• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Lợi thế lao động giá rẻ dần mất, các ngành xuất khẩu chủ lực đối mặt sức ép mới

(Chinhphu.vn) - Trong bối cảnh thương mại toàn cầu thay đổi nhanh chóng, các lợi thế như lao động chi phí thấp, chi phí đầu vào cạnh tranh… đang dần suy giảm và không còn đủ sức tạo động lực tăng trưởng như trước.

07/07/2026 13:00
Lợi thế lao động giá rẻ dần mất, các ngành xuất khẩu chủ lực đối mặt sức ép mới- Ảnh 1.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu thay đổi nhanh chóng, các lợi thế như lao động chi phí thấp, chi phí đầu vào cạnh tranh… đang dần suy giảm và không còn đủ sức tạo động lực tăng trưởng như trước

Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam nhấn mạnh điều này tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài quý II/2026, do Bộ Công Thương tổ chức sáng 7/7.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt khoảng 8,5 tỷ USD, tăng dưới 3% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này thấp hơn nhiều so với mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Chính phủ kỳ vọng.

Đáng chú ý, chất lượng tăng trưởng đang có dấu hiệu suy giảm. Nhóm sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao như đồ gỗ nội, ngoại thất giảm khoảng 4%, trong khi tăng trưởng chủ yếu đến từ các mặt hàng có giá trị gia tăng thấp hơn như dăm gỗ, viên nén gỗ và ván công nghiệp. Đối với thị trường Hoa Kỳ - thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành gỗ Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm giảm khoảng 7-8%. Theo ông Hoài, triển vọng nửa cuối năm được dự báo sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức khi các chính sách thuế mới của Hoa Kỳ chính thức được áp dụng.

Tuy nhiên, điều đáng quan ngại hơn cả không phải là sự suy giảm của một thị trường hay thuế và những rào cản thương mại trước mắt, mà là mô hình tăng trưởng của các ngành chế biến xuất khẩu, trong đó có ngành gỗ, đã dần chạm tới giới hạn. Ông phân tích rằng trong hơn hai thập kỷ qua, ngành gỗ Việt Nam phát triển chủ yếu dựa trên các lợi thế như lao động chi phí thấp, chi phí đầu vào cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) và gia công cho các nhà nhập khẩu quốc tế. Mô hình này đã đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, tạo nhiều việc làm, thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và mở rộng quy mô nền kinh tế.

Tuy nhiên, trong bối cảnh thương mại toàn cầu thay đổi nhanh chóng, các lợi thế đó đang dần suy giảm và không còn đủ sức tạo động lực tăng trưởng như trước. "Theo tôi, những lợi thế so sánh truyền thống của chúng ta đang dần cạn kiệt", ông Hoài nhận định.

Một trong những biểu hiện rõ nét nhất là tình trạng thiếu hụt lao động ngày càng nghiêm trọng. Nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Bộ, không dám nhận thêm đơn hàng vì không tuyển được lao động. Trong khi đó, các ngành nghề khác có khả năng trả lương cao hơn, cùng với xu hướng người lao động lựa chọn làm việc ở nước ngoài, đang khiến các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu ngày càng khó thu hút và giữ chân nhân lực.

Theo ông Hoài, nếu không sớm thay đổi mô hình tăng trưởng, ngành gỗ cũng như nhiều ngành chế biến xuất khẩu khác sẽ ngày càng đối mặt với những giới hạn về năng lực cạnh tranh. Việt Nam cần chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào gia công sang phát triển các khâu có giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế sản phẩm, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống phân phối và làm chủ thị trường. Ông cũng cho rằng, mặc dù Việt Nam đã ký kết 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều đối tác lớn trên thế giới, nhưng phần lớn doanh nghiệp vẫn chủ yếu thực hiện gia công cho các đối tác nước ngoài. Vì vậy, giá trị gia tăng thu được còn thấp và chưa tận dụng hiệu quả những lợi thế mà các FTA mang lại.

Từ thực tiễn đó, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam kiến nghị Bộ Công Thương nghiên cứu, tham mưu Chính phủ xây dựng Chiến lược tái cấu trúc các ngành chế biến xuất khẩu chủ lực nhằm hình thành mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững.

"Nếu tiếp tục đi theo mô hình cũ, chúng ta sẽ rơi vào cái bẫy càng sản xuất nhiều, càng xuất khẩu nhiều thì biên lợi nhuận càng thu hẹp, trong khi rủi ro ngày càng lớn. Chỉ cần thị trường biến động hoặc chính sách thuế thay đổi là doanh nghiệp lại phải gồng mình ứng phó", ông Hoài nhấn mạnh.

Đối với riêng ngành gỗ, ông Hoài cũng lưu ý đến mức độ phụ thuộc rất lớn vào thị trường Hoa Kỳ. Năm 2025, xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm khoảng 54,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành; trong 6 tháng đầu năm 2026, dù tỷ trọng này đã giảm nhưng vẫn ở mức khoảng 49%. Trong khi đó, các thị trường tiềm năng như Trung Đông, Ấn Độ hay Nam Mỹ vẫn có quy mô còn nhỏ, sức mua hạn chế và chưa thể thay thế vai trò của thị trường Hoa Kỳ trong ngắn hạn. Theo ông, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết, song quan trọng hơn là nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại của doanh nghiệp và tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn, giảm phụ thuộc vào gia công và vào một vài thị trường xuất khẩu lớn.

Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, ngành dệt may đang đối mặt tình trạng thiếu lao động. Theo phản ánh của các doanh nghiệp hội viên, ngay cả những doanh nghiệp quy mô lớn cũng gặp khó khăn trong tuyển dụng và giữ chân người lao động. Trong khi đó, mức thu nhập của ngành chưa đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn lớn ở những lĩnh vực khác, khiến áp lực về nhân lực ngày càng gia tăng, cùng với yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.

Anh Thơ