Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới
(Chinhphu.vn) - Một quốc gia có thể sở hữu nhiều nguồn lực nhưng vẫn tăng trưởng dưới mức tiềm năng nếu các nguồn lực bị phân tán, chậm đưa vào sử dụng hoặc không được chuyển hóa thành năng suất và giá trị gia tăng.

Hội thảo khoa học quốc gia "Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới của Việt Nam". Ảnh: chinhphu.vn
Trên là thông điệp trung tâm được thảo luận tại Hội thảo khoa học quốc gia "Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới của Việt Nam", do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức ngày 28/9/2026 tại Hà Nội.
Hội thảo do PGS.TS. Vũ Trọng Lâm, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và PGS.TS. Bùi Đức Thọ, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, đồng chủ trì; với sự tham dự của đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, cùng đông đảo chuyên gia và nhà quản lý.
Trong bài phát biểu đề dẫn, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm cho rằng bài toán của giai đoạn phát triển mới không dừng ở việc huy động thêm vốn, đất đai, lao động hay tài nguyên. Điều quan trọng hơn là phải tháo gỡ những rào cản thể chế, cải thiện chất lượng phân bổ và tạo khả năng kết nối giữa các nguồn lực truyền thống với khoa học, công nghệ, dữ liệu, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo của con người.
Thông điệp này được làm rõ thêm trong tham luận của PGS.TS. Hoàng Văn Hoan: Trong giai đoạn 2015 - 2025, quy mô vốn đầu tư, nhân lực, khoa học, công nghệ và hạ tầng số của Việt Nam đều được mở rộng; thị trường vốn tiếp tục phát triển và năng suất các nhân tố tổng hợp đóng góp ngày càng lớn hơn vào tăng trưởng. Tuy nhiên, tốc độ tăng TFP giai đoạn 2021 - 2025 chỉ ở mức 2,91%, gần như không thay đổi so với giai đoạn trước; hiệu quả sử dụng vốn chưa ổn định và nguồn lực chưa chuyển mạnh vào các ngành có năng suất cao. Theo tác giả, có một số chỉ dấu cho thấy rõ khoảng cách giữa "có nguồn lực" và "chuyển hóa được nguồn lực": Lao động qua đào tạo chưa đạt một phần ba lực lượng lao động; tỷ trọng lao động trong những ngành dựa nhiều vào tri thức và công nghệ mới đạt khoảng 2,4%. Việt Nam đứng thứ 44 trong xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025, nhưng thành quả đổi mới chưa lan tỏa đủ mạnh để tạo thành năng suất trên diện rộng. Do vậy, cần đặt con người vào vị trí chủ thể chuyển hóa nguồn lực, đồng thời bảo đảm quyền hành động, lợi ích chính đáng và môi trường khuyến khích sáng tạo.
Về nguồn lực tài chính cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chủ đề tham luận của PGS.TS. Vũ Sỹ Cường nhấn mạnh yêu cầu đổi mới cách huy động và sử dụng tài chính khi mô hình phát triển chuyển sang dựa nhiều hơn vào tri thức và công nghệ. Câu hỏi không chỉ là chi bao nhiêu, mà còn là nguồn lực tài chính tạo thêm được bao nhiêu nghiên cứu có giá trị, bao nhiêu công nghệ được ứng dụng và bao nhiêu đầu tư của doanh nghiệp được kích hoạt.
Ở góc độ khoa học, công nghệ và nhân lực, GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức chỉ ra rằng Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực: kinh tế số đóng góp 14,02% GDP năm 2025; năng suất lao động đạt khoảng 245 triệu đồng một lao động và tăng 6,83% theo giá so sánh. Tuy nhiên, mức chi R&D khoảng 0,41% GDP năm 2023 vẫn còn thấp so với yêu cầu tạo đột phá; nguồn nhân lực công nghệ số mới đáp ứng khoảng 50% nhu cầu 150.000 kỹ sư mỗi năm. Nếu không đồng thời cải thiện đầu tư R&D, chất lượng nhân lực và liên kết nghiên cứu - sản xuất, công nghệ khó trở thành động lực tăng trưởng thực chất.
PGS.TS. Ngô Quốc Dũng đại diện nhóm tác giả trình bày tham luận khẳng định tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không thể áp dụng theo một công thức đồng nhất, mà phải phù hợp với tài sản, năng lực và điểm nghẽn của từng địa phương. Theo đó, Hải Phòng phù hợp với đổi mới sáng tạo mở gắn với cụm cảng - logistics - công nghiệp; Bắc Ninh cần nâng cao năng lực nội sinh trong chuỗi sản xuất điện tử, bán dẫn; Quảng Ninh có điều kiện triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi xanh gắn với kinh tế biển và du lịch. Tham luận đồng thời đề xuất tăng cường phối hợp vùng thông qua chia sẻ dữ liệu, phát triển nhà cung cấp, đào tạo nhân lực và kết nối các bài toán công nghệ.
Từ các phân tích trên, các ý kiến phát biểu tại Hội thảo tập trung thảo luận về những sự chuyển dịch quan trọng: từ huy động nguồn lực sang chuyển hóa nguồn lực; từ phân bổ theo đầu vào sang phân bổ theo kết quả; từ quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu và trách nhiệm giải trình; từ các nguồn lực riêng lẻ sang hệ sinh thái liên kết giữa Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và người lao động.
Hội thảo đã tiếp cận nghiên cứu về nhiều nhóm nguồn lực, từ tài chính, đầu tư công, tài sản công, đất đai, doanh nghiệp và đầu tư nước ngoài đến dữ liệu, công nghệ, nhân lực, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Các kết quả nghiên cứu được kỳ vọng góp phần xác định những điểm nghẽn có thể tháo gỡ ngay, đồng thời kiến nghị cơ chế dài hạn để mỗi đơn vị nguồn lực tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.
DA