• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Công nghệ chiến lược được trao cơ chế mới để tăng tốc phát triển

(Chinhphu.vn) - Với hành lang pháp lý cơ bản được hoàn thiện, công nghệ chiến lược đang được trao nhiều cơ chế đặc thù về tài chính, nhân lực và quản trị rủi ro. Bộ KH&CN đã tiếp nhận hàng chục đề xuất nhiệm vụ, tạo nền tảng để các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo tăng tốc làm chủ các công nghệ then chốt.

03/08/2026 16:22
Công nghệ chiến lược được trao cơ chế mới để tăng tốc phát triển- Ảnh 1.

Đến nay cơ bản đã hoàn thiện hành lang pháp lý cho công nghệ chiến lược

Ngày 1/7/2026 được xác định là một dấu mốc quan trọng đối với việc phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược khi hệ thống hành lang pháp lý mới của Luật Công nghệ cao chính thức có hiệu lực. 

Cùng với đó, các cơ chế về tài chính, thuế, nhân lực và quản trị rủi ro đang được hoàn thiện, tạo nền tảng để các nhiệm vụ công nghệ chiến lược được triển khai theo hướng chủ động, linh hoạt và chấp nhận rủi ro có kiểm soát.

Phân cấp mạnh trong triển khai nhiệm vụ công nghệ chiến lược

Cập nhật về tiến độ và tình hình triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ KH&CN) cho biết, ngày 1/7/2026 là mốc quan trọng đối với công nghệ cao và công nghệ chiến lược khi hệ thống hành lang pháp lý của Luật Công nghệ cao có hiệu lực.

Bộ KH&CN đã tham mưu trình Chính phủ ban hành nghị định và xây dựng hệ thống thông tư liên quan đến công nghệ chiến lược. Đến nay, cơ bản hành lang pháp lý cho lĩnh vực này đã được hoàn thiện.

Công nghệ chiến lược được trao cơ chế mới để tăng tốc phát triển- Ảnh 2.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ KH&CN) - Ảnh: VGP/TG

Theo ông Hoàng Anh Tú, một trong những điểm mới quan trọng là việc phân cấp mạnh cho các bộ, ngành, địa phương trong xây dựng, phê duyệt và tổ chức triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Nếu trước đây từng nhiệm vụ phải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt thì theo cơ chế mới, các bộ, ngành, địa phương được trao quyền chủ động hơn trong quá trình tổ chức thực hiện. Bộ KH&CN chuyển mạnh sang vai trò hướng dẫn, thẩm định và hỗ trợ về chuyên môn đối với các nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Cách tiếp cận này được kỳ vọng rút ngắn quy trình, tăng tính chủ động của các cơ quan chủ trì, đồng thời tạo điều kiện để các nhiệm vụ công nghệ được triển khai nhanh hơn trong bối cảnh công nghệ thay đổi với tốc độ rất cao.

Điểm mới thứ hai là các cơ chế đặc thù, vượt trội dành cho công nghệ cao và công nghệ chiến lược, trong đó có các chính sách ưu đãi về thuế, tài chính và cơ chế chi trả nhân lực.

Đáng chú ý, các quy định liên quan đến thù lao, công lao động cho những người tham gia thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược được thiết kế theo hướng tiệm cận mức của các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN. Đây được xem là một trong những giải pháp nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ chiến lược.

Bên cạnh đó, một hệ thống tiêu chí tương đối đầy đủ cũng đã được ban hành để xác định thế nào là nhiệm vụ công nghệ chiến lược, đồng thời xác nhận các sản phẩm công nghệ chiến lược do doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các cơ sở đào tạo phát triển.

Về triển khai các nhiệm vụ cụ thể, ông Hoàng Anh Tú cho biết, thực hiện các nhiệm vụ công nghệ chiến lược được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định 808 đối với 10 bộ, ngành và 27 bài toán lớn, Bộ KH&CN đã tiếp nhận khoảng 30 đề xuất nhiệm vụ công nghệ chiến lược từ các bộ, ngành và cơ quan Trung ương.

Sau khi hoàn tất quá trình thẩm định, các nhiệm vụ sẽ được tổ chức triển khai, tuyển chọn các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo tham gia thực hiện.

Tuy nhiên, thách thức tiếp theo không chỉ nằm ở việc lựa chọn được nhiệm vụ mà còn ở khả năng tổ chức thực hiện, huy động doanh nghiệp và hình thành được sản phẩm công nghệ có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Đây cũng là lý do cơ chế tài chính và quản trị rủi ro được xem là một trong những nội dung then chốt của chính sách phát triển công nghệ chiến lược.

Thiết kế cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù công nghệ chiến lược

Ông Lê Đình Hanh, Phó Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED), cho biết hiện nay, Quỹ NAFOSTED đang  xây dựng dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt sử dụng ngân sách nhà nước.

Một nội dung đáng chú ý là cơ chế kinh phí dự phòng để xử lý những vấn đề rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Theo ông Lê Đình Hanh, nội dung này đã được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 28 Nghị định 267. Theo đó, nhiệm vụ thuộc chương trình công nghệ chiến lược được dự toán kinh phí dự phòng cho nội dung chế tạo, thử nghiệm sản phẩm; khoản kinh phí này được lập, thẩm định và phê duyệt ngay trong dự toán của nhiệm vụ.

Điểm quan trọng là đây không phải nguồn kinh phí được cấp bổ sung sau khi rủi ro xảy ra mà được tính toán và phê duyệt ngay từ thời điểm xây dựng dự toán nhiệm vụ.

Cách tiếp cận này nhằm tạo dư địa cho các nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp mạnh dạn theo đuổi những công nghệ có tính đột phá, đồng thời vẫn bảo đảm kỷ luật tài chính.

Việc giải ngân cũng không được hiểu đơn thuần là cấp kinh phí rồi chờ đến cuối nhiệm vụ mới đánh giá. Theo cơ chế dự kiến, tiến độ giải ngân sẽ được xem xét theo các mốc thời gian, mốc đánh giá và sản phẩm đầu ra; quá trình thực hiện được kiểm soát thông qua cơ chế hậu kiểm.

Trường hợp không sử dụng hết kinh phí dự phòng, phần kinh phí còn lại sẽ được hoàn trả Nhà nước. 

Cách tiếp cận này tạo dư địa cho nghiên cứu có tính đột phá, đồng thời bảo đảm kỷ luật tài chính, sử dụng hiệu quả ngân sách và hạn chế thất thoát.

Một điểm đáng chú ý khác trong cơ chế tài chính cho công nghệ chiến lược là cách tiếp cận đối với rủi ro.

Theo ông Lê Đình Hanh, công nghệ chiến lược thường có mức độ rủi ro cao và tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu chưa thể xác định ngay phương án tối ưu. Vì vậy, có thể đặt ra nhiều phương án công nghệ khác nhau, với các mốc thời gian và tiêu chí đánh giá tương ứng.

Sau mỗi mốc đánh giá, phương án nào chứng minh được tính khả thi sẽ tiếp tục được bố trí kinh phí để thực hiện. Ngược lại, những phương án không chứng minh được khả năng thành công sẽ dừng quá trình tài trợ.

Đây là cách quản trị rủi ro nhằm xác định từng bước xác suất thành công của những công nghệ có tính đột phá và chiến lược.

NATIF hỗ trợ doanh nghiệp từ nghiên cứu đến thị trường

Không chỉ tập trung vào khâu nghiên cứu, cơ chế hỗ trợ công nghệ chiến lược còn hướng tới việc đồng hành với doanh nghiệp trong quá trình đưa sản phẩm ra thị trường.

Ông Tạ Việt Dũng, Phó Giám đốc Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF), cho biết Quỹ đang phối hợp chặt chẽ với các đơn vị của Bộ KH&CN để xây dựng hệ thống văn bản tạo hành lang hỗ trợ doanh nghiệp phát triển công nghệ chiến lược.

Công nghệ chiến lược được trao cơ chế mới để tăng tốc phát triển- Ảnh 3.

Ông Tạ Việt Dũng, Phó Giám đốc Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) - Ảnh: VGP/TG

Hai nội dung trọng tâm đang được Quỹ phối hợp xây dựng là hỗ trợ lãi suất vay cho doanh nghiệp phát triển công nghệ chiến lược và hỗ trợ voucher cho các doanh nghiệp có sản phẩm hoặc dịch vụ mới.

Theo đó, cơ chế voucher hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn tiếp cận thị trường ban đầu - thời điểm thường gặp nhiều khó khăn nhất đối với các sản phẩm công nghệ mới. Thông qua hỗ trợ này, doanh nghiệp có thêm điều kiện đưa sản phẩm đến khách hàng, rút ngắn thời gian tiếp cận thị trường và từng bước hình thành thị trường ban đầu.

Hai chính sách trên đang được phối hợp để lồng ghép vào các văn bản quy định về phát triển công nghệ chiến lược.

Theo cơ chế được NATIF thông tin, Quỹ sẽ áp dụng cơ cấu hỗ trợ theo hướng đồng bộ, xuyên suốt vòng đời công nghệ, dựa trên các cơ chế đặc thù quy định tại Nghị định số 77/2026/NĐ-CP và Nghị định số 268/2025/NĐ-CP.

Trước hết là cơ chế ưu tiên phân bổ vốn. Theo Điều 8 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP, Quỹ ưu tiên cao nhất đối với các dự án ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ thuộc Danh mục công nghệ chiến lược. Doanh nghiệp thực hiện dự án trong các lĩnh vực này có thể được hưởng đồng thời nhiều hình thức hỗ trợ của Quỹ nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.

Đáng chú ý là cơ chế hỗ trợ giải mã và sở hữu bí quyết công nghệ. Căn cứ Điều 31 Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, đối với các dự án trọng điểm thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược quốc gia như bán dẫn, AI, Quỹ áp dụng cơ chế đặc biệt cho phép chỉ định thầu, đàm phán giá để mua trực tiếp bí quyết công nghệ nước ngoài; chỉ định thuê chuyên gia tư vấn trong và ngoài nước và chi trả theo giá thỏa thuận.

Đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu phục vụ giải mã công nghệ sau khi nghiên cứu, cơ chế dự kiến cho phép hạch toán trực tiếp vào vật tư tiêu hao, không tính vào tài sản doanh nghiệp, qua đó giảm bớt thủ tục hành chính.

Đặc biệt, với những công nghệ có rủi ro cao, NATIF xác định nguyên tắc quản lý hậu kiểm là một cơ sở quan trọng để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư.

Theo Điều 18 Nghị định số 77/2026/NĐ-CP, cơ chế miễn trừ trách nhiệm hành chính và dân sự được áp dụng đối với doanh nghiệp thực hiện và cán bộ phê duyệt, quản lý của Quỹ nếu dự án không đạt mục tiêu do nguyên nhân khách quan, với điều kiện đã thực hiện đúng, đầy đủ quy trình và không có hành vi gian lận.

Quỹ không thu hồi kinh phí đối với phần ngân sách đã sử dụng đúng mục đích, hợp lệ nhằm tháo gỡ triệt để áp lực tâm lý cho doanh nghiệp mạo hiểm đổi mới sáng tạo.

Thu Giang