• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Gia tăng dư địa ngân sách từ chiến lược hải quan biên giới

(Chinhphu.vn) - Chiếm hơn 28% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước, Trung Quốc, Lào và Campuchia là những thị trường có vai trò quan trọng đối với hoạt động thương mại của Việt Nam. Việc tăng cường hợp tác giữa cơ quan Hải quan Việt Nam với hải quan các nước láng giềng đang đem lại hiệu quả kép: vừa rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, vừa tạo dư địa tăng thu cho ngân sách.

03/11/2026 18:30

Với hơn 4.700 km đường biên giới trên đất liền cùng hệ thống cửa khẩu, lối mở trải dài qua nhiều địa phương, Việt Nam có quan hệ giao thương mật thiết với Trung Quốc, Lào và Campuchia. Quy mô trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam với ba quốc gia này chiếm hơn 28% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.

Đây không chỉ là những thị trường thương mại quan trọng mà còn đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp giữa cơ quan Hải quan các nước trong quản lý, giám sát hàng hóa và bảo đảm hoạt động xuất nhập khẩu thông suốt.

Gia tăng dư địa ngân sách từ chiến lược hải quan biên giới - Ảnh 1.

Hội nghị Tổng cục trưởng Hải quan Việt Nam - Lào năm 2026. Ảnh: Cục Hải quan

Đa dạng hóa phương thức hợp tác phù hợp với từng đối tác

Trên cơ sở đặc điểm địa bàn, quy mô thương mại và yêu cầu quản lý, Hải quan Việt Nam triển khai các nội dung hợp tác song phương theo hướng thiết thực, phù hợp với từng đối tác.

Với Trung Quốc, trọng tâm là trao đổi thông tin, hiện đại hóa quản lý và thúc đẩy mô hình Cửa khẩu thông minh.

Với Campuchia, hoạt động phối hợp tập trung vào thực thi pháp luật, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại và tạo thuận lợi cho hàng hóa qua biên giới.

Trong khi đó, hợp tác với Lào chú trọng trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin và hỗ trợ nâng cao năng lực nghiệp vụ. Các hoạt động hợp tác được triển khai từ cấp trung ương đến các đơn vị hải quan tại cửa khẩu, tạo cơ chế phối hợp thường xuyên trong xử lý các vấn đề phát sinh.

Việc duy trì trao đổi thông tin giữa cơ quan Hải quan hai bên giúp kịp thời tháo gỡ vướng mắc, hạn chế nguy cơ ùn tắc hàng hóa, đồng thời nâng cao hiệu quả kiểm soát đối với các hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới.

Hiệu quả thể hiện ở những con số biết nói

Trong quan hệ hợp tác với Trung Quốc, một trong những nội dung đáng chú ý hiện nay là thúc đẩy xây dựng mô hình Cửa khẩu thông minh trên tuyến biên giới đường bộ.

Theo đó, Hải quan khu vực VI (Hải quan Việt Nam) và Hải quan Nam Ninh (Hải quan Trung Quốc) đang tích cực phối hợp để sớm đưa mô hình này vào vận hành tại cặp cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị - Hữu Nghị Quan. Đây được kỳ vọng là bước tiến trong hiện đại hóa hoạt động quản lý, kiểm soát hải quan, góp phần rút ngắn thời gian thông quan và nâng cao năng lực lưu chuyển hàng hóa giữa hai nước.

Tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, công tác phối hợp song phương được duy trì thường xuyên, đặc biệt trong những thời điểm cao điểm xuất nhập khẩu nông sản.

Bà Hà Thị Kim Dung, Đội trưởng Hải quan cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Chi cục Hải quan khu vực VI) cho biết, đơn vị chú trọng phối hợp điều tiết, phân luồng hàng hóa theo hướng ưu tiên giải quyết nhanh đối với các mặt hàng nông sản theo mùa vụ. Cùng với đó, việc trao đổi thông tin về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại với Hải quan Trung Quốc được duy trì, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tại cửa khẩu.

Theo bà Hà Thị Kim Dung, kết quả phối hợp và tạo thuận lợi thương mại đã góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn. Năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị tăng 80% so với cùng kỳ năm 2025; số thu ngân sách đạt 9.300 tỷ đồng, cũng tăng 80% so với cùng kỳ năm 2025.

Không chỉ tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, cơ chế hợp tác giữa Hải quan khu vực VI với Hải quan Nam Ninh còn được duy trì tại nhiều cặp cửa khẩu khác như Chi Ma - Ái Điểm, Tân Thanh - Pò Chài, Cốc Nam - Lũng Nghịu và ga đường sắt quốc tế Đồng Đăng…

Việc trao đổi thông tin thường xuyên từ cấp cơ sở giúp hai bên chủ động phối hợp xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, nhất là đối với hàng hóa thông thường, qua đó hạn chế những vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ thông quan.

Ông Nguyễn Văn Hoàn, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực VI cho biết, trao đổi thông tin, hợp tác kết nối với Hải quan Nam Ninh được xác định là một trong những nội dung hợp tác thường xuyên, liên tục. Đặc biệt, trong quá trình triển khai Đề án Cửa khẩu thông minh, hai bên tăng cường trao đổi để kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp hai nước.

Hiệu quả của việc kết hợp giữa tạo thuận lợi thương mại và phối hợp quản lý thể hiện rõ qua kết quả hoạt động của Hải quan khu vực VI. Đến nay, số thu ngân sách nhà nước của Hải quan khu vực VI đã vượt 19.000 tỷ đồng, cao hơn 2 lần chỉ tiêu pháp lệnh cả năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn chiếm khoảng 11% tổng kim ngạch của cả nước. Đáng chú ý, địa bàn đã thu hút khoảng 72.000 doanh nghiệp tham gia thực hiện thủ tục hải quan.

Kết quả trên cho thấy, khi các cơ chế phối hợp được duy trì hiệu quả, hoạt động thông quan được cải thiện, chi phí và thời gian thực hiện thủ tục của doanh nghiệp có điều kiện giảm xuống. Đây cũng là cơ sở để mở rộng quy mô giao thương, thu hút doanh nghiệp về làm thủ tục, qua đó tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.

Gia tăng dư địa ngân sách từ chiến lược hải quan biên giới - Ảnh 2.

Công chức Hải quan cửa khẩu quốc tế Mộc Bài phối hợp với lực lượng biên phòng kiểm tra hàng hóa xuất khẩu sang Campuchia.

Phối hợp kiểm soát, bảo đảm nguồn thu

Cùng với thúc đẩy thông quan, hợp tác hải quan với các nước láng giềng còn có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh với các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển hàng hóa vi phạm pháp luật qua biên giới. Đây là yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hoạt động giao thương ngày càng sôi động, phương thức và thủ đoạn vi phạm ngày càng phức tạp.

Theo đại diện Văn phòng Cục Hải quan, thời gian qua, Hải quan Việt Nam đã đẩy mạnh hợp tác với các nước láng giềng trên nhiều phương diện, từ đơn giản hóa quy trình, thủ tục hải quan đến ứng dụng công nghệ, hệ thống hiện đại trong quản lý.

Đối với Trung Quốc, bên cạnh mục tiêu tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước, hai bên chú trọng trao đổi thông tin phục vụ phòng, chống buôn lậu, bảo vệ an ninh kinh tế và quyền lợi người tiêu dùng, nhất là trong đấu tranh với hàng giả, hàng nhái và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Với Lào và Campuchia, việc trao đổi thông tin giữa cơ quan Hải quan các nước được tăng cường nhằm hỗ trợ hoạt động lưu thông hàng hóa, đồng thời chủ động nhận diện, ngăn chặn các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại ngay từ sớm, từ xa. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát trên tuyến biên giới, hạn chế những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình giao thương.

Có thể thấy, hợp tác hải quan với các nước láng giềng không chỉ dừng lại ở việc giải quyết các vấn đề nghiệp vụ tại cửa khẩu mà đang từng bước mở rộng sang kết nối thông tin, hiện đại hóa phương thức quản lý và phối hợp thực thi pháp luật.

Trong đó, yêu cầu đặt ra là phải hài hòa giữa tạo thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ hàng hóa, bảo đảm hoạt động xuất nhập khẩu phát triển nhưng không làm gia tăng nguy cơ vi phạm pháp luật.

Đối với Hải quan Việt Nam, đây cũng là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan, cải thiện môi trường kinh doanh và khai thác hiệu quả nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu.

Khi thời gian thông quan được rút ngắn, thủ tục được đơn giản hóa và các vướng mắc phát sinh được xử lý kịp thời, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và lựa chọn các cửa khẩu của Việt Nam làm địa điểm thực hiện thủ tục.