• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Gỡ các điểm nghẽn để mở rộng không gian kinh tế biển

(Chinhphu.vn) - Mở rộng không gian phát triển kinh tế biển không chỉ là khai thác thêm tiềm năng, lợi thế từ biển, mà còn đòi hỏi đổi mới phương thức quản trị, hoàn thiện thể chế và tổ chức lại các hoạt động kinh tế theo hướng liên kết, hiện đại, bền vững. Quy hoạch đồng bộ, dữ liệu thống nhất và cơ chế phân định rõ trách nhiệm sẽ là những điều kiện quan trọng để khơi thông nguồn lực, hình thành các động lực tăng trưởng mới từ biển.

29/10/2026 17:45
Mở rộng không gian kinh tế biển: Gỡ điểm nghẽn để khơi thông nguồn lực - Ảnh 1.

Quảng Ninh định hướng bố trí 5 vùng nuôi với tổng diện tích 93.600 ha, từng bước dịch chuyển hoạt động nuôi ra xa bờ nhằm giảm áp lực môi trường

Chuyển từ khai thác tiềm năng sang tổ chức không gian phát triển

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển, từ thủy sản, cảng biển, logistics đến năng lượng tái tạo và du lịch. Tuy nhiên, để biến lợi thế tự nhiên thành giá trị kinh tế cao hơn, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô đầu tư mà còn phải tổ chức lại không gian sử dụng biển, bảo đảm sự kết nối giữa các ngành, lĩnh vực và hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái.

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển từ quản lý biển theo từng lĩnh vực sang quản trị biển hiện đại, tổng hợp, thống nhất, dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu số.

Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển. Khi nhiều hoạt động cùng khai thác một không gian biển, từ nuôi trồng thủy sản, giao thông hàng hải đến năng lượng và du lịch, việc thiếu quy hoạch chi tiết hoặc cơ chế phối hợp hiệu quả có thể dẫn đến chồng lấn trong sử dụng tài nguyên, gia tăng chi phí đầu tư và gây áp lực lên môi trường.

Thực tiễn phát triển nuôi biển tại Quảng Ninh cho thấy rõ yêu cầu này. Theo ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND TP. Quảng Ninh, thủy sản chiếm trên 45% giá trị toàn ngành nông nghiệp của địa phương, trong đó nuôi trồng đóng góp khoảng 60% tổng sản lượng thủy sản.

Địa phương đã ban hành đề án phát triển nuôi trồng thủy sản tập trung theo hướng công nghiệp, hiện đại, định hướng bố trí 5 vùng nuôi với tổng diện tích 93.600 ha, từng bước dịch chuyển hoạt động nuôi ra xa bờ nhằm giảm áp lực môi trường.

Đến tháng 9/2026, Quảng Ninh đã giao hơn 4.692 ha mặt biển cho 57 tổ chức và 517 ha cho 807 cá nhân. Tuy nhiên, quá trình phát triển vẫn gặp những hạn chế như thiếu quy hoạch chi tiết về không gian nuôi, xung đột giữa các đối tượng nuôi và khó khăn trong đánh giá sức tải môi trường.

Đối với hàu Thái Bình Dương, mật độ nuôi cao trong khi nghiên cứu về nguồn thức ăn tự nhiên còn hạn chế đã ảnh hưởng đến năng suất. Năng lực sản xuất giống tại chỗ mới đáp ứng khoảng 34% nhu cầu; công nghệ chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, xử lý chất thải và hệ thống truy xuất nguồn gốc cũng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển.

Theo ông Nguyễn Văn Công, muốn nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị hàu Thái Bình Dương, không chỉ mở rộng diện tích nuôi mà phải chuyển mạnh từ phát triển theo kinh nghiệm sang phát triển dựa trên khoa học công nghệ, dữ liệu và quản trị hiện đại.

Từ thực tiễn này, bài toán mở rộng không gian kinh tế biển cần được nhìn nhận theo hướng tổng thể hơn: Không gian mới phải đi cùng năng lực quản trị mới; quy mô đầu tư phải gắn với hiệu quả sử dụng tài nguyên; phát triển ngành nghề phải dựa trên sức chịu tải của hệ sinh thái và khả năng liên kết với các hoạt động kinh tế khác.

Hoàn thiện thể chế, dữ liệu để khơi thông nguồn lực

Một trong những điều kiện quan trọng để mở rộng không gian phát triển kinh tế biển là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển được điều phối thống nhất, minh bạch và có thể dự báo.

Ở góc độ giám sát và hoàn thiện chính sách, bà Nguyễn Thanh Hải, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên, nhấn mạnh yêu cầu quản trị biển phải thống nhất theo không gian, thay vì phân tán theo ngành; quản trị môi trường cần dựa trên dữ liệu và rủi ro, giảm thủ tục nhưng phải xác định rõ trách nhiệm.

Bà Nguyễn Thanh Hải cho rằng việc mở rộng quyền khai thác tài nguyên phải đi cùng cơ chế kiểm soát và trách nhiệm bảo vệ môi trường. Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế xác lập quyền đối với tài sản gắn với khu vực biển được giao, tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho những dự án có quy mô lớn như điện gió ngoài khơi, dầu khí và nuôi biển.

Song song với hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất là yêu cầu thiết yếu để nâng cao hiệu quả quản trị biển.

Theo Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, đến nay hệ thống thông tin khai thác và sử dụng tài nguyên biển đã được cập nhật dữ liệu tại 21/21 tỉnh, thành phố có biển, với hơn 300 tài khoản hoạt động thường xuyên và 1.234 hồ sơ được cập nhật. Hệ thống hướng tới hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất về giao và sử dụng khu vực biển, đồng bộ với Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Ông Nguyễn Hồng Hải, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ quản lý sang quản trị biển hiện đại, tổng hợp, thống nhất, dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu số.

Việc cập nhật dữ liệu đầy đủ, kịp thời không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch trong giao và sử dụng khu vực biển, hỗ trợ theo dõi các hoạt động khai thác tài nguyên và hạn chế nguy cơ chồng lấn.

Cùng với nỗ lực trong nước, hợp tác quốc tế cũng đang góp phần nâng cao năng lực quy hoạch và phát triển kinh tế biển xanh. Giai đoạn 2026-2029, Việt Nam tiếp tục hợp tác với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Đại sứ quán Na Uy tại Hà Nội nhằm thúc đẩy thực hiện quy hoạch không gian biển, tăng cường phối hợp liên ngành, phát triển các vùng biển sẵn sàng đầu tư và huy động nguồn lực tài chính xanh. Chính phủ Na Uy hỗ trợ 12 triệu NOK, tương đương hơn 1,2 triệu USD, cho chương trình.

Một trong những trọng tâm là chuyển các định hướng phân vùng biển ở cấp quốc gia thành quy hoạch tại địa phương, đồng thời phát triển Chỉ số Kinh tế biển cấp tỉnh để hỗ trợ đánh giá quá trình phát triển.

Mở rộng không gian kinh tế biển vì vậy không thể chỉ được đo bằng diện tích đưa vào khai thác hay số lượng dự án đầu tư. Yêu cầu quan trọng hơn là nâng cao giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị tài nguyên, tăng cường liên kết giữa các ngành, bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch và duy trì sức khỏe của hệ sinh thái biển.

Khi quy hoạch được triển khai đồng bộ, thể chế xác định rõ trách nhiệm, dữ liệu được kết nối và các nguồn lực được huy động hiệu quả, không gian biển mới có thể thực sự trở thành động lực tăng trưởng dài hạn, đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Đỗ Hương