• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược

(Chinhphu.vn) - Cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược được thiết kế theo hướng Nhà nước chia sẻ rủi ro, dòng tiền đi theo kết quả, tăng quyền tự chủ cho tổ chức nghiên cứu, đồng thời tạo dư địa thu hút nhân lực chất lượng cao và nguồn lực xã hội.

07/09/2026 14:53
Hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược- Ảnh 1.

Ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Giang

Mới đây, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.

Trao đổi về những điểm mới của Thông tư, ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED), cho biết cơ chế mới tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp và nhà khoa học tập trung làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Theo ông Đào Ngọc Chiến, Thông tư 49 không phải là một chính sách riêng lẻ mà là sự cụ thể hóa đồng bộ các chủ trương và quy định pháp luật mới về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định quan điểm thể chế đi trước, ưu tiên nguồn lực quốc gia cho công nghệ chiến lược, đồng thời có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài. Tinh thần này tiếp tục được thể chế hóa trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, Luật Công nghệ cao, Luật Ngân sách nhà nước và các nghị định hướng dẫn về tài chính, đầu tư, quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Trên nền tảng pháp lý đó, Thông tư 49 cụ thể hóa các nguyên tắc thành cơ chế lập dự toán, sử dụng, thanh toán và quyết toán kinh phí, với cách tiếp cận Nhà nước chia sẻ rủi ro và huy động nguồn lực xã hội.

Một điểm đáng chú ý của cơ chế mới là nguồn lực tài chính được thiết kế theo mức độ ưu tiên, rủi ro và khả năng huy động nguồn lực của từng nhiệm vụ.

Đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng nhằm phát triển công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, công nghệ có ý nghĩa đặc biệt đối với tự chủ công nghệ quốc gia, an ninh, quốc phòng hoặc các nhiệm vụ có độ rủi ro cao, ngân sách Nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100%.

Đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược đã có khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc thương mại hóa, ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối đa 70%; phần còn lại được huy động từ doanh nghiệp và các nguồn kinh phí hợp pháp khác.

Như vậy, tỷ lệ hỗ trợ không áp dụng cào bằng mà gắn với mục tiêu công nghệ, giai đoạn phát triển của sản phẩm, mức độ rủi ro và triển vọng tạo ra giá trị.

“Triết lý ở đây là Nhà nước sẽ chia sẻ rủi ro ở những giai đoạn khó khăn nhất, đồng thời tạo động lực để khu vực ngoài Nhà nước cùng đầu tư”, ông Đào Ngọc Chiến cho biết.

Ba chuyển dịch trong quản lý nhiệm vụ

Theo Giám đốc NAFOSTED, Thông tư 49 thể hiện ba chuyển dịch quan trọng trong cách thức quản lý và sử dụng nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược.

Thứ nhất, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả.

Nhiệm vụ được chia thành các gói công việc (Work Package - WP), gắn với sản phẩm và các mốc đánh giá cụ thể. Kinh phí được phân bổ theo kết quả của từng gói công việc.

Thứ hai, chuyển từ kiểm soát thủ tục sang quản trị theo mốc đánh giá.

Mỗi mốc đánh giá là một điểm kiểm soát. Nếu kết quả đạt yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục được cấp kinh phí và triển khai các gói công việc tiếp theo. Nếu không đạt, phương án nghiên cứu có thể được điều chỉnh hoặc dừng thực hiện.

Cách làm này nhằm tập trung nguồn lực cho những hướng nghiên cứu có triển vọng và tính khả thi cao.

Thứ ba, chuyển từ tiền kiểm sang tự chủ gắn với hậu kiểm.

Tổ chức chủ trì và nhóm nghiên cứu được trao quyền chủ động hơn trong quá trình triển khai, đồng thời phải nâng cao trách nhiệm giải trình và quản trị rủi ro.

Ba chuyển dịch có quan hệ chặt chẽ với nhau: trao quyền để tăng tốc, quản lý theo kết quả để bảo đảm hiệu quả đầu tư và tăng cường hậu kiểm để bảo đảm trách nhiệm sử dụng nguồn lực.

Hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược- Ảnh 2.

Hội nghị phổ biến các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược - Ảnh: chinhphu.vn/Thu GIang

Mức trần 300 triệu đồng/tháng cho Tổng công trình sư

Một trong những điểm được đánh giá là đột phá của Thông tư 49 là cơ chế chi cho con người trong các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Mức thù lao được xác định theo vị trí, trách nhiệm, sản phẩm đầu ra và thời gian tham gia thực hiện dự án. Trong đó, mức trần cao nhất đối với chức danh Tổng công trình sư là 300 triệu đồng/tháng; Chủ nhiệm nhiệm vụ là 150 triệu đồng/tháng. Các thành viên chính, thành viên, thư ký khoa học và kỹ thuật viên được áp dụng mức tương ứng với vai trò đảm nhiệm.

Đây là mức trần để lập, thẩm định và phê duyệt dự toán, không phải mức chi mặc định cho mọi nhiệm vụ. Mức chi cụ thể phải căn cứ vào tính chất công việc, năng lực của cá nhân, thời gian tham gia và yêu cầu về sản phẩm đầu ra.

Theo ông Đào Ngọc Chiến, mức 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư được tham chiếu từ mức chi trả của A*STAR Singapore, sau đó tính toán theo hệ số sức mua tương đương giữa hai quốc gia và điều chỉnh theo mức độ khan hiếm nguồn nhân lực.

Cùng với đội ngũ thực hiện thường xuyên, nhiệm vụ còn có thể thuê chuyên gia trong nước và quốc tế theo cơ chế thỏa thuận. Trong trường hợp thông thường, mức thuê tối đa có thể bằng mức của Chủ nhiệm nhiệm vụ. Trường hợp đặc biệt, mức thuê có thể cao hơn và phải có quyết định cụ thể của cơ quan có thẩm quyền.

Việc thuê chuyên gia được xác định trên cơ sở yêu cầu chuyên môn, phạm vi công việc, năng lực, kinh nghiệm, thời gian tham gia, mặt bằng giá thị trường và thông lệ quốc tế.

Dòng tiền đi theo kết quả

Theo cơ chế mới, nguồn ngân sách Nhà nước và kinh phí đối ứng được phân bổ cho từng gói công việc. Mỗi gói phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi công việc, sản phẩm đầu ra, kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện.

Các gói công việc được tập hợp vào từng mốc đánh giá. Hội đồng đánh giá căn cứ vào sản phẩm và bằng chứng đã xác định từ đầu, thay vì tập trung xem xét đã chi bao nhiêu hoặc hoàn thành bao nhiêu thủ tục.

Kết quả tại các mốc đánh giá là căn cứ để thanh toán, quyết toán và cấp kinh phí cho các gói công việc tiếp theo. Nếu không đạt yêu cầu, việc cấp kinh phí có thể được điều chỉnh hoặc dừng.

Theo đó, nguyên tắc cốt lõi được khái quát là “dòng tiền đi theo kết quả”.

Cơ chế này cũng tính đến đặc thù bất định của hoạt động nghiên cứu và phát triển. Một bài toán công nghệ có thể được triển khai theo nhiều phương án nghiên cứu độc lập. Sau mỗi mốc đánh giá, phương án có triển vọng sẽ được tiếp tục, trong khi phương án không hiệu quả có thể được điều chỉnh hoặc dừng.

Thông tư đồng thời bố trí 10% kinh phí dự phòng từ tổng kinh phí ngân sách Nhà nước để xử lý những thay đổi không lường trước trong quá trình thực hiện các dự án kéo dài nhiều năm.

Tổ chức chủ trì cũng có thể ứng trước nguồn kinh phí hợp pháp để triển khai ngay những nội dung cấp bách trong thời gian chờ ngân sách Nhà nước cấp.

Đáng chú ý, kinh phí đối ứng không chỉ được tính bằng tiền mà còn có thể bao gồm máy móc, thiết bị, phòng thí nghiệm, quyền sở hữu trí tuệ và nhân lực. Điều này mở rộng khả năng hợp tác giữa Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp.

Một nguyên tắc quan trọng được đặt ra trong cơ chế mới là chấp nhận rủi ro khách quan vốn có của nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Trường hợp một phương án nghiên cứu không đạt kết quả dự kiến nhưng đã được triển khai đúng quy trình, đầy đủ thủ tục, minh bạch, trung thực và có đầy đủ bằng chứng thì rủi ro khoa học có thể được chấp nhận.

Tuy nhiên, chấp nhận rủi ro khoa học hoàn toàn khác với chấp nhận sai phạm trong quản lý và sử dụng nguồn lực.

Việc thực hiện nhiệm vụ được theo dõi trên nền tảng số quốc gia. Hàng tháng, các đơn vị chủ trì có trách nhiệm cung cấp tình hình và kết quả thực hiện trên nền tảng này, qua đó cơ quan quản lý có điều kiện theo dõi, đánh giá gián tiếp tính khả thi của quá trình nghiên cứu.

Theo ông Đào Ngọc Chiến, tinh thần của cơ chế mới là chấp nhận rủi ro để tạo không gian cho đổi mới nhưng đồng thời phải quản trị rủi ro để bảo toàn nguồn lực công.

Có thể khái quát cơ chế tài chính mới qua 5 thành tố: Đầu tư cho con người theo vị trí; thu hút chuyên gia theo cơ chế thị trường; quản lý kết quả thông qua gói công việc và các mốc đánh giá; trao quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình; chấp nhận rủi ro có kiểm soát.

Năm thành tố này hướng tới một chuỗi kết quả xuyên suốt: Làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm, chuyển giao và thương mại hóa.

Thu Giang