• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực Bưu chính và Đo lường

(Chinhphu.vn) - Sáng nay (17/10), tiếp tục chương trình của ngày làm việc đầu tiên Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đã trình bày tờ trình về 02 dự án: Luật Bưu chính (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường.

17/10/2026 10:41
Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực Bưu chính và Đo lường- Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân trình bày báo cáo trước Quốc hội. Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Tạo điều kiện để nhân dân sử dụng dịch vụ bưu chính phổ cập thường xuyên, ổn định, chất lượng và giá cước hợp lý

Đối với dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), mục đích của việc xây dựng dự án Luật này nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước có liên quan đến lĩnh vực bưu chính, đặc biệt là các định hướng tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, XIV Đảng và các Nghị quyết mới của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, bao gồm: Nghị quyết số 57- NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.

Đồng thời, nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về bưu chính, bổ sung các chính sách mới nhằm giải quyết các vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, ổn định, khả thi, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bưu chính, thương mại và đầu tư; bảo đảm thống nhất với pháp luật về dữ liệu, cạnh tranh, đất đai, tài chính và các pháp luật có liên quan. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, phục vụ tốt nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Việc xây dựng Luật hướng đến bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và các quy định pháp luật có liên quan; tuân thủ đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Bưu chính phải trở thành hạ tầng thiết yếu của quốc gia và của nền kinh tế số, đặc biệt là của thương mại điện tử; mở rộng hệ sinh thái dịch vụ, mở rộng không gian hoạt động mới; thúc đẩy phát triển Chính phủ số, xã hội số.

Dịch vụ bưu chính trở thành một trong các dịch vụ thiết yếu của xã hội, phục vụ nhu cầu đa dạng của tổ chức, doanh nghiệp, người dân; tạo điều kiện để người dân trên toàn quốc có thể sử dụng dịch vụ bưu chính phổ cập thường xuyên, ổn định, với chất lượng và giá cước hợp lý. Công tác quản lý nhà nước về bưu chính được đổi mới, theo kịp với thực tiễn phát triển của lĩnh vực; minh bạch, đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp bưu chính.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết, Luật Bưu chính (sửa đổi) quy định về hoạt động bưu chính; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động bưu chính và quản lý nhà nước về hoạt động bưu chính; áp dụng đối với tổ chức, cá nhân thực hiện, tham gia thực hiện hoạt động bưu chính tại Việt Nam.

Xuất phát từ cách tiếp cận về mối quan hệ chặt chẽ nhưng rất độc lập, tách biệt giữa hoạt động bưu chính với hoạt động vận tải hàng hóa và thương mại điện tử, Luật Bưu chính (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở xác định rõ, phân định rõ ràng phạm vi điều chỉnh của Luật Bưu chính với các Luật có liên quan như: các Luật điều chỉnh hoạt động vận tải hàng hóa, Luật Thương mại, Luật Thương mại điện tử. Theo đó, dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi) không điều chỉnh hoạt động vận tải hàng hóa, hoạt động thương mại điện tử hoặc dịch vụ hoàn tất đơn hàng độc lập không gắn với bưu gửi; chỉ điều chỉnh các hoạt động được tổ chức trên mạng bưu chính và gắn trực tiếp với quá trình cung ứng dịch vụ bưu chính và bưu gửi; xác định dịch vụ bưu chính phải được tổ chức trên cơ sở mạng bưu chính, có định danh, theo dõi và truy vết bưu gửi.

Những quy định trong dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi) bảo đảm phạm vi điều chỉnh độc lập, các quy định không chồng chéo, mâu thuẫn với các pháp luật liên quan khác.

Luật Bưu chính (sửa đổi) được bố cục gồm 08 Chương và 51 điều. Trong đó, Chương I: Những quy định chung (gồm 10 điều, từ Điều 1 đến Điều 10). Chương II: Kinh doanh dịch vụ bưu chính (gồm 13 điều, từ Điều 11 đến Điều 23). Chương III: Hoạt động bưu chính công ích (gồm 06 điều, từ Điều 24 đến Điều 29). Chương IV: Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bưu chính, người sử dụng dịch vụ bưu chính (gồm 05 điều, từ Điều 30 đến Điều 34). Chương V: Bưu chính số và bảo đảm an toàn, an ninh trong hoạt động bưu chính (gồm 09 điều, từ Điều 35 đến Điều 43, chia làm 2 mục: Mục I về Bưu chính số từ Điều 35 đến Điều 39; Mục II về Bảo đảm an toàn, an ninh từ Điều 40 đến Điều 43). Chương VI: Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tranh chấp trong lĩnh vực bưu chính (gồm 03 điều, từ Điều 44 đến Điều 46). Chương VII: Quản lý nhà nước về bưu chính (gồm 02 điều, Điều 47 và Chương VIII: Điều khoản thi hành (gồm 03 điều, từ Điều 49 đến Điều 51).

Khẳng định rõ vai trò, vị thế của hoạt động đo lường trong bối cảnh mới

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường được xây dựng và ban hành nhằm thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/7/2024 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia đến năm 2030 và những năm tiếp theo, trong đó tập trung vào các nội dung: Khẳng định rõ vai trò, vị thế của hoạt động đo lường trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý để xử lý các điểm nghẽn thể chế, thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ, trong đó có hoạt động đo lường, nhằm kiến tạo các đột phá về năng suất, chất lượng và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh phân công, phân cấp gắn với hoàn thiện cơ sở pháp lý, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của các bộ, ngành, địa phương trong quản lý và phát triển hoạt động đo lường phù hợp với điều kiện thực tiễn từng vùng, miền.

Luật được xây dựng trên quan điểm: Kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết của Quốc hội, giải pháp của Chính phủ về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cao vị thế của Việt Nam. Xây dựng khung pháp lý quản lý nhà nước về đo lường thống nhất, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bảo đảm tính khả thi và khuôn khổ pháp lý đồng bộ với thể chế 9 kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò kiến tạo của Nhà nước; thúc đẩy đo lường phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Bảo đảm quản lý nhà nước thông suốt, kế thừa các quy định ổn định và bổ khuyết khoảng trống pháp lý; tận dụng cam kết quốc tế và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp điều kiện trong nước. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phù hợp với các luật chuyên ngành và điều ước quốc tế; đồng bộ với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (sửa đổi), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (sửa đổi) để hoàn thiện Hạ tầng chất lượng quốc gia; các quy định về dữ liệu đo lường, chứng nhận điện tử, nền tảng số đồng bộ với pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu, an ninh mạng, chuyển đổi số theo nguyên tắc dẫn chiếu, không chồng chéo. Đổi mới căn bản tư duy quản lý nhà nước về đo lường, phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, nhanh và bền vững; cập nhật thuật ngữ, định nghĩa phù hợp thông lệ quốc tế.

Về Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, Dự thảo Luật không sửa đổi, bổ sung phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật Đo lường năm 2011. Việc giữ nguyên phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng nhằm bảo đảm sự ổn định của pháp luật về đo lường, tiếp tục phát huy hiệu lực thi hành của các quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời tập trung sửa đổi, hoàn thiện các quy định còn bất cập, không phù hợp và bổ sung một số quy định để đáp ứng yêu cầu mới.

Việc bổ sung Chương Va (Chuyển đổi số hoạt động đo lường) chủ yếu nhằm mục đích hiện đại hóa phương thức quản lý nhà nước về đo lường, không mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật. Các quy định của Chương Va được thiết kế theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân thông qua việc số hóa thủ tục hành chính, công nhận giá trị pháp lý của hồ sơ, giấy chứng nhận, chứng chỉ điện tử và cho phép thực hiện một số hoạt động đo lường theo phương thức điện tử. Để vận hành nền tảng số hoạt động đo lường và hình thành cơ sở dữ liệu đo lường, khoản 4 Điều 34b của dự thảo quy định tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đo lường có trách nhiệm cung cấp, cập nhật thông tin, dữ liệu theo quy định của pháp luật. Đây là trách nhiệm mới phát sinh so với Luật Đo lường hiện hành, phù hợp với yêu cầu xây dựng Chính phủ số, kinh tế số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và thống nhất với quy định của Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 về trách nhiệm cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước.

Trách nhiệm này được thiết kế theo các nguyên tắc: Chỉ yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp, cập nhật thông tin gắn trực tiếp với hoạt động đo lường mà họ đang thực hiện, không phát sinh nghĩa vụ mới về nội dung hoạt động đo lường. Không phát sinh thêm thủ tục hành chính mới mà thực chất là số hóa thông tin mà tổ chức, cá nhân đã phải lưu giữ, thông báo theo quy định hiện hành. Lộ trình, phạm vi cụ thể sẽ do Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính khả thi và không tạo gánh nặng không hợp lý cho tổ chức, cá nhân.

Hải Liên