhận 2,9 triệu bản ghi văn bằng, chứng chỉ được số hóa, đạt 75%; hoàn thành 1,76 triệu học bạ số, đạt 99,5%. Toàn bộ cơ sở giáo dục đã được triển khai chữ ký số.

Bà Vũ Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết, kinh nghiệm nổi bật của Hà Nội là huy động nhiều sở, ngành tham gia, phân công rõ trách nhiệm từ làm sạch dữ liệu, cấp mã định danh đến bảo đảm hạ tầng kết nối. Thành phố đang triển khai hệ thống Hanoi Study, hướng tới tích hợp hoạt động quản lý, dạy và học trên một nền tảng thống nhất. Thay vì sử dụng nhiều phần mềm phân tán, dữ liệu được định hướng kết nối để phục vụ quản lý và theo dõi quá trình phát triển của học sinh.

Tuy nhiên, để các hệ thống phát huy hiệu quả, Hà Nội kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn thiện cơ chế kết nối nền tảng số địa phương với cơ sở dữ liệu quốc gia, chuẩn hóa danh mục dữ liệu dùng chung và quy trình nghiệp vụ số. Đặc biệt, thành phố đề xuất nguyên tắc không nhập liệu và báo cáo trùng lặp, bảo đảm thông tin được cập nhật một lần nhưng có thể sử dụng cho nhiều mục đích quản lý, giảm công việc hành chính cho nhà trường. 

Chuyển đổi số giáo dục: Nhân rộng những cách làm hiệu quả - Ảnh 2.

Bà Vũ Thu Hà chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của Hà Nội trong chuyển đổi số - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Trang

Đưa giáo dục AI vào trường học cần đi đôi với bảo đảm điều kiện triển khai

Trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), TPHCM đã triển khai giáo dục AI theo lộ trình từ thí điểm đến đại trà. Ông Nguyễn Bảo Quốc, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM thông tin, năm học 2025–2026, tỷ lệ trường lồng ghép AI trong các môn học đạt 80,26% ở cấp tiểu học, 82,97% ở cấp THCS và 50,67% ở cấp THPT. Từ năm học 2026–2027, thành phố triển khai nội dung giáo dục AI cốt lõi tại 100% trường với thời lượng 12 tiết/lớp/năm học.

Điểm đáng chú ý là việc ứng dụng AI được gắn với phát triển tư duy và kỹ năng kiểm chứng thông tin của học sinh. Tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên Chu Văn An, học sinh tự chuẩn hóa dữ liệu từ sách giáo khoa để huấn luyện trợ lý học tập chỉ trả lời trên nguồn đã kiểm chứng. Trong khi đó, Trường THCS Đồng Khởi sử dụng phim hoạt hình tạo bằng AI để giáo dục kỹ năng phòng chống lừa đảo trực tuyến.

Dù đạt kết quả bước đầu, việc triển khai diện rộng vẫn gặp khó khăn do giáo viên chưa được bồi dưỡng đầy đủ, thiếu học liệu chính thức và cơ chế chi trả tiền dạy vượt định mức. TPHCM kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm ban hành bộ tiêu chí lựa chọn công cụ AI, đưa kiến thức AI vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên và cho phép thí điểm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với AI trong giáo dục phổ thông.

Nhấn mạnh yêu cầu về chất lượng, ông Nguyễn Bảo Quốc khẳng định: "Hiệu quả của AI trong nhà trường không đo bằng số phần mềm được trang bị, mà bằng năng lực tư duy và ý thức sử dụng công nghệ có trách nhiệm của học sinh".

Những kinh nghiệm từ Thanh Hóa, Hà Nội và TPHCM cho thấy chuyển đổi số giáo dục không chỉ là số hóa hồ sơ hay trang bị công nghệ, mà quan trọng hơn là thay đổi cách quản lý, dạy và học. Để các mô hình hiệu quả được nhân rộng, những vướng mắc về kết nối dữ liệu, cơ chế triển khai và năng lực đội ngũ cần tiếp tục được giải quyết, bảo đảm công nghệ thực sự phục vụ nhà trường, giáo viên và người học. 

Thu Trang