Năng suất, chất lượng phải là thước đo hiệu quả chính sách khoa học, công nghệ
(Chinhphu.vn) - Hiệu quả của chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ được đo bằng số lượng nhiệm vụ, chương trình hay nguồn lực đã bố trí, mà phải được phản ánh qua năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực tế của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia phát biểu tại Hội thảo - Ảnh: chinhphu.vn/TG
Đây là trọng tâm được đặt ra tại Hội thảo chuyên đề “Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thúc đẩy năng suất quốc gia”, diễn ra ngày 14/8 tại TPHCM. Hội thảo nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Năng suất chất lượng quốc gia năm 2026, do Bộ KH&CN phối hợp Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tổ chức.
Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia (Bộ KH&CN) cho rằng trong giai đoạn phát triển mới, tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn, lao động và khai thác tài nguyên.
Dư địa tăng trưởng bền vững phải đến từ năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực trực tiếp của phát triển.
Theo ông Nguyễn Nam Hải, vấn đề quan trọng không chỉ là khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ mà phải làm rõ cơ chế để tri thức, công nghệ và các nguồn lực hỗ trợ đi vào doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ. Hiệu quả chính sách phải được đo bằng kết quả thực tế.

GS. TS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore phân tích các xu thế định hình chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Ảnh: chinhphu.vn/TG
AI trở thành “hạ tầng năng suất” mới
Theo GS.TS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore, có 7 xu thế đang định hình chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đó là AI trở thành hạ tầng năng suất mới; chuyển từ quản lý R&D sang xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; chuyển từ phát triển năng lực đổi mới sáng tạo sang giải quyết các thách thức quốc gia bằng đổi mới sáng tạo; AI - chuyển đổi số - chuyển đổi xanh trở thành tâm điểm; mô hình “ba nhà” chuyển sang hệ sinh thái mở; Chính phủ chuyển từ cấp ngân sách nghiên cứu sang kiến tạo nền tảng và đổi mới sáng tạo phải lan tỏa trên toàn nền kinh tế.
Từ đó, GS.TS Vũ Minh Khương đề xuất 8 định hướng cho Việt Nam, trong đó có định vị Việt Nam trở thành trung tâm AI và đổi mới sáng tạo của khu vực; AI hóa nền kinh tế, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa; làm chủ năng lực bán dẫn chiến lược; phát triển sản xuất xanh, thông minh; nông nghiệp thông minh, năng lượng phát thải thấp và Chính phủ AI.
Ông cũng đề xuất xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo “ba nhà 2.0”, mở rộng sự tham gia của startup, tổ chức tài chính và đối tác toàn cầu. Đặc biệt, cần phổ cập công nghệ tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp khu vực này không chỉ “mua công nghệ” mà quan trọng hơn là biết cách tạo giá trị từ công nghệ.
Cải cách thể chế để tăng năng suất
Trong khi đó, bà Võ Thị Lan Phương, Giám đốc điều hành Vriens & Partners Việt Nam cho rằng cải cách thể chế cần trở thành động lực trực tiếp để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.
Theo bà Võ Thị Lan Phương, có 6 nhóm chính sách có nguy cơ làm giảm năng suất, gồm tạo chi phí tuân thủ quá lớn; hạn chế cạnh tranh; cản trở đổi mới sáng tạo; làm gia tăng rủi ro; tạo “bẫy quy mô” và bảo hộ kéo dài.
Để khắc phục, cần tăng cường quản lý theo rủi ro, chuyển tiền kiểm sang hậu kiểm khi phù hợp, loại bỏ yêu cầu trùng lặp; hạn chế cạnh tranh chỉ khi thực sự cần thiết; đồng thời không nên cấm cái mới chỉ vì chưa có quy định, mà cần quản lý theo kết quả, tạo sandbox và bảo đảm trung lập công nghệ.
Phát biểu bế mạc, ông Nguyễn Nam Hải nhấn mạnh 3 yêu cầu: Chính sách phải hướng tới kết quả phát triển có thể đo lường; doanh nghiệp phải là trung tâm thực thi chính sách; đồng thời cần hình thành vòng phản hồi thường xuyên giữa cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp để kịp thời nhân rộng mô hình hiệu quả, điều chỉnh những quy định không còn phù hợp.
Theo đó, chất lượng thể chế không chỉ nằm ở việc chính sách được ban hành, mà quan trọng hơn là tốc độ chính sách đi vào cuộc sống và khả năng tạo ra kết quả thực chất cho năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thu Giang