Đổi mới căn bản quy trình xây dựng và thi hành pháp luật
(Chinhphu.vn) - Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật đề xuất giảm từ 22 xuống 17 hình thức văn bản, đơn giản hóa quy trình xây dựng pháp luật và bổ sung cơ chế đánh giá hiệu quả thi hành, phản ứng chính sách. Cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục làm rõ cơ sở hiến định của cơ chế cho phép điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách.

Sáng 23/10, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật.
Theo Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng, dự án Luật được xây dựng nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, trọng tâm là Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; xử lý vướng mắc trong xây dựng, ban hành văn bản và gắn kết chặt chẽ hơn giữa xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật.
Dự thảo tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp, bảo đảm kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và lợi ích nhóm; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, tăng sự tham gia của chuyên gia và ứng dụng công nghệ số.
Tinh gọn hình thức văn bản
Dự thảo Luật gồm 9 chương, 68 điều. Một nội dung đáng chú ý là đề xuất mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ ban hành một loại văn bản quy phạm pháp luật, giảm từ 22 xuống 17 hình thức văn bản.
Theo Tờ trình, năm hình thức không tiếp tục được xác định là văn bản quy phạm pháp luật gồm nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quyết định của Chủ tịch nước, các nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nghị quyết của Chính phủ. Dự thảo đồng thời quy định về hiệu lực của các văn bản hiện hành thuộc những hình thức này nhằm tránh tạo khoảng trống pháp luật.
Đối với quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, dự thảo tiếp tục phân định giai đoạn xây dựng chính sách và giai đoạn soạn thảo, bảo đảm liên thông và kế thừa kết quả giữa các giai đoạn.
Dự thảo không quy định bước thẩm định riêng trong quy trình xây dựng chính sách, thay bằng yêu cầu tám cơ quan bắt buộc có ý kiến bằng văn bản đối với hồ sơ chính sách, gồm Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ và Thanh tra Chính phủ. Đối với hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, Bộ Tư pháp vẫn chủ trì phối hợp các bộ, ngành thẩm định trước khi Chính phủ thông qua để trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Cùng với đó, dự thảo đơn giản hóa thành phần hồ sơ, dự kiến cắt giảm khoảng 30% so với quy định hiện hành trong từng giai đoạn. Nội dung hồ sơ được kế thừa, cập nhật giữa các bước, nhất là báo cáo đánh giá tác động khi chính sách thay đổi.
Dự thảo hoàn thiện quy trình thẩm tra, xem xét, thông qua và công bố luật, pháp lệnh; quy định việc xem xét, thông qua luật tại một hoặc nhiều kỳ họp. Với dự thảo pháp lệnh đạt đồng thuận cao và không còn ý kiến khác, dự thảo đề xuất hoàn thiện quy trình xem xét, thông qua ngay tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Một nội dung khác là hoàn thiện thủ tục rút gọn, cơ chế ban hành văn bản trong trường hợp đặc biệt; đề xuất cơ chế để Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp. Dự thảo cũng hoàn thiện quy định về thí điểm chính sách bằng luật, nghị định và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
Ngoài ra, dự thảo hoàn thiện quy định về văn bản quy định chi tiết, nội dung được giao quy định, thủ tục hành chính, thời điểm có hiệu lực và nguyên tắc áp dụng văn bản, nhất là khi nhiều văn bản cùng điều chỉnh một vấn đề.
Rà soát cơ chế xử lý vướng mắc
Dự thảo quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong tổ chức thi hành pháp luật; hoàn thiện hoạt động giải thích, hướng dẫn áp dụng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.
Đặc biệt, dự thảo bổ sung nội dung đánh giá hiệu quả thi hành và phản ứng chính sách để kịp thời phát hiện, xử lý bất cập, lấy kết quả tổ chức thi hành làm căn cứ hoàn thiện pháp luật. Theo Tờ trình, đây là bước chuyển từ đánh giá pháp luật chỉ ở chất lượng văn bản sang hiệu quả trong đời sống.
Về kết quả rà soát thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết các bộ, cơ quan ngang bộ đã tổng hợp 786 phản ánh, kiến nghị về khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật. Đến nay, 556 phản ánh, kiến nghị đã được xử lý, trong đó 44 trường hợp theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206/2025/QH15; còn 230 phản ánh, kiến nghị đang tiếp tục xử lý, trong đó hai trường hợp dự kiến xử lý theo cơ chế này.
Trên cơ sở rà soát và tổng kết thực tiễn, Chính phủ đã ban hành 26 nghị quyết, từ Nghị quyết số 66.1/2025/NQ-CP đến Nghị quyết số 66.26/2026/NQ-CP, để xử lý các vướng mắc gây cản trở phát triển kinh tế - xã hội.
Theo báo cáo của Chính phủ, năm nghị quyết được ban hành theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206 trong năm 2026 về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh đã giúp tiết kiệm 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ, tương đương khoảng 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm cho người dân, doanh nghiệp.
Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, 26 nghị quyết đặt ra yêu cầu nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung 317 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 77 luật, một nghị quyết của Quốc hội, một nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 148 nghị định, bốn quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 83 thông tư, hai thông tư liên tịch và một quyết định của Bộ trưởng.
Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, Ủy ban và các cơ quan của Quốc hội tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật, giữ nguyên phạm vi điều chỉnh và nhất trí tên gọi Luật Văn bản quy phạm pháp luật.
Theo cơ quan thẩm tra, nội dung dự thảo cơ bản phù hợp chủ trương của Đảng, bám sát Nghị quyết số 66-NQ/TW và Kết luận số 09-KL/TW; cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất của hệ thống pháp luật, tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị làm rõ hơn sự phù hợp với Điều 70 của Hiến pháp đối với đề xuất giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh quy định của luật. Đây là nội dung cần tiếp tục được xem xét, hoàn thiện trong quá trình Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật.
Diệp Anh