Những chuyển động mới sau Nghị quyết 57-NQ/TW
(Chinhphu.vn) - Chiều 23/6, Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 tổ chức Phiên họp chuyên đề về thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Phiên họp do Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo, chủ trì.

Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long báo cáo về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW. Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tại phiên họp, báo cáo về tình hình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW cho thấy, sau khi Nghị quyết được ban hành, Chính phủ đã chỉ đạo mạnh mẽ về hoàn thiện thể chế, chính sách, các cấp có thẩm quyền đã ban hành 06 Luật, 05 Nghị định, 03 Nghị quyết, 03 Quyết định và nhiều văn bản nhằm khơi thông nguồn lực, tạo nền tảng để triển khai hiệu quả.
Thể chế trở thành “lợi thế cạnh tranh” cho phát triển công nghệ
Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long cho biết, một trong những thay đổi quan trọng sau Nghị quyết 57 là sự chuyển biến trong tư duy xây dựng chính sách. Thể chế không chỉ được xem là công cụ quản lý mà đang trở thành một lợi thế cạnh tranh để tạo không gian phát triển cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Các bộ, ngành đã chủ động nghiên cứu, đề xuất cơ chế thử nghiệm đối với các công nghệ mới, mô hình kinh tế mới; tập trung tháo gỡ những rào cản trong chuyển giao công nghệ lõi, phát triển hạ tầng năng lượng, y tế chuyên sâu, quản lý hạ tầng và nhiều lĩnh vực quan trọng khác.
Cùng với đổi mới thể chế, định hướng nghiên cứu khoa học công nghệ cũng có sự thay đổi rõ nét. Hoạt động nghiên cứu đang từng bước chuyển từ thiên về hàn lâm sang hướng làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và tạo ra sản phẩm có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Nguồn lực đầu tư được định hướng tập trung hơn cho các lĩnh vực mũi nhọn; cơ chế hợp tác công - tư trong nghiên cứu được chú trọng; các tổ chức khoa học công nghệ công lập, trường đại học được tạo điều kiện tham gia thành lập doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh báo cáo về phát triển công nghệ chiến lược. Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Đặt nền móng phát triển công nghệ chiến lược
Cùng với hoàn thiện thể chế, phát triển công nghệ chiến lược đang trở thành một trọng tâm trong triển khai Nghị quyết 57, nhằm nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trong tương lai.
Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh, thời gian qua, Bộ đã đạt được một số kết quả bước đầu. Bộ đã thành lập tổ công tác về công nghệ chiến lược; hoàn thiện Nghị định hướng dẫn Luật Công nghệ cao; ban hành danh mục tiêu chuẩn, công bố 8 quy chuẩn Việt Nam và hoàn thành thẩm định 53 tiêu chuẩn Việt Nam dự kiến ban hành trước ngày 30/6/2026.
Bên cạnh đó, Bộ đã rà soát 16 phòng thí nghiệm trọng điểm và ban hành Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030, tạo nguồn nhân lực phục vụ các lĩnh vực công nghệ mới.
Theo Thứ trưởng Hoàng Minh, thời gian tới, Bộ KH&CN sẽ tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có việc tổ chức thẩm định 24 nhiệm vụ công nghệ chiến lược do 5/10 bộ, ngành hoàn thiện hồ sơ để trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/6/2026.
Đồng thời, Bộ sẽ xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia về công nghệ chiến lược; ban hành Thông tư quy định trình tự thẩm định, tổ chức thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược; phối hợp với Bộ Tài chính triển khai thí điểm cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu phát triển và hỗ trợ mua sắm lô sản phẩm đầu tiên.
Khoa học công nghệ gắn với bài toán phát triển của địa phương
Một điểm nổi bật trong triển khai Nghị quyết 57 là nhiều địa phương bắt đầu tiếp cận khoa học công nghệ theo hướng xuất phát từ lợi thế và nhu cầu phát triển thực tế.
Báo cáo của Bộ Công an - cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 cho thấy, trong nông nghiệp, công nghệ đang được đưa trực tiếp vào sản xuất.
Đơn cử như: Cà Mau nhân rộng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh tuần hoàn ít thay nước (RAS-IMTA) lên quy mô 1.500 ha. Vĩnh Long ứng dụng 62 máy bay không người lái (UAV), phân bón nano và công nghệ nuôi cấy phôi sạch bệnh để nâng cao hiệu quả sản xuất. Đồng Tháp sử dụng nền tảng dữ liệu số giám sát sâu rầy thông minh, giúp giảm chi phí và tiết kiệm hơn 15,4 tỷ đồng mỗi năm trên diện tích lúa.
Một số địa phương cũng tập trung khai thác giá trị bản địa bằng công nghệ. Nghệ An phát triển phân bón hữu cơ vi sinh từ phụ phẩm nông nghiệp, tạo hướng đi cho kinh tế tuần hoàn; Lào Cai ứng dụng công nghệ gen trong bảo tồn giống bản địa; Quảng Trị làm chủ nhiều quy trình công nghệ sinh học để phát triển các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao gắn với OCOP.
Trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch, công nghệ được sử dụng để nâng cao giá trị di sản. Ninh Bình phát triển hệ thống dữ liệu số và AI phục vụ quản lý, bảo tồn di sản; Tuyên Quang phát triển bản đồ số và hướng dẫn viên AI; Điện Biên ứng dụng hệ thống thuyết minh tự động tại khu di tích lịch sử.
Từ nghiên cứu đến sản phẩm, thị trường
Một chuyển động quan trọng khác là khoa học công nghệ đang từng bước gắn với chuỗi giá trị sản xuất, thay vì dừng lại ở nghiên cứu.
Thái Nguyên phát triển nền tảng “Tea Trace Thái Nguyên” với hệ thống truy xuất nguồn gốc, bản đồ số vùng nguyên liệu ứng dụng IoT, hồ sơ chất lượng số và kết nối thương mại điện tử. Cần Thơ xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất cho sản phẩm OCOP nhằm hỗ trợ kiểm soát chất lượng và mở rộng thị trường.
Phú Thọ đưa khoa học công nghệ vào bảo tồn, lai tạo giống bản địa, phát triển vùng nguyên liệu quế hữu cơ; đồng thời huy động hơn 61 tỷ đồng vốn đối ứng từ doanh nghiệp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Khánh Hòa yêu cầu các nhiệm vụ khoa học công nghệ phải có đơn vị tiếp nhận, ứng dụng ngay từ khi phê duyệt và tối thiểu 30% có đồng tài trợ từ doanh nghiệp.
Những kết quả bước đầu cho thấy tinh thần của Nghị quyết 57 đang dần được cụ thể hóa: Khoa học công nghệ không chỉ là lĩnh vực đầu tư cho tương lai mà đang trở thành công cụ giải quyết các bài toán phát triển hiện hữu.
Để tạo ra bước đột phá lớn hơn, yêu cầu đặt ra trong thời gian tới là tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển công nghệ chiến lược, tăng cường liên kết Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp và đưa các kết quả nghiên cứu nhanh chóng đi vào sản xuất, kinh doanh.
Đó sẽ là nền tảng để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Thu Giang