• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất)

(Chinhphu.vn) - Bộ Tài chính đang dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất).

15/09/2026 17:24
Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất)- Ảnh 1.

Bộ Tài chính đang dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất)

Bộ Tài chính cho biết, Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 (Luật Ngân sách nhà nước năm 2025) được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025, có hiệu lực từ năm ngân sách 2026, đã tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách; ưu tiên nguồn lực cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đơn giản hóa thủ tục thanh toán, quyết toán, rút ngắn thời gian quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN),… Đến nay, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành các Nghị quyết, Nghị định, Thông tư hướng dẫn để đảm bảo cơ sở pháp lý triển khai Luật từ năm ngân sách 2026.

Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15, có hiệu lực từ 01/01/2025, được sửa đổi bổ sung tại Luật số 90/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội, đã tập trung đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nhằm khắc phục các "điểm nghẽn" trong giải ngân kế hoạch đầu tư công.

Trong triển khai thực hiện các quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công liên quan đến chi đầu tư công vẫn còn một số bất cập, hạn chế. Luật Ngân sách nhà nước điều chỉnh quá trình lập, phân bổ, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, công khai và giám sát ngân sách, bao gồm cả chi NSNN cho đầu tư công. Trong khi đó, Luật Đầu tư công điều chỉnh toàn bộ quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, từ lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, lập và giao kế hoạch vốn, triển khai thực hiện đến nghiệm thu, bàn giao và quyết toán vốn dự án.

Như vậy, đối với một khoản vốn đầu tư công từ NSNN, vừa chịu sự điều chỉnh của quy trình NSNN, vừa chịu sự điều chỉnh của quy trình đầu tư công. Thực tiễn này làm phát sinh sự giao thoa về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thời hạn và trách nhiệm trong khâu lập, giao dự toán NSNN với khâu lập, giao kế hoạch vốn đầu tư công, cũng như trong quá trình thanh toán, quyết toán, kiểm tra, giám sát vốn đầu tư công. Các cơ quan, đơn vị phải thực hiện nhiều quy trình, thủ tục, trùng lặp, xin ý kiến nhiều cơ quan, cấp, ngành có liên quan.

Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được xây dựng trên kết cấu, bố cục của Luật NSNN năm 2025, đối với những nội dung của Luật Đầu tư công được giản lược, lồng ghép và đưa vào các chương, điều, khoản tương ứng của dự thảo Luật, nội dung đặc thù về chương trình, nhiệm vụ, dự án đầu tư công được quy định tại chương riêng. Theo đó, dự thảo Luật có 10 chương, 102 điều.

Bên cạnh các nội dung kế thừa Luật NSNN và Luật Đầu tư công, dự thảo đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung. Cụ thể:

Các nội dung sửa đổi, hoàn thiện

(1) Sửa đổi, bổ sung quy định về áp dụng pháp luật: (i) Quy định rõ việc quản lý, sử dụng vốn NSNN đầu tư tại doanh nghiệp theo Luật này và pháp luật về đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; (ii) Quy định rõ đối vốn đầu tư từ nguồn thu hợp pháp của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, không thuộc phạm vi vốn đầu tư công, được điều chỉnh theo quy định của Chính phủ và quy định của pháp luật khác có liên quan; (iii) Bổ sung quy định về việc quản lý, sử dụng vốn NSNN tại các dự án PPP thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về đầu tư dự án PPP.

(2) Sửa đổi các khái niệm về chi đầu tư phát triển, dự phòng ngân sách, kết dư ngân sách, chương trình mục tiêu quốc gia, vốn đầu tư công, kế hoạch vốn đầu tư công hằng năm (thành dự toán chi đầu tư công hằng năm).

(3) Sửa đổi, bổ sung các quy định về nguồn thu của NSTW, NSĐP (thu chênh lệch thu chi Ngân hàng Nhà nước, thu từ khai thác quỹ đất khu vực TOD đường sắt); sử dụng bội chi NSĐP cho đầu tư; phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN giữa các cấp ngân sách ở địa phương; nguyên tắc khi ban hành chính sách, chế độ mới và trách nhiệm của ngân sách các cấp ban hành; xác định số bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới.

(4) Sửa đổi, bổ sung các quy định sử dụng dự phòng cho các dự án ngoài danh mục và mức chi đầu tư công 05 năm; sử dụng nguồn tăng thu, dự toán chi còn lại cho các chương trình, nhiệm vụ quan trọng.

(5) Sửa đổi, bổ sung thời gian tạm ứng, điều kiện tạm ứng từ Quỹ dự trữ tài chính.

(6) Sửa đổi quy định về Kế hoạch tài chính 05 năm theo hướng: (i) Xây dựng Chương riêng về Kế hoạch tài chính 05 năm, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, căn cứ, yêu cầu lập, nội dung báo cáo, phê duyệt và việc điều chỉnh Kế hoạch tài chính 05 năm; (ii) Tích hợp các nội dung của "Kế hoạch đầu tư công 05 năm" thành "Danh mục và mức chi đầu tư công 05 năm", lồng ghép thành một nội dung trong Kế hoạch tài chính 05 năm để tạo cơ sở pháp lý, gắn kết chặt chẽ đầu tư công 05 năm vào khả năng khuôn khổ cân đối nguồn lực tài chính, quản lý rủi ro tài khóa theo Kế hoạch tài chính 05 năm.

Kế hoạch tài chính 05 năm không còn chỉ là Kế hoạch "tĩnh" mà mang tính "động", có thể được điều chỉnh nhằm bám sát và phù hợp với các biến động về kinh tế - xã hội, cân đối nguồn lực tài chính, NSNN hoặc yêu cầu triển khai của giai đoạn. Đối với chi đầu tư công, bên cạnh việc lồng ghép vào kế hoạch tài chính 05 năm thì vẫn có quy định điều chỉnh riêng nhằm bảo đảm yêu cầu quản lý đối với khoản chi này.

(7) Sửa đổi quy định, tích hợp Kế hoạch đầu tư công hằng năm vào dự toán chi đầu tư công hằng năm để thống nhất về quản lý trong toàn bộ quy trình NSNN cho đầu tư công, từ khâu lập, phân bổ, giao, chấp hành, quyết toán và công khai, giám sát NSNN.

(8) Sửa đổi, bổ sung một số nội dung để phù hợp với nội dung hợp nhất 02 Luật, bao gồm: (i) Nhiệm vụ chi của NSTW, NSĐP; (ii) Yêu cầu lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm; (iii) Yêu cầu và thời hạn về phân bổ và giao dự toán NSNN; (iv) Điều chỉnh dự toán NSNN và dự toán đã giao cho các đơn vị sử dụng NSNN; (v) Công khai NSNN và giám sát NSNN của cộng đồng.

(9) Sửa đổi quy định về các nhiệm vụ chi ngân sách được bố trí dự toán từ 02 nguồn, theo hướng: Phân rõ nhiệm vụ chi theo nhóm nhiệm vụ, đối tương được bố trí từ nguồn chi đầu tư phát triển khác và chi thường xuyên, và Điều kiện để bố trí là chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt bố trí hoặc bố trí chưa đủ từ nguồn chi đầu tư công.

(10) Sửa đổi quy định về thời gian lập, xây dựng, tổng hợp, quyết định và giao dự toán NSNN theo hướng: (i) Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp thường lệ cuối năm (không quy định thời hạn cụ thể); (ii) Điều chỉnh thời hạn Thủ tướng Chính phủ giao dự toán từ ngày 20/11 thành ngày 30/11.

(11) Sửa đổi quy định về tổ chức chi NSNN theo hướng: (i) Bổ sung quy định thời hạn chi, tạm ứng (chậm nhất đến hết 31/12); xử lý dư dự toán chi, dư tạm ứng cuối năm; (ii) Bổ sung trách nhiệm kiểm tra tổ chức chi của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước.

(12) Sửa đổi quy định về xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ NSNN theo hướng bổ sung, tách quy định cho ngân sách cấp xã; chỉnh nguồn tạm ứng và thời hạn hoàn trả (trong vòng 12 tháng).

(13) Sửa đổi quy định về xử lý thu, chi NSNN cuối năm và chuyển nguồn NSNN theo hướng: (i) Bổ sung quy định trong thời gian chỉnh lý quyết toán được tiếp tục thanh toán các khoản tạm ứng đã đủ điều kiện chi ngân sách, thanh toán khối lượng nhiệm vụ được giao trong dự toán chi, bao gồm cả các khoản bổ sung trong năm, ngân sách đã thực hiện từ ngày 31 tháng 12 trở về trước và được hạch toán, quyết toán vào ngân sách năm giao dự toán. (ii) Rà soát, thu hẹp đối tượng được chuyển nguồn NSNN (đối với chi đầu tư công, chi thực hiện các chính sách an sinh xã hội); (iii) Thống nhất thời gian thực hiện chi cho các khoản được chuyển nguồn đến không quá ngày 31/12 năm sau, trừ các khoản kinh phí thực hiện chính sách tiền lương, phụ cấp, trợ cấp và các khoản tính theo tiền lương;

(14) Sửa đổi quy định về thời hạn và trình tự quyết toán NSNN: (i) Điều chỉnh thời hạn Đơn vị dự toán cấp I/UBND cấp tỉnh gửi báo cáo trước ngày 05/7 thành ngày 10/7; Bộ Tài chính trình ngày 15/8 thành ngày 20/8; (ii) Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn quyết toán tại kỳ họp thường lệ cuối năm.

Các nội dung bổ sung mới

(1) Bổ sung khái niệm về kế hoạch tài chính 05 năm, nhiệm vụ chi đầu tư công để thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, thực hiện nhiệm vụ quy hoạch, thực hiện dự án, thời gian bố trí vốn thực hiện dự án.

(2) Bổ sung quy định về việc Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh danh mục và mức chi đầu tư công 05 năm của các chương trình, dự án, nhiệm vụ chưa đủ điều kiện để triển khai thực hiện, giải ngân dự toán hằng năm, bổ sung danh mục các chương trình, nhiệm vụ, dự án mới đã hoàn thiện thủ tục đầu tư, có thể thực hiện giải ngân dự toán hằng năm (nếu có) theo quy định nhằm có cơ chế đánh giá, điều chuyển linh hoạt vốn giữa các nhiệm vụ, dự án, đối tượng đầu tư công để phát huy tối đa hiệu quả nguồn vốn, tránh tình trạng "giữ vốn".

(3) Bổ sung quy định về đánh giá hiệu quả đầu tư công, trong đó bổ sung:

Nguyên tắc các chương trình, dự án, nhiệm vụ phải được đánh giá hiệu quả đầu tư xuyên suốt trong quá trình lập, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện và vận hành, khai thác sau đầu tư. Việc đánh giá hiệu quả đầu tư gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực cơ sở hạ tầng, mức độ cải thiện đời sống và an sinh xã hội mà nhân dân được thụ hưởng; quy trình đánh giá hiệu quả đầu tư thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện đánh giá hiệu quả trong đầu tư công từ khâu đề xuất, xây dựng dự án và trong tổ chức thực hiện, giải ngân vốn theo đúng dự toán được giao.

Nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở trung ương về ban hành, hướng dẫn tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.

Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư trong việc tổ chức quản lý, thực hiện chương trình, dự án đầu tư công bảo đảm đúng mục tiêu, tiến độ, chất lượng và hiệu quả của chương trình, dự án; quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước chi đầu tư công và tổ chức thực hiện giải ngân đúng dự toán được giao; báo cáo, cung cấp thông tin về chương trình, dự án theo quy định.

Quyền, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, như Ban quản lý dự án, tổ chức tư vấn thiết kế, cơ quan, tổ chức thẩm định chương trình, dự án.

(4) Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong việc: (i) Xây dựng, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về Quy chế thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia, dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW và phê chuẩn quyết toán NSNN hằng năm; (ii) Quy định quy chế thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 05 năm tỉnh, thành phố, dự toán và phân bổ, phê chuẩn quyết toán NSĐP hằng năm.

(5) Bổ sung trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ trong: (i) Tổng hợp và đề xuất, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định phân bổ theo thẩm quyền từ các nguồn dự toán chưa phân bổ chi tiết, dự phòng, tăng thu và dự toán chi còn lại của NSTW bố trí cho các nhiệm vụ chi thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (ii) Hướng dẫn, tổng hợp và đề xuất tổng mức chi đầu tư công 05 năm nguồn NSNN cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bao gồm NSTW và NSĐP; danh mục và mức chi đầu tư công 05 năm nguồn NSTW cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương để phù hợp với Nghị quyết số 57/NQ-TW và quy định pháp luật có liên quan.

(6) Bổ sung quy định về việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý NSNN để phù hợp với Nghị quyết số 57/NQ-TW và yêu cầu quản lý.

(7) Bổ sung nguyên tắc quản lý khoản vay của NSNN được cân đối chung vào quỹ NSNN để sử dụng cho đầu tư phát triển và đảm bảo nguyên tắc vay nợ theo quy định của pháp luật.

(8) Bổ sung nguyên tắc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách cấp tỉnh và cấp xã về ổn định tỷ lệ phân chia lâu dài, bảo đảm nguồn lực cho ngân sách cấp xã chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao; cơ chế điều chỉnh tỷ lệ khi có biến động.

(9) Bổ sung quy định cho phép sử dụng số thu thực hiện vượt dự toán được Quốc hội, HĐND quyết định trong quá trình chấp hành dự toán NSNN.

(10) Bổ sung nội dung sử dụng dự phòng, Quỹ dự trữ tài chính và nguồn tăng thu, dự toán chi còn lại của cấp ngân sách để chi ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp vì lợi ích quốc gia, dân tộc, ổn định kinh tế vĩ mô để phù hợp với thực tế triển khai.

Dự thảo đang được lấy ý kiến góp ý trên Cổng TTĐT Bộ Tài chính./.