Đưa đặc sản vùng cao đi xa bằng khoa học-công nghệ
(Chinhphu.vn) - Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương mại điện tử đang trở thành những công cụ quan trọng giúp nâng cao giá trị, mở rộng thị trường và đưa đặc sản, sản phẩm vùng cao tiếp cận người tiêu dùng rộng hơn.

Thương mại điện tử đang bước vào giai đoạn mà hoạt động bán hàng đòi hỏi ngày càng chuyên nghiệp
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sở hữu nhiều sản vật có chất lượng, bản sắc và giá trị riêng nhờ điều kiện tự nhiên, nguồn nguyên liệu bản địa và tri thức sản xuất được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Tuy nhiên, quá trình phát triển các sản phẩm này còn gặp những hạn chế về năng suất, quy mô, kiểm soát chất lượng, công nghệ chế biến, bảo quản và khả năng tiếp cận thị trường. Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có thể góp phần tháo gỡ điểm nghẽn trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất đến chế biến, bảo quản, truy xuất nguồn gốc và phân phối.
Công nghệ phải giải quyết đúng bài toán của địa phương
Theo ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp, điểm nghẽn lớn hiện nay không đơn thuần là thiếu máy móc hay công nghệ hiện đại mà là thiếu hệ thống công nghệ đồng bộ, phù hợp với quy mô và điều kiện từng vùng.
Thực tế, nhiều nơi vẫn sản xuất phân tán, giống và quy trình canh tác chưa được chuẩn hóa, chất lượng nguyên liệu chưa ổn định. Sau thu hoạch, tổn thất còn cao do thiếu công nghệ sơ chế, sấy, bảo quản và chế biến phù hợp. Dữ liệu về vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và kết nối thị trường còn hạn chế. Vì vậy, nhiều sản vật dù có giá trị văn hóa và chất lượng tốt vẫn chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô, sản lượng không ổn định và khó tạo giá trị gia tăng cao.
Theo ông Tiến, khoa học công nghệ có thể tạo chuyển biến rõ nhất ở 4 khâu: chuẩn hóa giống và quy trình canh tác; cơ giới hóa và giám sát chất lượng; đầu tư vào sơ chế, bảo quản, chế biến sâu; số hóa vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, kiểm nghiệm và tiêu chuẩn hóa sản phẩm.
“Quan điểm của chúng tôi là không chạy theo công nghệ đắt tiền. Công nghệ tốt phải giải quyết đúng bài toán của địa phương, sử dụng được trong điều kiện thực tế và tạo ra hiệu quả kinh tế có thể đo lường”, ông Tiến nhấn mạnh.
Ông Tiến cho rằng chuyển giao công nghệ cũng không nên chỉ dừng ở bàn giao máy móc hoặc tài liệu kỹ thuật mà cần đồng hành từ thiết kế mô hình, thử nghiệm, đo lường hiệu quả, điều chỉnh quy trình đến đào tạo thực hành tại chỗ. Hiệu quả cần được đánh giá qua tỷ lệ người dân áp dụng, mức giảm chi phí và tổn thất, tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn, khả năng tiêu thụ và thu nhập tăng thêm.
“Chỉ khi mô hình tự vận hành được sau thời gian hỗ trợ thì chuyển giao mới thực sự thành công”, ông Tiến nói.
Khoảng cách về kỹ năng số
Bà Trần Thị Thúy, Giám đốc Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm cho biết, Hợp tác xã có 30 ha thanh long ruột đỏ. Nhận thấy thanh long có thời điểm rớt giá khi được mùa và khó bảo quản lâu, bà nghiên cứu sản phẩm có khả năng bảo quản, vận chuyển xa hơn và cho ra đời mì gạo thanh long.
Sau khi đầu tư dây chuyền sản xuất công nghiệp để nâng cao năng suất, giảm nhân công, Hợp tác xã tiếp tục gặp khó khăn về nhân lực. Với 20 hộ thành viên, nhiều người đã có tuổi, khả năng sử dụng điện thoại thông minh còn hạn chế, trong khi sản xuất yêu cầu ghi nhật ký để kiểm tra, kiểm soát nguyên liệu. Việc vận hành dây chuyền cũng cần nhân lực có chuyên môn.
Bên cạnh đó là bài toán cân đối giữa sản xuất và thị trường. Sản xuất nhiều nhưng không tiêu thụ được sẽ dẫn đến tồn kho, trong khi sản xuất quy mô nhỏ có thể không đáp ứng đơn hàng, ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng.
Thương mại điện tử cũng đặt ra những yêu cầu mới. Theo bà Thúy, Hợp tác xã có thể quay, đăng sản phẩm trên các nền tảng số nhưng chưa biết cách vận hành hiệu quả do mỗi nền tảng có những quy định riêng.
Ông Bùi Quang Cường, Trưởng Ban Phát triển nguồn nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam nhận định, mức độ tiếp cận công nghệ số của đồng bào dân tộc thiểu số chưa đồng đều. Công nghệ giúp người ở khu vực xa xôi có thể bán hàng trên phạm vi toàn quốc, thậm chí ra nước ngoài, nhưng đồng thời tạo ra yêu cầu mới về kỹ năng số.
“Tôi nghĩ rằng, khoảng cách địa lý thì xóa mờ, nhưng khoảng cách về kỹ năng số có khi lại đang tăng lên”, ông Cường nhận định.
Theo ông Cường, bán hàng trên thương mại điện tử ngày càng đòi hỏi tính chuyên nghiệp. Một sản phẩm tốt chưa đủ để thành công trên môi trường số; chủ thể sản xuất còn phải hoàn thiện bao bì, nhãn mác, câu chuyện sản phẩm, xác định khách hàng mục tiêu và lựa chọn kênh tiếp cận phù hợp.
Sau khi tiếp cận khách hàng, người bán phải giải quyết các khâu định giá, vận chuyển, logistics, thanh toán và chăm sóc khách hàng.
“Muốn thành công trên thương mại điện tử, không phải đơn thuần chỉ là có một sản phẩm tốt, mà chúng ta phải biết cách tận dụng cả một hệ sinh thái và biết cách vận hành thì mới có thể đưa sản phẩm ra thị trường tốt hơn”, ông Cường nói.
Niềm tin của người tiêu dùng cũng là yếu tố quan trọng. Truy xuất nguồn gốc, minh bạch thông tin về quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm vì vậy càng cần được chú trọng khi đặc sản vùng cao bước lên môi trường số.
Theo đại diện Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, thời gian tới cần tiếp tục phát triển hệ sinh thái thương mại điện tử, phối hợp với cơ quan quản lý và địa phương để tập huấn, nâng cao kỹ năng số, chuẩn bị nguồn nhân lực và thúc đẩy bán hàng xuyên biên giới.
Về công nghệ, ông Phạm Quyết Tiến cho rằng các giải pháp thời gian tới cần được triển khai theo chuỗi giá trị thay vì những nhiệm vụ công nghệ đơn lẻ. Mỗi sản phẩm chủ lực cần gắn với vùng nguyên liệu, quy trình kỹ thuật, đầu mối tổ chức sản xuất và phương án thị trường rõ ràng.
Việc nhân rộng mô hình cũng không nên sao chép nguyên trạng từ địa phương này sang địa phương khác mà cần chuẩn hóa những yếu tố cốt lõi, đồng thời điều chỉnh cách vận hành phù hợp với điều kiện từng nơi.
Anh Thơ