• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Đề xuất quy định về quản lý chất lượng vàng

(Chinhphu.vn) - Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định kiểm tra và quản lý đo lường, chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng và vàng nguyên liệu trong sản xuất, nhập khẩu và lưu thông trên thị trường.

11/06/2026 17:16
Đề xuất quy định về quản lý chất lượng vàng- Ảnh 1.

Vàng miếng nhập khẩu, vàng nguyên liệu nhập khẩu phải có hàm lượng vàng từ 99,5% trở lên

Dự thảo Thông tư đề xuất quy định về kiểm tra và quản lý đo lường, chất lượng đối với:

1. Vàng trang sức, mỹ nghệ được nhập khẩu, sản xuất, gia công, lưu thông trên thị trường;

2. Vàng miếng được nhập khẩu, sản xuất, lưu thông trên thị trường;

3. Vàng nguyên liệu được nhập khẩu để sản xuất vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ; bán cho doanh nghiệp, ngân hàng thương mại được phép sản xuất vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ theo quy định.

Yêu cầu chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ

Dự thảo nêu rõ, chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ được phân hạng theo độ tinh khiết của vàng tương ứng với hàm lượng vàng được quy định trong Bảng 3 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Kara (K) là số phần của kim loại vàng (tính theo khối lượng) trong hai mươi bốn (24) phần của hợp kim vàng.

Khi thực hiện phân hạng theo Kara, vàng trang sức, mỹ nghệ được phân hạng theo hạng thấp hơn liền kề với giá trị Kara thực tế xác định theo phân hạng danh định tại Bảng 3 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này (ví dụ vàng trang sức 21,5K thì xếp vào loại vàng 21K). Trường hợp phân hạng theo độ tinh khiết hoặc hàm lượng vàng thì công bố đúng giá trị thực tế (ví dụ vàng trang sức có hàm lượng vàng được xác định là 78,0 % thì công bố là 78,0 % hoặc 780).

Vàng trang sức, mỹ nghệ có nhiều hơn một bộ phận chính (ngoại trừ vật liệu hàn và các bộ phận phụ như: chốt, ốc vít… nếu có) là hợp kim vàng với giá trị phân hạng khác nhau theo quy định tại Bảng 3 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này sẽ được phân hạng theo thành phần có phân hạng thấp nhất và phải công bố rõ thành phần chính của vật liệu hàn và các bộ phận phụ (nếu có).

Vàng trang sức, mỹ nghệ được phép sử dụng kim loại nền bằng hợp kim khác với hợp kim vàng để tăng cường độ bền cơ lý mà hợp kim vàng không đáp ứng được.

Kim loại nền phải được xử lý bề mặt sao cho không gây nhầm lẫn về ngoại quan với thành phần là hợp kim vàng. Việc sử dụng kim loại nền khác với hợp kim vàng phải được nêu rõ trong công bố về thành phần của sản phẩm.

Sản phẩm vàng trang sức, mỹ nghệ nếu có sử dụng vật liệu nhồi hoặc làm đầy chỗ trống phải được công bố cụ thể và công bố rõ sản phẩm không được làm toàn bộ từ hợp kim vàng.

Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể về giới hạn thành phần độc hại thì vàng trang sức, mỹ nghệ (bao gồm cả kim loại nền, vật liệu phủ, vật liệu hàn, vật liệu gắn kết…) không được chứa các thành phần độc hại hoặc gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng vượt quá ngưỡng cho phép.

Giới hạn sai số của kết quả thử nghiệm xác định hàm lượng vàng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ phải bảo đảm yêu cầu quy định tại Bảng 4 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Vàng trang sức, mỹ nghệ được sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường phải bảo đảm chất lượng, hàm lượng vàng (trong sản phẩm hoặc trong thành phần có chứa vàng) của vàng trang sức, mỹ nghệ không được thấp hơn tiêu chuẩn, hàm lượng đã công bố.

Yêu cầu chất lượng đối với vàng miếng, vàng nguyên liệu

Theo dự thảo, vàng miếng nhập khẩu, vàng nguyên liệu nhập khẩu phải có hàm lượng vàng từ 99,5% trở lên.

Vàng miếng được sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường; vàng nguyên liệu nhập khẩu phải bảo đảm chất lượng, hàm lượng vàng không được thấp hơn tiêu chuẩn, hàm lượng đã công bố. Giới hạn sai số của kết quả thử nghiệm xác định hàm lượng vàng đối với vàng miếng, vàng nguyên liệu phải bảo đảm yêu cầu quy định tại Bảng 4 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Công bố tiêu chuẩn áp dụng

Vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng, vàng nguyên liệu quy định tại điểm 3 nêu trên lưu thông trên thị trường phải được công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã công bố.

Nội dung tiêu chuẩn công bố áp dụng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng, vàng nguyên liệu không được trái với các quy định tại Thông tư này và pháp luật có liên quan.

Việc công bố tiêu chuẩn áp dụng do tổ chức, cá nhân sản xuất, gia công, nhập khẩu tự thực hiện thông qua hình thức ghi số hiệu tiêu chuẩn hoặc các đặc tính cơ bản theo một trong các cách sau đây: Công khai tại nơi kinh doanh; trên bao bì thương phẩm của sản phẩm vàng; trên nhãn hàng hóa của sản phẩm vàng (bao gồm cả nhãn điện tử); trên tài liệu kèm theo sản phẩm vàng; trên website, các nền tảng số khác, bảo đảm dễ truy cập, tra cứu và lưu trữ thông tin trong quá trình lưu thông sản phẩm.

Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.

Minh Hiển