Hiện thực hoá khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh
(Chinhphu.vn) - Công nghiệp hàng hải là nền tảng vật chất, công nghệ và năng lực sản xuất để toàn bộ các ngành kinh tế biển có thể hình thành, phát triển và cạnh tranh một cách bền vững.

Nhà máy Đóng tàu Hạ Long thuộc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC) - Ảnh: Báo Đầu tư
Bước vào kỷ nguyên vươn mình với mục tiêu đạt mức tăng trưởng cao, liên tục và bền vững, kinh tế biển sẽ là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết 20) đã xác định các định hướng chiến lược, cụ thể hóa những mục tiêu cần đạt được và đề ra giải pháp thực hiện.
Đánh giá cao Nghị quyết 20, các chuyên gia nhận định đây là bước đi quan trọng nhằm biến tiềm năng thành lợi thế phát triển, đồng thời khai thông những động lực tăng trưởng mới cho đất nước.
Biển vàng, biển bạc
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, Việt Nam là quốc gia biển với vùng biển rộng gấp khoảng 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền và hơn 3.000 đảo, trong đó có 2.773 đảo ven bờ và hai quần đảo ngoài khơi thuộc các đặc khu Hoàng Sa, Trường Sa.
Khoảng 85% số đảo ven bờ tập trung tại vùng biển sát bờ Quảng Ninh - Hải Phòng, tiếp đến là Khánh Hòa và An Giang. Đây là những khu vực có cảnh quan đẹp, đa dạng sinh học biển, giàu nguồn lợi hải sản và tài nguyên biển.
Dải ven biển Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260 km (không tính bờ các đảo), chạy theo hướng Bắc - Nam, tạo lợi thế về vị trí hướng ra Biển Đông, nơi có các tuyến hàng hải ngày càng quan trọng đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và thế giới. Đây là những tiền đề quan trọng để Việt Nam vươn lên trở thành một “quốc gia biển mạnh”.
“Cuộc ‘tổ chức lại lãnh thổ’ đầu tháng 7/2025 đã tính đến những lợi thế từ biển. Sau khi hợp nhất, 21/34 tỉnh, thành phố có biển. Quy mô không gian biển của các tỉnh, thành phố có biển hoặc được giữ nguyên, hoặc được mở rộng, tạo cơ hội xây dựng mô hình tăng trưởng mới, hướng tới việc các tỉnh, thành phố có biển sẽ đóng góp khoảng 70% GDP cả nước vào năm 2030 với tốc độ tăng GRDP bình quân đạt trên 11%/năm, cùng với các mục tiêu văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ khác...”, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi chỉ rõ.
Đồng quan điểm, ông Đỗ Thành Hưng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học - Kỹ thuật công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (VISIA), khẳng định đối với nhiều quốc gia, biển là một lợi thế phát triển. Đối với Việt Nam, biển còn là không gian sinh tồn, không gian phát triển, không gian an ninh - quốc phòng và không gian hội nhập quốc tế.
“Với đường bờ biển dài, vùng biển rộng, hàng nghìn đảo và quần đảo cùng vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng bậc nhất thế giới, biển không chỉ mang lại nguồn tài nguyên phong phú mà còn quyết định trực tiếp đến tương lai phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ tới”, ông Đỗ Thành Hưng nhấn mạnh.
Nhìn từ góc độ kinh tế, Phó Chủ tịch VISIA cho rằng, trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần bão hòa, kinh tế biển sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam.
“Vận tải biển, logistics, hệ thống cảng nước sâu, khai thác dầu khí, điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, dịch vụ hàng hải, nghiên cứu đại dương, kinh tế tuần hoàn biển và nhiều ngành kinh tế mới sẽ tạo ra không gian phát triển rất lớn cho nền kinh tế quốc gia”, ông Đỗ Thành Hưng phân tích.
Tiến nhanh bằng “đôi chân công nghệ”
Để biến tiềm năng thành lợi thế, biến lợi thế thành giá trị và động lực phát triển, theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Việt Nam phải lựa chọn cách tiếp cận chiến lược, vươn ra biển bằng “đôi chân thể chế và công nghệ”.
Trước hết, để làm chủ các vùng biển xa, biển sâu, cần chú trọng đầu tư phát triển và ứng dụng các công nghệ biển tiên tiến, dựa trên chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI).
Về quy hoạch, quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển cần sớm được triển khai, áp dụng nhằm giảm thiểu, tiến tới loại trừ các mâu thuẫn lợi ích và xung đột trong sử dụng không gian biển giữa các hoạt động kinh tế.
Bên cạnh đó, cần bố trí hợp lý các hoạt động kinh tế trong không gian biển, bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các ngành và nhu cầu sử dụng không gian của từng ngành. Qua đó, vừa tạo điều kiện cho các ngành phát triển, vừa duy trì các mối liên kết tự nhiên và kinh tế.
Thứ ba, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, trước mắt là sớm điều chỉnh Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để đáp ứng kịp thời yêu cầu theo tinh thần Nghị quyết 20.
“Hệ thống pháp luật cần hỗ trợ chuyển mạnh từ phương thức quản lý biển theo ngành sang quản trị tổng hợp và thống nhất không gian biển, trên cơ sở thay đổi tư duy, hình thành một triết lý phát triển biển, đảo mới.
Theo đó, mọi hoạt động kinh tế phải được đặt trong cùng một không gian phát triển, trong mối quan hệ liên ngành, được phân vùng chức năng rõ ràng, có cơ chế điều phối liên ngành và đánh giá tác động tổng hợp ngay từ khâu quy hoạch không gian biển.
Khi đó, một vùng biển không còn chỉ phục vụ một mục tiêu hoặc một ngành riêng lẻ mà có thể đồng thời phát triển đa ngành, đa mục tiêu (multi-use), như năng lượng tái tạo, nuôi biển, du lịch sinh thái, cảng - hàng hải, y - dược biển và bảo tồn thiên nhiên biển... trên cơ sở hài hòa, tối ưu hóa lợi ích tổng thể của các ngành”, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi giải thích.
Làm chủ không gian biển
Tiếp cận từ góc độ ngành, ông Đỗ Thành Hưng cho rằng một quốc gia biển mạnh không chỉ là quốc gia có nhiều cảng biển hay nhiều tàu thuyền, mà phải có khả năng làm chủ không gian biển.
Làm chủ không gian biển đồng nghĩa với việc có đủ năng lực thiết kế, xây dựng, quản lý, vận hành và bảo vệ toàn bộ hệ thống hạ tầng trên biển và ven biển. Đó là các cảng biển hiện đại, trung tâm logistics, khu hậu cần nghề cá, công trình dầu khí ngoài khơi, trang trại điện gió ngoài khơi, công trình lấn biển, sân bay trên đảo, căn cứ kỹ thuật, cơ sở hậu cần - quốc phòng, hệ thống cứu hộ, cứu nạn, cơ sở nghiên cứu khoa học biển và các phương tiện phục vụ thực thi pháp luật trên biển.
Muốn xây dựng được những công trình và phương tiện đó, quốc gia phải có một nền công nghiệp hàng hải đủ mạnh.
“Trong bối cảnh như vậy, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ngày 14/7/2026 về việc phải đặt công nghiệp hàng hải quốc gia đúng vị trí trong chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là sự hoàn thiện tư duy chiến lược.
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 khi đề cập đến phát triển kinh tế biển Việt Nam đã yêu cầu xác định những định hướng lớn cho giai đoạn phát triển mới. Trọng tâm không còn là phát triển riêng lẻ từng ngành của kinh tế biển, mà là xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hàng hải Việt Nam làm nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế biển”, Phó Chủ tịch VISIA nhấn mạnh.
Vị chuyên gia dẫn chứng, thực tiễn phát triển của Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy... đều cho thấy một quy luật chung: Không có quốc gia biển mạnh nào lại thiếu một nền công nghiệp hàng hải phát triển.
“Trước khi trở thành cường quốc kinh tế biển, các quốc gia này đều đầu tư xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hàng hải với đầy đủ các cấu phần, từ thiết kế, đóng tàu, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất thiết bị, nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực đến đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chính hệ sinh thái đó đã tạo nên năng lực cạnh tranh quốc gia trên biển”, ông Hưng phân tích.
Phó Chủ tịch VISIA cho rằng Việt Nam cần đi theo quy luật phát triển đó. Nếu chỉ khai thác biển mà không làm chủ công nghệ, phương tiện và hạ tầng phục vụ biển, giá trị gia tăng lớn nhất sẽ luôn thuộc về các quốc gia khác.
“Chỉ khi làm chủ được công nghiệp hàng hải, Việt Nam mới có thể chủ động phát triển kinh tế biển, giảm phụ thuộc vào bên ngoài, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu”, ông Đỗ Thành Hưng khẳng định.
Hoàng Hạnh