• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Đồng chí Lê Quang Đạo - Một đời tin ở sức dân

(Chinhphu.vn) - Đồng chí Lê Quang Đạo đã từng nhấn mạnh khi trả lời phỏng vấn: “Khi tách khỏi quần chúng thì không còn sức mạnh”. Đó không chỉ là nhận định của người đứng đầu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mà là kết tinh của một cuộc đời hơn 60 năm gắn bó, sâu sát với cuộc sống của Nhân dân, chiến đấu vì Nhân dân và phát huy và bảo đảm quyền làm chủ thực sự của Nhân dân.

08/08/2026 15:26
Đồng chí Lê Quang Đạo - Một đời tin ở sức dân- Ảnh 1.

Đồng chí Lê Quang Đạo

Từ Đình Bảng, đi vào lòng dân

Đồng chí Lê Quang Đạo, tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyện, sinh ngày 8/8/1921 tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh - vùng quê phát tích vương triều Lý, giàu truyền thống văn hiến, yêu nước và cách mạng.

Đình Bảng là một miền quê cổ kính với Đền Đô, Đình Bảng, một cộng đồng làng xã có truyền thống cố kết bền chặt, nơi người dân coi trọng nghĩa tình, luôn quan tâm, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Khi phong trào cách mạng được truyền bá, chính truyền thống cố kết ấy đã trở thành một nguồn lực đặc biệt. Nhân dân Đình Bảng bảo vệ cán bộ, che chở các cơ quan của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ, góp phần biến quê hương thành một trong những cơ sở cách mạng vững chắc.

Lớn lên trong không gian văn hóa và truyền thống ấy, Nguyễn Đức Nguyện sớm hình thành lòng yêu nước, ý thức về cộng đồng và sự cảm thông với cuộc sống của người lao động. Năm 1938, khi mới 17 tuổi, người thanh niên Đình Bảng đã tham gia phong trào Thanh niên dân chủ. Tháng 8/1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và sau đó được phân công làm Bí thư Chi bộ Đình Bảng. Khi mới khoảng 20 tuổi, đồng chí đã được giao trọng trách Bí thư Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Ninh.

Sự trưởng thành nhanh chóng ấy không chỉ cho thấy bản lĩnh và năng lực tổ chức của một cán bộ trẻ. Điều quan trọng hơn là ngay từ những ngày đầu hoạt động, Lê Quang Đạo đã học cách đi vào quần chúng, tuyên truyền, giác ngộ, xây dựng cơ sở và tổ chức Nhân dân thành lực lượng cách mạng.

Trên cương vị Bí thư Ban Cán sự Đảng Thành phố Hà Nội trong những năm 1943-1944, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo khôi phục tổ chức đảng, mở rộng cơ sở cách mạng, vận động công nhân, trí thức, học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ và các tầng lớp nhân dân tham gia Mặt trận Việt Minh. Đồng chí chú trọng tìm kiếm những hình thức tập hợp phù hợp với từng đối tượng, tôn trọng đặc điểm và khả năng đóng góp của mỗi tầng lớp.

Trong hoàn cảnh mật thám Pháp và phát xít Nhật ráo riết lùng bắt, đồng chí nhiều lần thoát khỏi vòng vây nhờ sự che chở của các cơ sở cách mạng trong Nhân dân. Bất lực trước những hoạt động của người đứng đầu tổ chức Đảng ở Hà Nội, mật thám Pháp gọi đồng chí là "Đốc lý đỏ".

Tên gọi ấy, từ phía kẻ thù, vô tình phản ánh vị thế và ảnh hưởng của người cán bộ cách mạng giữa lòng thành phố. Nhưng phía sau sự mưu trí và gan dạ của "Đốc lý đỏ" là cả một mạng lưới cơ sở quần chúng đã được gây dựng bằng niềm tin, sự gần gũi và những mối liên hệ bền chặt. Đồng chí Lê Quang Đạo hiểu rất sớm rằng người cán bộ có thể hoạt động giữa vòng vây của kẻ thù không chỉ nhờ lòng dũng cảm của cá nhân, mà trước hết nhờ được Nhân dân tin yêu, bảo vệ.

Từ những năm tháng hoạt động bí mật, một nhận thức đã hình thành và theo đồng chí suốt cuộc đời: Một tổ chức cách mạng chỉ có thể đứng vững khi bén rễ trong Nhân dân.

Khơi dậy sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ

Nếu những năm tháng hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám giúp đồng chí Lê Quang Đạo hiểu sức mạnh của quần chúng, thì gần ba thập niên công tác trong quân đội lại giúp đồng chí đi sâu hơn vào một vấn đề căn cốt: sức mạnh của một đội quân trước hết bắt nguồn từ con người, từ lý tưởng, niềm tin và ý chí chiến đấu.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng chí đảm nhiệm nhiều trọng trách trong quân đội, trực tiếp tham gia lãnh đạo công tác đảng, công tác chính trị tại nhiều chiến dịch và chiến trường quan trọng. Từ Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến Chính ủy các chiến dịch, đồng chí luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác giáo dục chính trị, xây dựng tư tưởng và bồi dưỡng ý chí cho cán bộ, chiến sĩ.

Tại Hội nghị Tuyên huấn toàn quân lần thứ nhất, tháng 8/1951, báo cáo do đồng chí trình bày khẳng định: "Công tác chính trị là linh hồn, là mạch sống của bộ đội". Muốn nâng cao sức chiến đấu của quân đội, phải nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ chiến đấu vì ai, vì mục tiêu nào và vì sao nhất định phải giành thắng lợi.

Với đồng chí Lê Quang Đạo, giáo dục chính trị không phải là truyền đạt những lời kêu gọi chung chung, càng không phải áp đặt mệnh lệnh một chiều. Đó là quá trình làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc mục tiêu chiến đấu, biến nhận thức thành niềm tin, biến niềm tin thành ý chí và hành động tự giác. Bởi vậy, đồng chí đặc biệt coi trọng việc bám sát đơn vị, chiến trường và đời sống thực tế của bộ đội. Phong trào "hướng xuống cơ sở", "tất cả xuống đại đội" được đẩy mạnh nhằm giúp cán bộ chính trị nắm chắc diễn biến tư tưởng của chiến sĩ, nhất là trong những thời điểm khó khăn, ác liệt, khi một trận đánh không đạt mục tiêu hoặc đơn vị chịu nhiều thương vong. Chính lúc ấy, công tác tư tưởng phải có mặt, lắng nghe, giải thích, củng cố niềm tin và khơi dậy ý chí vượt qua thử thách.

Từ Chiến dịch Biên giới, Điện Biên Phủ đến các chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào và Trị - Thiên, trên những cương vị khác nhau trong cơ quan chính trị, đơn vị và Bộ Tư lệnh chiến dịch, đồng chí luôn gắn công tác chính trị với nhiệm vụ quân sự, gắn việc động viên tinh thần với chăm lo đời sống và tư tưởng của bộ đội. Đồng chí không chỉ góp phần xây dựng một đội quân biết chiến đấu, mà còn xây dựng một đội quân hiểu sâu sắc mục tiêu chiến đấu vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của Nhân dân.

Các thế hệ cán bộ tuyên huấn quân đội trân trọng gọi đồng chí Lê Quang Đạo là "Anh cả của ngành Tuyên huấn Quân đội". Danh xưng ấy không chỉ ghi nhận những đóng góp về tổ chức và lý luận, mà còn nói lên phong cách của một người lãnh đạo biết khơi dậy sức mạnh từ bên trong mỗi con người.

Từ thực tiễn quân đội, đồng chí Lê Quang Đạo càng tin rằng sức mạnh bền vững không thể chỉ tạo nên bằng cơ cấu tổ chức hay mệnh lệnh. Sức mạnh ấy phải được xây dựng trên sự giác ngộ, đồng thuận, tinh thần trách nhiệm và ý chí tự giác của mỗi thành viên trong tập thể.

Đưa dân chủ vào nghị trường

Ngày 17/6/1987, đồng chí Lê Quang Đạo được Quốc hội khóa VIII bầu làm Chủ tịch Quốc hội. Đó là thời điểm đất nước vừa bước vào công cuộc đổi mới, nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp đặt ra đối với tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như việc xây dựng hành lang pháp lý cho quá trình chuyển đổi.

Từ thực tiễn cách mạng và quân đội, đồng chí mang vào nghị trường một quan niệm nhất quán: quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; Quốc hội phải thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, nơi ý chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân dân được phản ánh trong các quyết định quan trọng của đất nước.

Dưới sự chủ trì của đồng chí, hoạt động lập pháp của Quốc hội khóa VIII được đẩy mạnh, tạo cơ sở pháp lý cho công cuộc đổi mới. Khối lượng luật và pháp lệnh được ban hành trong nhiệm kỳ tăng mạnh so với các khóa trước. Quốc hội tiến hành sửa đổi toàn diện Hiến pháp năm 1980. Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp năm 1992 – bản Hiến pháp thể chế hóa đường lối đổi mới, tạo cơ sở hiến định cho sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Nhưng dấu ấn Lê Quang Đạo không chỉ thể hiện ở số lượng văn bản pháp luật. Điều đồng chí đặc biệt quan tâm là đổi mới lề lối làm việc, mở rộng dân chủ trong hoạt động của Quốc hội và tăng cường trách nhiệm của đại biểu trước cử tri.

Theo đồng chí, hoạt động của Quốc hội cần được công khai để Nhân dân biết, theo dõi và giám sát. Đại biểu Quốc hội phải có điều kiện thảo luận thẳng thắn, thiết thực; những quyết định của Quốc hội phải phản ánh được ý chí và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Khi xem xét tình hình thực hiện kế hoạch, ngân sách nhà nước hoặc những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, đồng chí yêu cầu cơ quan điều hành phải cung cấp đầy đủ thông tin, số liệu để đại biểu có căn cứ phân tích, tranh luận và quyết định.

Một sự kiện thường được nhắc đến như biểu hiện sinh động của tinh thần dân chủ ấy là việc bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng sau khi đồng chí Phạm Hùng từ trần. Khi một số đại biểu đề nghị giới thiệu thêm một ứng cử viên ngoài nhân sự dự kiến, với sự đồng tình của Đảng và sự ủng hộ của các đại biểu, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo đã tán thành đưa cả hai ứng cử viên vào danh sách để Quốc hội lựa chọn. Đó là một quyết định hiếm có trong lịch sử Quốc hội thời kỳ ấy, thể hiện sự tôn trọng quyền lựa chọn của đại biểu và niềm tin vào sự sáng suốt của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Ở đồng chí, dân chủ không phải là sự buông lỏng nguyên tắc. Ngược lại, dân chủ phải gắn với kỷ cương, trách nhiệm, pháp luật và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Dân chủ cũng không dừng lại ở quyền được phát biểu, mà phải được thể chế hóa thành những cơ chế để Nhân dân tham gia, để đại biểu thực hiện đầy đủ trách nhiệm và để các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát.

Từ nghị trường, đồng chí góp phần mở rộng không gian dân chủ, đưa tiếng nói của Nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật và quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia. Với đồng chí Lê Quang Đạo, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ được thực hiện thông qua Quốc hội. Quyền ấy còn phải hiện diện trong đời sống hằng ngày, tại mỗi địa bàn dân cư và trong mối quan hệ trực tiếp giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước và Mặt trận.

Đưa đại đoàn kết và quyền làm chủ về khu dân cư

Đồng chí Lê Quang Đạo có nhiều năm gắn bó với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trước khi được Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IV, tháng 8/1994, hiệp thương cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhận trọng trách đứng đầu Mặt trận trong bối cảnh công cuộc đổi mới đang đặt ra nhiều vấn đề mới, đồng chí dành nhiều tâm huyết suy nghĩ về vị trí của Mặt trận trong hệ thống chính trị và mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.

Theo đồng chí, đại đoàn kết không thể chỉ được nhắc đến như một truyền thống hoặc lời hiệu triệu trong những thời điểm khó khăn. Trong điều kiện mới, đại đoàn kết phải lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc. Muốn tập hợp được rộng rãi các tầng lớp nhân dân, Mặt trận phải thật sự tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ, hợp tác bình đẳng, chân thành và tôn trọng lẫn nhau.

Đồng chí đã trực tiếp tham gia, đóng góp nhiều công sức và trí tuệ vào quá trình xây dựng Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất trong tình hình mới. Nghị quyết đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của Mặt trận trong tình hình mới.

Đồng chí Lê Quang Đạo nhiều lần nhấn mạnh rằng Đảng lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng chứ không làm thay Nhân dân. Với trách nhiệm vừa là thành viên, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, thường xuyên tự phê bình, lắng nghe ý kiến phê bình của Nhân dân và của Mặt trận. Nếu tách khỏi quần chúng, Đảng và Nhà nước sẽ không còn nguồn sức mạnh đã làm nên mọi thắng lợi của cách mạng.

Từ nhận thức ấy, đồng chí yêu cầu Mặt trận phải đổi mới thực chất. Mặt trận phải thật sự tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp được trí tuệ và nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân; phản ánh trung thực ý kiến của Nhân dân với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng chính quyền và giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức.

Mặt trận không chỉ chuyển tải chủ trương từ trên xuống. Mặt trận còn phải lắng nghe từ dưới lên, đưa những tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị và cả những điều Nhân dân chưa đồng tình đến với các cơ quan có trách nhiệm. Chỉ khi làm tốt cả hai chiều ấy, Mặt trận mới thực sự là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.

Một trong những dấu ấn sâu đậm nhất của đồng chí Lê Quang Đạo đối với công tác Mặt trận là việc đề xuất, phát động và chỉ đạo Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư". Để hình thành cuộc vận động, đồng chí không bắt đầu từ một mô hình được thiết kế sẵn trong phòng làm việc. Đồng chí đã lắng nghe ý kiến của cán bộ Mặt trận qua các thời kỳ, đi khảo sát nhiều địa phương như: Sơn La, Lai Châu, Vĩnh Long, Hải Hưng, Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh; tìm hiểu những nơi đã xuất hiện nhân tố mới, cách làm mới hoặc những ý tưởng đang hình thành từ thực tiễn. Trong các cuộc họp của Ban Thường trực, Đoàn Chủ tịch, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí gợi mở vấn đề, khuyến khích đề xuất mới, tạo không khí thảo luận dân chủ và tôn trọng những ý kiến khác nhau. Qua quá trình tìm tòi ấy, một cách làm mang tính nền tảng được xác định: lấy khu dân cư làm địa bàn thực hiện, lấy tự quản làm hình thức phát huy sức dân. Đó là một lựa chọn vừa giản dị vừa sâu sắc. Khu dân cư là nơi đường lối, chính sách gặp gỡ trực tiếp với cuộc sống; nơi người dân cùng sinh sống, cùng chia sẻ lợi ích, cùng đối diện những vấn đề thiết thực và có điều kiện cùng bàn bạc, quyết định, kiểm tra kết quả. Tự quản giúp người dân không chỉ là đối tượng được vận động mà trở thành chủ thể xây dựng cuộc sống của chính mình.

Cuộc vận động được triển khai từ tháng 5/1995. Sau sáu tháng, 20% số khu dân cư trong cả nước đã tổ chức thực hiện có kết quả; sau một năm đạt 40%; đến năm 1998, 84% số khu dân cư đã tổ chức thực hiện có kết quả. Đó không đơn thuần là sự phát triển nhanh chóng của một phong trào, mà còn chứng minh một chủ trương phù hợp đã gặp được nhu cầu và tinh thần tự giác của Nhân dân.

Đồng chí Lê Quang Đạo đặc biệt lưu ý rằng Mặt trận chỉ định hướng những mục tiêu và nội dung chung; việc cụ thể hóa phải phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, từng loại hình khu dân cư và phải được đưa ra để Nhân dân bàn bạc, quyết định. Đánh giá kết quả cũng không thể máy móc, mà phải căn cứ vào điểm xuất phát, điều kiện và những khó khăn cụ thể của mỗi cộng đồng.

Trong cách làm ấy, có thể thấy rất rõ quan niệm của đồng chí về dân chủ: Nhân dân không chỉ được thông báo hoặc được vận động thực hiện, mà phải được tham gia từ khâu bàn bạc, lựa chọn cách làm đến kiểm tra và thụ hưởng kết quả. Việc huy động sức dân phải luôn đi đôi với bồi dưỡng sức dân, chăm lo lợi ích thiết thực của Nhân dân, đúng với tinh thần "lấy sức dân mà xây dựng cuộc sống cho dân".

Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư" đã trở thành cơ sở thực tiễn quan trọng để Mặt trận tiếp tục phát triển, bổ sung nội dung và đổi mới các cuộc vận động ở khu dân cư trong những giai đoạn sau. Di sản mà đồng chí Lê Quang Đạo để lại không chỉ là tên gọi một cuộc vận động, mà quan trọng hơn là một phương thức công tác: trở về với địa bàn dân cư, phát huy tự quản, tôn trọng vai trò chủ thể và khơi dậy nguồn lực sáng tạo của Nhân dân.

Một dấu ấn quan trọng của đồng chí Lê Quang Đạo là việc đề xuất và chỉ đạo xây dựng Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đồng chí nhận thấy nếu không có cơ sở pháp lý đầy đủ thì vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của Mặt trận khó có thể được thực hiện một cách thực chất. Cùng tập thể Đảng đoàn, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí chỉ đạo xây dựng dự thảo luật, làm rõ tính chất, vị trí, vai trò của Mặt trận; mối quan hệ giữa Mặt trận với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị; trách nhiệm tham gia xây dựng Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước và động viên Nhân dân thực hiện quyền làm chủ. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Quốc hội khóa X thông qua ngày 12/6/1999, chỉ hơn một tháng trước khi đồng chí qua đời. Công trình lớn cuối đời ấy như một sự nối tiếp tự nhiên giữa hai chặng đường: từ người Chủ tịch Quốc hội nỗ lực đưa dân chủ vào thể chế đến người đứng đầu Mặt trận xây dựng cơ sở pháp lý để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ và giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước.

Ngay cả trong hai tháng cuối điều trị tại bệnh viện, đồng chí vẫn tiếp tục chỉ đạo, bổ sung báo cáo của Mặt trận và chuẩn bị Đại hội V Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Công việc cuối đời của đồng chí vẫn hướng về Nhân dân, về Mặt trận và từng cộng đồng dân cư - nơi đồng chí luôn tin rằng sức mạnh của đất nước được nuôi dưỡng hằng ngày.

Sức mạnh từ sự chân thành

Trong ký ức của đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp và cộng sự, đồng chí Lê Quang Đạo là một nhà lãnh đạo có tư duy độc lập, sắc sảo, làm việc nguyên tắc và rất kỹ lưỡng nhưng không áp đặt. Đồng chí biết lắng nghe ý kiến khác biệt, khuyến khích tranh luận và luôn cố gắng tìm trong mỗi ý kiến phần hợp lý có thể đóng góp cho công việc chung. Sự dân chủ trong tư tưởng của đồng chí trước hết thể hiện trong cách ứng xử với con người. Đồng chí gần gũi, chân thành, khiêm tốn; không tạo khoảng cách bằng chức vụ, không thích những lời tâng bốc, xu nịnh. Trong công việc, đồng chí chặt chẽ, thẳng thắn nhưng có sức thuyết phục bởi luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.

Con người ấy được hình thành từ quê hương Đình Bảng giàu nghĩa tình, được tôi luyện trong những năm tháng hoạt động bí mật giữa lòng dân, trưởng thành trên chiến trường và tiếp tục được bồi đắp trong quá trình lãnh đạo Quốc hội, Mặt trận. Dù ở cương vị nào, đồng chí vẫn giữ phong cách "nói ít, làm nhiều", coi trọng thực tiễn, tôn trọng tập thể và lấy hiệu quả đối với Nhân dân làm thước đo công việc.

Có lẽ vì vậy, khi nói về đại đoàn kết, đồng chí không chỉ nói bằng lý luận. Chính sự chân thành, cởi mở và khả năng lắng nghe đã tạo nên sức tập hợp ở con người đồng chí Lê Quang Đạo. Đồng chí hiểu rằng muốn đoàn kết được những người khác nhau thì trước hết người cán bộ phải biết vượt qua định kiến, tôn trọng sự khác biệt và lấy lợi ích chung làm điểm gặp gỡ.

Niềm tin còn lại với thời gian

Từ người thanh niên Nguyễn Đức Nguyện của làng Đình Bảng đến "Đốc lý đỏ" giữa lòng Hà Nội; từ vị tướng làm công tác tư tưởng đến Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hành trình của đồng chí Lê Quang Đạo gắn với những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.

Đồng chí đã để lại những dấu ấn trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng quân đội, đổi mới hoạt động Quốc hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng Mặt trận. Nhưng sâu xa hơn những chức vụ và công việc cụ thể là một phương pháp lãnh đạo nhất quán: đi vào Nhân dân để hiểu thực tiễn; lắng nghe Nhân dân để điều chỉnh chủ trương; tin vào Nhân dân để khơi dậy sức sáng tạo; dựa vào Nhân dân để biến đường lối thành hành động.

Hơn 30 năm qua, câu nói "khi tách khỏi quần chúng thì không còn sức mạnh" vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc. Trong điều kiện đất nước tiếp tục đổi mới và phát triển, lợi ích, nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ngày càng đa dạng; yêu cầu đặt ra đối với Mặt trận không chỉ là mở rộng tập hợp mà còn phải nâng cao năng lực đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện tốt giám sát, phản biện xã hội; đưa dân chủ đi vào những vấn đề cụ thể của đời sống.

Học tập đồng chí Lê Quang Đạo không chỉ là nhắc lại những quan điểm của đồng chí về dân chủ và đại đoàn kết. Điều quan trọng hơn là tiếp nối phong cách đi sâu vào cơ sở, tôn trọng những ý kiến khác biệt, nói thật với dân, lắng nghe dân và kiên trì xây dựng các cơ chế để Nhân dân thực sự tham gia, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển.

Một đời tin ở sức dân, đồng chí Lê Quang Đạo đã để lại một lời nhắc nhở giản dị mà sâu sắc: nơi nào có dân chủ thực chất, nơi đó sức dân được khơi dậy; nơi nào Đảng, Nhà nước và Mặt trận gắn bó mật thiết với Nhân dân, nơi đó cách mạng có cội nguồn sức mạnh bền vững./.

Chu Văn Khánh