Phác thảo Thăng Long - Hà Nội ngàn năm tuổi
HNP - Ngược dòng lịch sử, trở lại 1000 năm về trước (năm 1010), Lý Công Uẩn - vị vua sáng lập vương triều Lý, ban Chiếu dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đặt tên kinh đô mới là Thăng Long. Lịch sử của nướcViệt nói chung, Thăng Long - Hà Nội nói riêng từ đó bước sang trang sử mới.
Theo dòng chảy thời gian, trải các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn, kinh đô Thăng Long luôn là trung tâm chính trị, văn hóa, giáo dục, thương mại của đất nước. Tên gọi của kinh đô dưới mỗi triều đại cũng thay đổi tùy theo nhãn quan của người đứng đầu đất nước. Nhưng dù ở thời đại nào, dù mang tên gì thì mảnh đất này trong lòng con dân nước Việt và bạn bè thế giới vẫn là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, là nơi “lắng hồn núi sông”, với những phẩm chất trung dũng kiên cường, hào hoa thanh lịch, cần cù, trung hậu.
Nhìn trên bản đồ, Thăng Long - Hà Nội nằm ở phía Tây Bắc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Phía Đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía Tây giáp Phú Thọ và một phần đất của tỉnh Hòa Bình; phía Nam giáp Hà Nam và Hòa Bình; phía Bắc giáp Vĩnh Phúc và Thái Nguyên.
Nằm trên vùng châu thổ sông Hồng, thủ đô Hà Nội có diện tích 3.324.92 km2, với ba phần tư diện tích tự nhiên là đồng bằng, còn lại là diện tích đồi núi thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Quốc Oai với các đỉnh núi cao như Ba Vì (1.281m), Gia Dê (707m), Chân Chim (462m), Thiên Trù (378m).
Tính đến 0h ngày 1/4/2009, dân số Hà Nội có 6.448.837 người (chiếm 7,51% dân số cả nước), nơi đông dân nhất thành phố là huyện Từ Liêm, mật độ dân số trung bình là 1.926 người/km2, nơi có mật độ dân đông nhất là quận Đống Đa: 36.550 người/km2, mật độ dân số thấp nhất là huyện Ba Vì với 576 người/km2.
Căn cứ vào những di chỉ khảo cổ, con người đã xuất hiện và sống ở Hà Nội từ cách đây hai vạn năm. Họ chủ yếu sinh sống bằng trồng trọt, chăn nuôi, chài lưới. Thế kỷ thứ 3 tr CN, với sự kiện Thục Phán chọn đóng đô ở Cổ Loa, lần đầu tiên Hà Nội trở thành một đô thị trung tâm chính trị, ngoại giao.
Trong quá khứ Thăng Long – Hà Nội đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính. Lần thay đổi gần đây nhất là vào tháng 8/2008. Hà Nội cũng trở thành thủ đô có diện tích lớn thứ 17 trên thế giới. Thay đổi đó đã mang lại cho vùng đất này một diện mạo mới, một sức sống mới. Hiện Hà Nội có 29 quận, huyện, thị xã (trong đó có 10 quận, 18 huyện, và 1 thị xã). Mỗi vùng đất của Hà Nội nay, Thăng Long xưa đều chứa đầy huyền tích, những dấu ấn lịch sử, những công trình văn hóa vật thể, phi vật thể, những làng nghề truyền thống...Đó là kết quả của những sáng tạo không ngừng của bao lớp cha anh. Tất cả đều được gìn giữ, được bảo vệ bằng mồ hôi, nước mắt, xương máu của người Thăng Long - Hà Nội. Để hôm nay, sau 1000 năm,Việt Nam “Có một Thăng Long huyền thoại/Rồng lên từ phía sông Hồng/ Có một Thăng Long áo mỏng/ Gió đùa quanh tấm lưng ong/ Có một Thăng Long thương nhớ/ Người đi mở cõi mơ về...” (thơ Đỗ Trung Lai).
Từ Hồ Gươm trung tâm của Hà Nội nhìn ra “bốn phương tám hướng” là 29 quận, huyện, thị xã; đó là 29 miền đất của Thăng Long – Hà Nội. Mỗi miền đất có những đặc điểm riêng về địa lý, thổ nhưỡng, dân số...và theo đó là những nét khác biệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Bài viết này xin phác họa -giới thiệu với bạn đọc 29 quận, huyện, thị xã của Thăng Long – Hà Nội hôm nay.
Quận Ba Đình
Diện tích: 9,29 km2.
Dân số: 217.767 người.
Vị trí địa lý: Bắc giáp quận Tây Hồ, Nam giáp quận Đống Đa, Đông giáp sông Hồng, Tây giáp quận Cầu Giấy, Đông Nam giáp quận Hoàn Kiếm.
Đơn vị hành chính: 14 phường (Cống Vị, Điện Biên, Đội Cấn, Giảng Võ, Kim Mã, Liễu Giai, Ngọc Hà, Ngọc Khánh, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công, Trúc Bạch, Vĩnh Phúc).
Từ thế kỷ thứ X, khi Lý Thái Tổ quyết định lập đô mới ở Đại La và đặt tên là Thăng Long, vùng đất này đã được chọn để xây dựng Hoàng thành, nơi vua ở và làm việc. Cũng từ đó đến nay, Ba Đình luôn là trung tâm hành chính, chính trị, ngoại giao... của thủ đô. Mùng 2 tháng 9 năm 1945, tại Vườn hoa Ba Đình, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc. Ba Đình cũng vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm nơi ở và làm việc, cũng là nơi lưu giữ thi hài của người cho muôn đời sau...Vùng đất này có 107 di tích lịch sử văn hóa. Thắng cảnh Hồ Tây huyền thoại và nhiều di tích lịch sử văn hóa có tuổi đời đã nghìn năm như Chùa Một Cột, Đền Quán Thánh – một trong Thăng Long tứ trấn; Đền Voi Phục - trấn giữ phía tây kinh thành Thăng Long; Chùa Trấn Quốc...Nhà Sàn, nơi Bác Hồ sống và làm việc; Lăng Bác – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh an giấc ngàn thu cùng với Bảo tàng Hồ Chí Minh thu hút du khách gần xa...
Quận Ba Đình đã hoàn thành cổ phần hóa 100% doanh nghiệp Nhà nước thuộc quận. Trên địa bàn quận hiện nay có hơn 3000 doanh nghiệp đang hoạt động; thu ngân sách luôn hoàn thành vượt mứ kế hoạch được giao.
Mùa Xuân cũng là mùa diễn ra nhiều lễ hội văn hóa trên địa bàn quận. Nổi tiếng, và đậm nét văn hóa Thăng Long là lễ hội Thập tam trại, hội đình Vạn Phúc thờ Linh Lang Đại Vương (theo truyền thuyết là con thứ 4 của Lý Thánh Tôn), hội đền Voi Phục, hội đền Quán Thánh...Ba Đình có 74 di tích lịch sử văn hóa và cách mạng, đây là những địa chỉ văn hóa tin cậy. Mới đây, vào dịp kỷ niệm Thăng Long - Hà Nội ngàn năm tuổi, tổ chức UNESCO đã trao bằng công nhận Hoàng thành Thăng Long là Di sản văn hóa thế giới.
Ba Đình – vùng đất “địa linh” này đã được Đảng và Chính phủ trao tặng các danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.
Quận Cầu Giấy
Diện tích:19,95 km2
Dân số: 218.247 người
Vị trí địa lý: Bắc giáp quận Tây Hồ, Nam giáp quận Thanh Xuân, Tây giáp huyện Từ Liêm, Đông giáp quận Đống Đa.
Đơn vị hành chính: 8 phường (Dịch Vọng, Dịch Vọng Hậu, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa,Trung Hòa, Yên Hòa)
Xa xưa, quận Cầu Giấy là một phần của huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây. Thời Nhà Nguyễn (1881) thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Năm 1954 thuộc quận VI. Năm 1961, khi thành lập 4 khu phố nội thành và 4 huyện ngoại thành, thì Cầu Giấy thuộc huyện Từ Liêm...Năm 1996, quận Cầu Giấy chính thức được thành lập. Nằm ở phía Tây trung tâm Hà Nội, gần 30 năm trước, Cầu Giấy là một quận ven nội. Sản xuất lương thực là chủ yếu, cánh đồng lúa kéo sát đến chân quốc lộ 32. Vài chục năm gần đây, tốc độ đô thị hóa đã khiến Cầu Giấy thay da đổi thịt hàng ngày. Quận Cầu Giấy nổi tiếng bởi các trận đánh của nghĩa quân yêu nước đã tiêu diệt hai tên quan Pháp Francis Garnier và Henri Riviere năm 1873 và 1883 tại cầu Cầu Giấy...Mảnh đất này nổi tiếng với những làng nghề, những món ăn dân giã. Đó là Cốm Vòng (Dịch Vọng); làm đồ vàng mã, giấy bản, giấy moi ở Làng Cót (Yên Hòa); sản xuất hương ở làng Giàn; làm kẹo mạch nha ở Nghĩa Đô...Cầu Giấy mang trên mình 66 di tích lịch sử danh thắng, trong đó có nhiều đình chùa khá nổi tiếng, như Chùa Hà, chùa Hoa Lãng thờ mẹ của vị thiền sư Từ Đạo Hạnh...Cầu Giấy là quê hương của nhiều tiến sỹ đỗ đạt thời phong kiến (làng Giấy có 8 tiến sỹ, làng Cót 8 tiến sỹ, làng Nghĩa Đô 3 tiến sỹ). Trên địa bàn quận có 80 cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và cấp bộ...
Quận Đống Đa
Diện tích: 10,67 km2
Dân số:356.504 người
Vị trí địa lý: Bắc giáp quận Ba Đình, Nam giáp quận Thanh Xuân, Đông giáp quận Hai Bà Trưng, Tây giáp quận Cầu Giấy
Đơn vị hành chính: 21 phường (Cát Linh, Hàng Bột, Láng Hạ, Láng Thượng, Kim Liên, Khâm Thiên, Khương Thượng, Nam Đồng, Ngã Tư Sở, Ô Chợ Dừa, Phương Liên, Phương Mai, Quang Trung, Quốc Tử Giám, Thịnh Quang, Thổ Quan, Trung Liệt, Trung Phụng, Trung Tự, Văn Chương, Văn Miếu)
Vùng đất này có nhiều hồ khá nổi tiếng như Hồ Ba Mẫu, Kim Liên, Xã Đàn, Văn Chương. Do tốc độ đô thị hóa nhanh nên diện tích một số hồ đã bị thu hẹp. Là quận có diện tích “khiêm tốn”, dân số lại đông nhất Hà Nội, song đây là mảnh đất nổi tiếng bởi gắn với những sự kiện lịch sử quan trọng của Thăng Long – Hà Nội như: Quang Trung đại phá quân Thanh ở Ngọc Hồi; Pháo Đài Láng nổ những phát súng đầu tiên trong mùa đông năm 1946 mở đầu cho Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược...Cũng tại Đống Đa lưu dấu nhiều danh thắng nổi tiếng: như Đàn Xã Tắc, một di tích có từ thời nhà Lý, là nơi để các bậc quân vương làm lễ tế trời đất cầu mưa thuận gió hòa; Văn Miếu Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của nước nhà - di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng với Khuê Văn Các biểu tượng của văn hiến Thăng Long - Hà Nội; Tượng đài Quang Trung dựng tại gò Đống Đa cùng lễ hội được tổ chức vào mùng 5 tết hàng năm đã đi vào tâm thức của người Hà Nội; chùa Láng cổ kính, đền Bích Câu với huyền tích Từ Thức gặp tiên nổi tiếng...102 di tích lịch sử văn hóa của quận đều gắn với những nhân vật lịch sử hoặc sự kiện gắn với Đống Đa, và Thăng Long – Hà Nội. Với bề dầy thành tích trong lao động, trong chiến đấu nên Đống Đa là quận đầu tiên của Hà Nội được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang...
Quận Hai Bà Trưng
Diện tích:13,5 km2.
Dân số: 290.196 người.
Vị trí địa lý: Đông giáp sông Hồng, Nam giáp quận Hoàng Mai,Tây giáp quận Đống Đa và Thanh Xuân, Bắc giáp quận Hoàn Kiếm.
Đơn vị hành chính: 20 phường (Bách Khoa, Bạch Đằng, Bùi Thị Xuân, Cầu Dền, Đống Mác, Đồng Nhân, Đồng Tâm, Lê Đại Hành, Mai Động, Minh Khai, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Phố Huế, Quỳnh Lôi, Quỳnh Mai, Tương Mai, Thanh Lương, Thanh Nhàn, Trương Định).
Năm 1958 vùng đất ở phía Nam thành phố lần đầu tiên được mang tên Quận Hai Bà Trưng. 51 năm đã trôi qua, vùng đất này đã có nhiều thay đổi. Nơi đây còn lưu giữ dấu tích ba cửa ô của kinh đô Thăng Long xưa, đó là Ô Đồng Lầm, Ô Đống Mác, Ô Cầu Dền, dấu tích Đàn Nam Giao, đền thờ Hai Bà Trưng và 85 di tích lịch sử văn hóa khác...Trên địa bàn quận có Trường Đại học Bách khoa được khánh thành ngày 15/10/1956...Đây là trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực hàng đầu của giáo dục Việt Nam. Cùng với Trường Đại học Bách khoa còn có một loạt các trường đại học danh tiếng khác như Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Xây Dựng...Cầu Vĩnh Tuy dài 6.000m2, với 4 làn xe được thiết kế hiện đại, là công trình kỷ niệm 1000 nămThăng Long, vừa được thông xe ngày 26/9, nhằm giải quyết tình trạng quá tải, ách tắc giao thông tuyến Hà Nội đi phía Bắc, và phía Đông, giảm tải cho cầu Chương Dương.
Quận Hoàn Kiếm
Diện tích: 5,29 km2.
Dân số: 143.061 người.
Vị trí địa lý: phía Đông giáp sông Hồng, Tây giáp Ba Đình, Đống Đa, Nam giáp quận Hai Bà Trưng, Bắc giáp quận Ba Đình.
Đơn vị hành chính: 18 phường (Cửa Đông, Cửa Nam, Chương Dương, Đồng Xuân, Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Buồm, Hàng Đào, Hàng Gai, Hàng Mã, Hàng Trống, Lý Thái Tổ, Phan Chu Trinh, Phúc Tân, Tràng Tiền, Trần Hưng Đạo)
Nằm ở trung tâm thành phố, Hoàn Kiếm giữ một vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, văn hóa, thương mại, du lịch... của thủ đô. Nói đến Hoàn Kiếm là nói đến danh thắng Hồ Gươm, đến phố cổ quanh co, với các nghề thủ công nổi tiếng (thêu, tranh Hàng Trống, chạm khắc bạc, chế tác đồ gia dụng bằng thiếc, bằng đồng...). Quần thể di tích lịch sử văn hóa xung quanh Hồ Gươm: đền Ngọc Sơn, đền Bà Kiệu, đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ (là Thành hoàng quốc đô Thăng Long), chùa Bà Đá, tượng đài Vua Lê, tượng đài Lý Thái Tổ, cùng với di tích Lịch sử 48 Hàng Ngang nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập...là những địa chỉ hấp dẫn khách du khách. Cầu Long Biên vừa kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100. Những danh thắng nổi tiếng trên nằm trong số 176 di tích lịch sử danh thắng của quận (trong đó 36 di tích đã được sếp hạng). Nhiều cư dân Hoàn Kiếm đã kề vai sát cánh cùng người Hà Nội xuống đường Tổng khởi nghĩa tháng 8, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong những ngày toàn quốc kháng chiến, chợ Đồng Xuân và khu phố cổ đã diễn ra nhiều trận đánh oanh liệt chống lại quân xâm lược Pháp. Mỗi góc phố, mỗi con đường nơi đây đã thấm máu bao chiến sỹ Trung đoàn thủ đô “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Đúng 16 giờ ngày 9/10/1954 người lính Pháp cuối cùng trong đoàn quân viễn chinh đã dời nội thành Hà Nội qua cầu Long Biên… về Pháp. Theo đó, ngày 10/10/1954, Hoàn Kiếm đã cùng nhân dân Hà Nội, tưng bừng chào đón đoàn quân tiến về tiếp quản Thủ đô. Hai lần đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh ném bom phá hoại miền Bắc và Hà Nội, người Hoàn Kiếm đã sát cánh cùng nhân dân thủ đô trong cuộc xây dựng, chiến đấu bảo vệ Thủ đô yêu dấu. Năm 1975, hòa bình trở lại, người Hoàn Kiếm lại cần cù, chăm chỉ, lỗ lực phấn đấu trong học tập, lao động, sản xuất góp phần xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại.
Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, nhân dân và cán bộ quận Hoàn Kiếm đã vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới do Đảng và Nhà nước phong tặng.
Quận Hoàng Mai
Diện tích: 41,041 km2
Dân số: 329.098 người
Vị trí địa lý: Phía Đông giáp sông Hồng, Tây và Nam giáp huyện Thanh Trì, Bắc giáp quận Thanh Xuân và quận Hai Bà Trưng.
Đơn vị hành chính:14 phường (Đại Kim, Định Công, Giáp Bát, Hoàng Liệt, Hoàng Văn Thụ, Lĩnh Nam, Mai Động, Tân Mai, Tương Mai, Thanh Trì, Thịnh Liệt, Trần Phú, Vĩnh Hưng, Yên Sở)
Quận Hoàng Mai nằm ở phía Đông Nam thành phố. Được thành lập năm 2003, theo quyết định của Chính phủ, bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số các xã Định Công, Đại Kim, Hoàng Liệt, Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Lĩnh Nam, Trần Phú, Yên Sở, một phần diện tích xã Tứ Hiệp; cùng toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số các phường Mai Động, Tương Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ của quận Hai Bà Trưng. Hoàng Mai có nhiều tiềm năng kinh tế. Các đường giao thông thủy, bộ quan trọng đều chạy qua địa bàn quận như: sông Hồng, quốc lộ 1A, 1B, đường vành đai 3, cầu Thanh Trì. Nhiều làng nghề và đặc sản nổi tiếng của Hà Nội cũng có mặt ở đây. Đó là bánh cuốn Thanh Trì, rượu Hoàng Mai, bún ốc Pháp Vân, đậu phụ Mơ, làng cá Yên Sở, làng trồng hoa và rau sạch Vĩnh Hưng, Lĩnh Nam...Hoàng Mai là đất nhân kiệt với những danh nhân nổi tiếng như Bùi Huy Bích, Nguyễn Văn Siêu, Bùi Xương Trạch, Nguyễn Công Thể...Tốc độ đô thị ở vùng đất này diễn ra nhanh chóng. Một số khu đô thị Định Công, Linh Đàm, Đền Lừ...mới được xây dựng đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của quận. Trên đất quận còn lưu giữ 78 di tích lịch sử văn hóa (47 di tích đã được xếp hạng).
Quận Long Biên
Diện tích: Diện tích 60,38 km2
Dân số: 218.865 người
Vị trí địa lý: phía Đông giáp huyện Gia Lâm, Tây và Nam quận Hoàn Kiếm, hai Bà Trưng (ranh giới là sông Hồng), bắc giáp huyện Đông Anh và huyện Gia Lâm.
Đơn vị hành chính: 14 phường (Bồ Đề, Cự Khối, Đức Giang, Gia Thụy, Giang Biên, Long Biên, Ngọc Lâm, Ngọc Thụy, Phúc Đồng, Phúc Lợi, Sài Đồng, Thạch Bàn, Thượng Thanh, Việt Hưng)
Quận Long Biên nằm giữa tả ngạn sông Hồng và hữu ngạn sông Đuống.Trục giao thông quan trọng nối Hà Nội với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên chạy trên địa bàn quận. Sân bay Gia Lâm, các khu công nghiệp Đài Tư, Sài Đồng A và Sài Đồng B và một số khu đô thị mới được xây dựng như Việt Hưng, Phúc Đồng, Thạch Bàn khiến cho bộ mặt của quận thêm sắc thái mới. Cầu Vĩnh Tuy được đưa vào sử dụng cùng với đường dẫn nằm trên địa bàn quận đã góp phần giải quyết ách tắc giao thông từ nội thành đi các tỉnh phía Đông và phía Bắc Hà Nội.
Quận được thành lập theo Nghị định 132/2003/NĐ-CP ngày 6/11/2003 của Chính phủ. Đến ngày 1/1/2004, bộ máy chính trị của quận chính thức đi vào hoạt động. Diện tích tự nhiên và dân số của quận được hình thành trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã Thượng Thanh, Giang Biên, Ngọc Thụy, Việt Hưng, Hội Xá, Gia Thụy, Bồ Đề, Long Biên, Thạch Bàn, Cự Khối và các thị trấn Gia Lâm, Đức Giang, Sài Đồng. Dù tốc độ đô thị hóa nhanh song người dân Long Biên luôn trân trọng và gìn giữ những di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng gắn với những anh hùng, hào kiệt của Hà Nội nói riêng của đất nước nói chung. Long Biên có 76 di tích lịch sử văn hóa (38 di tích đã được xếp hạng). Tại đình Tình Quang (Giang Biên) còn lưu giữ những sắc phong, thần phả ghi nhận công đức của Lý Nam Đế, vị anh hùng đã có công dẹp giặc Lương, lập nên nhà nước Vạn Xuân, và cũng là người đầu tiên đặt nền móng cho việc định đô ở Thăng Long – Hà Nội, bằng việc xây dựng một tòa thành bằng tre nứa ở ven dòng sông Tô lịch sử. Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ thần bất hủ “Nam quốc sơn hà”, vốn là người ở phường Cơ Xá, sau chuyển đến Bắc Biên (Ngọc Thụy), nay còn di tích thờ ngài ở đình làng Bắc Biên. Bình Định Vương Lê Lợi và Nguyễn Trãi năm 1426 đã chọn Bồ Đề để làm đại bản doanh chỉ huy quân đội bao vây thành Đông Quan bị tướng nhà Minh chiếm đóng. Đình làng Lệ Mật thờ Hoàng Quy Công, là người có công “chống Tống, Bình Chiêm”. Dân vùng Ngọc Trì (Thạch Bàn) dựng đền thờ Trấn Vũ bởi theo họ ngài là hiện thân của việc chinh phục thiên nhiên chống lũ lụt, cầu mưa thuận gió hòa, mùa vụ bội thu. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà văn hóa lớn của Việt Nam thế kỷ XVI đã chọn Thanh Am để sống và làm việc những ngày cuối đời. Mùa xuân cũng là mùa lễ hội, người dân quận Long Biên náo nức với lễ hội Lệ Mật, với các trò chơi dân gian chọi gà, đánh đu, bắt vịt dưới nước, bắt chạch trong chum, kéo co...với hát quan họ, chầu văn, chèo truyền thống...
Quận Tây Hồ
Diện tích: 24 km2
Dân số: 126.726 người.
Vị trí địa lý: Phía Tây và Tây Nam giáp quận Cầu Giấy và huyện Từ Liêm; Đông Nam và Nam giáp quận Ba Đình; phía Bắc và Đông là sông Hồng, Đông Anh, Gia Lâm.
Đơn vị hành chính: 8 phường (Bưởi, Nhật Tân, Phú Thượng, Quảng An, Tứ Liên, Thụy Khuê, Xuân La, Yên Phụ...)
Thành lập tháng 12/1995, Tây Hồ là quận có diện tích lớn thứ tư sau quận Hoàng Mai. Nằm ở phía Tây Bắc Hà Nội, Tây Hồ có tổng diện tích quy hoạch 847,41ha với quy mô dân số 78.000 người. Trong đó đất ở chiếm 72,42%, đất công cộng 10,37%, đất các dự án được lập quy hoạch là 10,60%...Ngày 29/6/2001 UBND thành phố đã phê duyệt quy hoạch của quận. Nơi đây có danh thắng Hồ Tây rộng 526 ha, được mệnh danh là đệ nhất hồ của Hà Nội. Quận Tây Hồ có 92 di tích lịch sử thì, xung quanh hồ đã có tới 62 di tích lịch sử văn hóa, tiêu biểu như Chùa Kim Liên, Phủ Tây Hồ, Chùa Tảo Sách...Nhiều người biết đến vùng đất này còn vì ở đây có những làng nghề truyền thống đã được ghi vào sử sách. Nổi tiếng là nghề làm giấy dó cổ truyền ở Yên Thái “chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng/ lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co”; nghề trồng hoa, cây cảnh ở Ngọc Hà, Nhật Tân, Quảng Bá. Quận Tây Hồ cũng có những sản vật nhiều người biết tới như “sâm cầm Hồ Tây” (vải Quang, húng Láng, ngổ đầm/ cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây), hoặc sen Hồ Tây lưu dấu trong lòng người “đấy vàng đây cũng đồng đen/ đấy hoa thiên lý đây sen Tây Hồ”...Những người yêu vùng đất này không thể không biết “Bát cảnh Tây Hồ”. Đó là “Bến Trúc Nghi Tàm, Rừng bàng Yên Thái, Đàn thề Đồng Cổ, Phật say làng Thụy, Sâm Cầm rợp bóng, Đồng bông Nghi Tàm, Chợ đêm Khán Xuân và Tiếng đàn hành Cung”. Con đường Cổ Ngư gắn với kỷ niệm tuổi hoa niên của nhiều chàng trai cô gái Hà Thành.
Trong định hướng phát triển của Thủ đô đến năm 2020, quận Tây Hồ thuộc khu vực phát triển mạnh của Hà Nội. Khu đô thị mới nằm ở phía Nam của quận (CIPUTRA) được tổ chức theo hình thức quần thể cao tầng, biệt thự nhà vườn, hình thành các trục cây xanh, khu vui chơi giải trí...
Quận Thanh Xuân
Diện tích: 9,11km2
Dân số: 214.509 người. Mật độ dân số:18.990 người/km2.
Vị trí địa lý: phía Đông giáp quận Hai Bà Trưng, phía Tây giáp Từ Liêm và quận Hà Đông, phía Nam giáp huyện Thanh Trì, phía Bắc giáp quận Đống Đa và Cầu Giấy.
Đơn vị hành chính: 11 phường (Hạ Đình, Kim Giang, Khương Đình, Khương Mai, Khương Trung, Nhân Chính, Phương Liệt, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân Trung, Thượng Đình).
Nằm ở phía Tây Nam của Hà Nội, quận Thanh Xuân được thành lập ngày 22/11/1996, trên cơ sở tách một phần diện tích từ quận Đống Đa, huyện Thanh Trì, huyện Từ Liêm. Bộ máy hành chính và các tổ chức chính trị xã hội của Thanh Xuân chính thức bước vào hoạt động từ 01/01/1997. Như tên gọi của vùng đất, Thanh Xuân là một quận trẻ có tốc độ đô thị hóa nhanh, đường vành đai 3, dài 2,34 km - huyết mạch giao thông của thành phố chạy qua địa bàn quận. Quận Thanh Xuân xác định phát triển kinh tế với cơ cấu công nghiệp – dịch vụ theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ. Nếu năm 1997 trên địa bàn quận có 97 doanh nghiệp thì, mười một năm sau, năm 2008 số doanh nghiệp trên địa bàn quận đã tăng lên 2164 (trong đó có 2138 là doanh nghiệp tư nhân). Trên đất của quận tập trung một số trường đại học nổi tiếng của quốc gia như: Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Kiến trúc, Đại học Hà Nội. Nơi đây có khu công nghiệp Thượng Đình với các nhà máy Cơ khí Hà Nội, Bóng đèn phích nước Rạng Đông, Cao su Sao vàng, Thuốc lá Thăng Long. Làng nghề làm đồ chơi trẻ em bằng sắt nổi tiếng xa xưa Khương Hạ (phường Khương Đình). Thanh Xuân còn là quê hương của tác giả “Chinh phụ ngâm” Đặng Trần Côn, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân...Thanh Xuân là quận có số lượng di tích lịch sử không nhiều (28 di tích), nhưng có đến 20 di tích đã được xếp hạng. Một số di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng như Gò Đống Thây (thuộc đất Nhân Chính tên cổ là kẻ Mọc – xưa kia nơi đây là chiến trường của nghĩa quân Lam Sơn đánh quân Minh, và Đô đốc Long chỉ huy quân Tây Sơn đánh quân xâm lược nhà Thanh giải phóng Thăng Long). Đình làng Quan Nhân (phường Nhân Chính, thờ thành hoàng Trung Nghĩa Đại Vương – cháu 9 đời của Hùng Hiền Vương), Đình Cự Chính (phường Nhân Chính thờ Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão...)
Quận Hà Đông
Diện tích: 47,91 km2
Dân số: 225.106 người
Vị trí địa lý: phía Đông giáp huyện Thanh Trì; phía Tây giáp huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Chương Mỹ; phía Nam giáp huyện Thanh Oai, Chương Mỹ; phía Bắc giáp huyện Từ Liêm và Hoài Đức.
Đơn vị hành chính: 17 phường (Hà Cầu, La Khê, Mộ Lao, Nguyễn Trãi, Phú La, Phúc La, Quang Trung, Vạn Phúc, Văn Quán, Yết Kiêu, Biên Giang, Dương Nội, Đồng Mai, Kiến Hưng, Phú Lãm, Phú Lương, Yên Nghĩa).
Khởi thủy quận Hà Đông nguyên là làng Cầu Đơ thuộc huyện Thanh Oai phủ Ứng Hòa tỉnh Hà Nội. Xưa kia nơi đây có Cầu Đơ lợp ngói bắc qua dòng sông Nhuệ. Năm 1888 thành lập tỉnh Cầu Đơ. Năm 1904 tỉnh Cầu Đơ đổi thành tỉnh Hà Đông, theo đó thị xã Hà Đông cũng ra đời.
Quận Hà Đông cách trung tâm thành phố 11km, dọc theo quốc lộ 6 (huyết mạch giao thông nối Hà Nội với các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên). Đây là quận có diện tích lớn thứ hai của Hà Nội (sau quận Long Biên). Hà Đông đã có những bước tiến mạnh mẽ về nhiều mặt kinh tế, văn hóa, xã hội...Tốc độ đô thị hóa nhanh với những khu đô thị Văn Quán, Văn Khê, Dương Nội, Mỗ Lao, Lê Trọng Tấn, An Hưng cùng với dự án khu nhà ở cao cấp và văn phòng cho thuê Golden Palace...đã và sẽ khiến cho bộ mặt của quận thêm thay đổi. Hà Đông nổi tiếng có lụa Vạn Phúc “nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”. Vạn Phúc cũng là An toàn khu của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ trong kháng chiến chống Pháp. Tại đây, Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung ương mở rộng và viết lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Làng La Khê lại nổi danh vì “trai làng có quận công, tiến sỹ; gái làng có vương phi, hoàng hậu”. Người ta biết đến Đa Sỹ vì nơi đây nổi tiếng về đạo học (thời phong kiến có 11 người đỗ tiến sỹ), về khéo tay hay nghề (con dao, chiếc kéo...do người Đa Sỹ rèn được người tiêu dùng ưa chuộng), về nghề thuốc (vùng quê này còn được ghi nhận bởi có nhiều bài thuốc nam có công dụng bồi bổ sức khỏe, chữa một số bệnh nan y cho chúng sinh)...Quận Hà Đông có 121 di tích lịch sử (trong đó 74 di tích đã được công nhận). Đây cũng là vùng đất có nhiều bậc hiền tài.
Thị xã Sơn Tây
Diện tích: 113,46km2.
Dân số: 116.967 người.
Vị trí địa lý: Đông giáp huyện Phúc Thọ, Tây giáp huyện Ba Vì, Nam giáp huyện Thạch Thất, Bắc giáp huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc.
Đơn vị hành chính: 9 phường (Lê Lợi, Ngô Quyền, Phú Thịnh, Quang Trung, Sơn Lộc, Trung Hưng, Trung Sơn Trầm, Viên Sơn, Xuân Khanh)
Và 6 xã (Cổ Đông, Đường Lâm, Kim Sơn, Sơn Đông, Thanh Mỹ, Xuân Sơn).
Sơn Tây là vùng đất cổ, cách trung tâm thủ đô 42 km. Đây là một vùng đồi, gò bán sơn địa, có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh – quốc phòng. Sơn Tây án ngữ cửa ngõ phía đông thành phố, nằm trong chuỗi đô thị vệ tinh (Miếu Môn, Xuân Mai, Hòa Lạc, Sơn Tây). Hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy thuận lợi nối với các tỉnh phía Tây Bắc và xuôi về phương nam. Trên địa bàn quận có 50 cơ quan, doanh nghiệp, trường học. Khoảng 50.000 nhân khẩu của Sơn Tây là quân nhân, học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
Là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, có truyền thống lịch sử lâu đời, nơi hội tụ của nền văn hóa “Xứ Đoài”, trên địa bàn Sơn Tây có 157 di tích, trong đó 51 di tích đã được xếp hạng, tiêu biểu là Thành Cổ, Đền Và, Chùa Mía, Đền thờ Bố Cái Đại Vương, Lăng Ngô Quyền, quần thể di tích làng cổ Đường Lâm...Khu du lịch sinh thái Đồng Mô, hồ Xuân Khanh, Sân gôn Thung lũng Vua, Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam là những thắng cảnh nổi tiếng của Sơn Tây. Hiện Sơn Tây đang triển khai một loạt dự án, xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch sinh thái, du lịch văn hóa...UBND TP Hà Nội đã chỉ đạo các cơ quan liên quan lập quy hoạch Thị xã Sơn Tây đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030. Dự án đề ra mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây đến năm 2020 với những giải pháp đột phá phù hợp với định hướng phát triển chung của thành phố và vùng thủ đô. Trên cơ sở đó xây dựng các chương trình, dự án ưu tiên làm cơ sở đưa kinh tế của Sơn Tây phát triển với tốc độ nhanh và bền vững.
Huyện Ba Vì
Diện tích: 428 km2.
Dân số: 241.887 người.
Vị trí địa lý: Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây; đông bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc; phía Tây và phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, Nam và Đông Nam giáp Lương Sơn và Kỳ Sơn.
Đơn vị hành chính: một thị trấn và 30 xã
Thị trấn Tây Đằng
Các xã: Ba Trại, Ba Vì, Cam Thượng, Cẩm Lĩnh, Cổ Đô, Châu Sơn, Chu Minh, Đông Quang, Đồng Thái, Khánh Thượng, Minh Châu, Minh Quang, Phong Vân, Phú Cường, Phú Châu, Phú Đông, Phú Phương, Phú Sơn, Sơn Đà, Tản Hồng, Tản Lĩnh, Tiên Phong, Tòng Bạt, Thái Hòa, Thuần Mỹ, Thụy An, Vạn Thắng, Vân Hòa, Vật Lại, Yên Bài.
Ba Vì là huyện tận cùng phía tây bắc của Hà Nội và cũng là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất trong số các huyện của Hà Nội. Cách trung tâm Hà Nội 60 km về phía Tây. Đây là là huyện bán sơn địa, với ba vùng địa hình rõ rệt. Đó là vùng núi, vùng đồi gò và đồng bằng. Sinh cơ lập nghiệp trên mảnh đất này ngoài dân tộc Kinh, còn có dân tộc Mường, dân tộc Dao (khoảng 2,2 vạn người) và một số dân tộc thiểu số khác. Trong số 30 xã của huyện thì có 7 xã miền núi, và 01 xã nằm giữa sông Hồng.
Trong số 18 huyện của Hà Nội thì Ba Vì là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp. Là vùng đất hợp lưu của ba con sông, đó là sông Đà, sông Lô, và sông Thao, nên nơi đây phong cảnh sơn thủy hữu tình hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển nền kinh tế “không khói” - du lịch dịch vụ.
Ba Vì nằm trong vùng văn hóa “Xứ Đoài”, nổi tiếng với truyền thuyết “Sơn Tinh Thủy Tinh”, với triết lý ngàn đời của dân tộc ta “chung sống hòa bình với thiên nhiên, nhưng khi cần phải biết chinh phục thiên nhiên”. Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh chính là lịch sử của cư dân Việt cổ trên bước đường chinh phục đồng bằng sông Hồng. Nơi đây cũng tập trung 433 di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng, trong đó có 60 di tích đã được xếp hạng. Đây là mảnh đất mà mật độ di tích lịch sử dày đặc nhất Hà Nội. Những ngôi đình cổ nhất, kiến trúc độc đáo nhất ở Việt Nam đều có mặt ở Ba Vì, như: Đình Tây Đằng, đình Thụy Phiêu, đình Thanh Lũng. Trên mảnh đất này còn lưu giữ những sinh hoạt văn hóa mang tính cộng đồng đậm nét, ấy là hát ru, ném còn, biểu diễn cồng chiêng...của dân tộc Mường; là múa chuông...của dân tộc Dao.
Núi Ba Vì (1200ha), hồ Suối Hai (1000ha), hệ sinh thái đa dạng với núi rừng, đầm hồ, thác suối...đã hình thành các khu du lịch thu hút đông đảo khách tham quan, như: Vườn Quốc gia Ba Vì, Khoang Xanh Suối Tiên, Ao Vua Thác Đa, Thiên Sơn Thác Ngà, Đầm Long Bằng Tạ, Hồ Suối Hai, Đồi Cò Ngọc Nhị, Nước khoáng nóng Thuần Mỹ...Đặc biệt quần thể di tích Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ nép mình trên núi Tản Viên là nơi không thể không đến của những ai ưa du lịch văn hóa - tâm linh. Vì hội tụ nhiều danh lam thắng cảnh, cộng với khí hậu mát mẻ...nên ngành du lịch của huyện đã và sẽ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Huyện Chương Mỹ
Diện tích: trên 211, 84km2.
Dân số: 284.183 người.
Vị trí địa lý: Phía Đông giáp huyện Thanh Oai, Tây và Tây Nam giáp Lương Sơn - Hòa Bình, Bắc và Tây Bắc giáp huyện Quốc Oai, Nam giáp huyện Mỹ Đức.
Đơn vị hành chính: 2 thị trấn và 30 xã.
Thị trấn: Chúc Sơn và Xuân Mai
Các xã: Đại Yên, Đông Phương Yên, Đông Sơn, Đồng Lạc, Đồng Phú, Hòa Chính, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Hồng Phong, Hợp Đồng, Hữu Văn, Lam Điền, Mỹ Lương, Nam Phương Tiến, Ngọc Hòa, Phú Nam An, Phú Nghĩa, Phụng Châu, Quảng Bị, Tân Tiến, Tiên Phương, Tốt Động, Thanh Bình, Thủy Xuân Tiên, Thụy Hương, Thượng Vực, Trần Phú, Trung Hòa, Trường Yên, Văn Võ.
Là huyện nằm ở phía Tây Nam của Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 20km. Chương Mỹ có ba con sông: sông Đáy, sông Tích và sông Bùi; có ba hồ lớn: Hồ Đồng Sơn, Văn Sơn và Hồ Miếu. Vùng đất này là nơi hội tụ của các tuyến giao thông quan trọng. Đường bộ có quốc lộ 6A, đường 121A, đường 80, đường 419; đường thủy có sông Đáy. Chương Mỹ có địa hình khá đa dạng, vừa mang đặc trưng của vùng bán sơn địa, vừa mang đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Nơi đây được coi là vựa lúa của Sơn Tây cũ. Việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ cũng được các xã chú trọng. Huyện được đánh giá là một trong những địa phương phát triển đồng đều các ngành nghề. Chỉ có 30 xã, nhưng đã tập trung tới 31 làng nghề. Trong đó phát triển mạnh là nghề sản xuất các mặt hàng để xuất khẩu bằng song, mây, tre, giang (làng Đông Cựu, Khê Than, Phú Vinh, Quan Châm, Lam Điền, Tiên Lữ, Thái Hòa, Trung Cao...).
Năm 2009, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng kinh tế của Chương Mỹ vẫn đạt những kết quả khả quan. Tổng giá trị sản xuất của huyện đạt trên 3.496 tỷ. Thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 193 tỷ đồng, đạt trên 124% dự toán Thành phố giao. Giá trị sản lượng bình quân đạt 57,8 triệu đồng/ha. Thu nhập bình quân đầu người đạt 9,9 triệu đồng/người/năm.
Chương Mỹ có 273 di tích lịch sử văn hóa. Nổi tiếng có Chùa Trăm Gian, Chùa Trầm, Chùa Cao, Chùa Sấu, là Đình Nội, Đình Xá, Đình Linh Sơn...Đó là những địa chỉ văn hóa tâm linh được đông đảo nhân dân xa gần tìm đến.
Huyện Đan Phượng
Diện tích: 76,59km2
Dân số: 140.304 người.
Vị trí địa lý: Đông giáp huyện Từ Liêm, Tây giáp Phúc Thọ, Nam giáp Hoài Đức, Bắc giáp Mê Linh (Vĩnh Phúc).
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 15 xã.
Thị trấn: Phùng
Các xã: Đan Phượng, Đồng Tháp, Hạ Mỗ, Hồng Hà, Liên Hà, Liên Hồng, Liên Trung, Phương Đình, Song Phượng, Tân Hội, Tân Lập, Thọ An, Thọ Xuân, Thượng Mỗ, Trung Châu.
Cách nay gần 30 năm Đan Phượng, vùng đất “nhất cận thị, nhị cận giang”này được nhiều người biết đến bởi là cánh chim đầu đàn của nông nghiệp tỉnh Hà Tây cũ. Đồng đất phì nhiêu, người dân cần cù chịu khó, sự lam làm của con người vùng đất này - “Đan Phượng - quê hương người gái đảm” đã trở thành biểu tượng của chị em phụ nữ cả nước một thời. Hiện nay Đan Phượng là vùng ngoại thành chuyên cung cấp rau xanh cho thị trường Hà Nội. Bên cạnh việc quy hoạch những vùng chuyên canh rau, Đan Phượng còn chú trọng triển khai xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ như Tân Lập, thị trấn Phùng, Phương Đình, Liên Hà, Liên trung, Tân Hội...Quan tâm phát triển công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm (Trung Đích ở Hạ Mỗ, làng Hạ và làng Trung ở Liên Trung...). Trên địa bàn huyện Đan Phượng có 90 di tích lịch sử văn hóa, gắn với những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng phong phú. Nổi tiếng có hội Chèo Tàu. Đây là một loại hình nghệ thuật truyền thống của văn hóa Xứ Đoài có nguồn gốc từ lâu đời, và phát triển rực rỡ thế kỷ XII và thế kỷ XIII. Trước kia cứ 30 năm mới tổ chức hội Chèo tàu một lần để tưởng nhớ danh tướng Văn Dĩ Thành. Còn ngày nay, cứ 5- 7 năm lại được người dân Làng Văn Sơn (Thượng Hội – Tân Hội) tổ chức một lần vào các ngày 15 đến 20 tháng giêng.
Huyện Đông Anh
Diện tích: 184, 16km2.
Dân số: 330.595 người.
Vị trí địa lý: phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, Đông Nam giáp huyện Gia Lâm, Tây giáp huyện Mê Linh, Nam giáp sông Hồng, bắc giáp huyện Sóc Sơn.
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 23 xã.
Thị trấn: Đông Anh
Các xã: Bắc Hồng, Cổ Loa, Dục Tú, Đại Mạch, Đông Hội, Hải Bối, Kim Chung, Kim Nỗ, Liên Hà, Mai Lâm, Nam Hồng, Nguyên Khê, Tầm Xá, Tiên Dương, Thụy Lâm, Uy Nỗ, Vân Hà, Vân Nội, Việt Hùng, Vĩnh Ngọc, Võng La, Xuân Canh, Xuân Nộn.
Cách trung tâm 22 km, ở phía đông bắc của thủ đô, tên khởi thủy của vùng đất này là Đông Khê thuộc phủ Từ Sơn (Bắc Ninh). Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, tháng 5/1961 chính thức mang tên Đông Anh. Địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, thoải dần từ Tây bắc xuống Đông nam. Đây là vùng địa linh của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Bởi mảnh đất này trong lịch sử nước nhà đã hai lần được chọn làm kinh đô. Đó là thành Ốc Cổ Loa, kinh đô do An Dương Vương (thế kỷ thứ III trước CN) và Ngô Quyền (thế kỷ thứ X) xây dựng. Vùng đất này lưu giữ 298 di tích lịch sử văn hóa với các lễ hội nổi tiếng như lễ hội Cổ Loa, Lễ hội Đền Sái, lễ hội làng Quậy, hội làng Xuân Trạch...Đông Anh còn bảo tồn và phát huy được một số môn nghệ thuật truyền thống có giá trị như ca trù Lỗ Khê, tuồng Cổ Loa, rối nước Đào Thục. Những năm 40 của thế kỷ trước, Đông Anh là an toàn khu của Trung ương Đảng, và là vùng hoạt động bí mật của các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh.
Tổng giá trị các ngành kinh tế trong huyện năm 2009 đạt trên 20.881 tỷ đồng (tăng 7,3%so với năm 2008). Giá trị sản xuất nông nghiệp – thủy sản ước đạt trên 508 tỷ đồng (tăng 3%). Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ước đạt trên 4.5 tỷ đồng 9 (tăng 7% so với năm 2008). Ngành thương mại và dịch vụ ước đạt trên 7.3 tỷ đồng (tăng 17.1% so với năm 2008)...
Các xã Vân Nội, Tiên Dương, Nam Hồng ... nằm trong quy hoạch vùng cung cấp rau xanh, rau sạch cho thành phố. Đông Anh còn được biết đến bởi sự đa dạng về sản phẩm của các làng nghề truyền thống. Nổi tiếng có đồ gỗ, chạm trổ, sơn mài của Vân Hà, Liên Hà, Thụy Lâm, Dục Tú; đồ mây tre đan của Vân Nội, Mai Lâm; thực phẩm có bún Mạch Tràng...
Trong quy hoạch thủ đô đến năm 2020, ưu tiên phát triển vùng phía bắc sông Hồng, sẽ hình thành khu đô thị mới Bắc Thăng Long – Vân Trì, Đông Anh – Cổ Loa...Cầu Thăng Long và sắp tới cầu Nhật Tân bắc qua sông Hồng, những lợi thế về giao thông sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho huyện phát triển kinh tế -văn hóa - xã hội. Tháng 4 năm 2001, nhân dân và các lực lượng vũ trang huyện Đông Anh đã vinh dự được Đảng và Chính phủ phong danh hiệu cao quý Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân.
Huyện Gia Lâm
Diện tích: 48,765km2
Dân số: 227.577 người.
Vị trí địa lý: nằm ở phía Đông thủ đô Hà Nội. Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, Tây giáp quận Long Biên và sông Hồng, Nam và Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên, Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đông Anh.
Đơn vị hành chính: 02 thị trấn và 20 xã.
Thị trấn: Trâu Quỳ, Yên Viên
Các xã: Bát Tràng, Cổ Bi, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Đa Tốn, Đặng Xá, Đình Xuyên, Đông Dư, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Ninh Hiệp, Phú Thị, Phù Đổng, Trung Mầu, Văn Đứ, Yên Thường, Yên Viên.
Trước năm 1945, Gia Lâm thuộc phủ Thuận An (Bắc Ninh). Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, tháng 5/1961vùng đất này chính thức mang tên Gia Lâm, gồm 02 thị trấn và 31 xã. Tuy nhiên đến tháng 3/2003, tách 10 xã để thành lập quận Long Biên nên Gia Lâm hiện nay còn 02 thị trấn và 20 xã.
Gia Lâm là vùng nông nghiệp sản phẩm chủ yếu là lúa và rau. Gần đây, trong quy hoạch phát triển của Hà Nội, sẽ xây dựng tại địa bàn huyện chợ đầu mối bán buôn nông sản, thực phẩm. Theo đó, nhà máy chế biến thực phẩm cũng được đặt trên địa bàn huyện...Gia Lâm được quy hoạch theo hai trục chính Bắc Đuống (Cầu Đuống – Yên Viên – Đình Bảng); và Nam Đuống (Trâu Quỳ - Như Quỳnh).
Trên địa bàn huyệ̣n hiện có 223 di tích lịch sử văn hóa (trong đó có 100 di tích đã được xếp hạng). Nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng của Gia Lâm thu hút du khách đến thăm quan, chiêm bái. Đó là, đền Phù Đổng, đền Bà Tấm, Chùa Keo, chùa Kiến Sơ, mộ Công chúa Ngọc Hân. Gia Lâm còn là quê hương của Chử Đồng Tử và Thánh Gióng, hai vị thần trong “tứ bất tử”của Việt Nam; quê hương của Nguyên Phi Ỷ Lan, của Cao Bá Quát...
Một số nghề truyền thống nổi tiếng xa gần đã và đang phát triển ở Gia Lâm như gốm (Bát Tràng), dát bạc, sơn son thếp vàng (Kiêu Kỵ), chế biến thuốc nam (Ninh Hiệp).
Huyện Hoài Đức
Diện tích: 82 km2
Dân Số: 188.639 người.
Vị trí địa lý: Hoài Đức nằm ở phía Tây Hà Nội. Đông giáp quận Hà Đông, huyện Từ Liêm; Tây giáp huyện Quốc Oai, Phú Thọ; Nam giáp quận Hà Đông, huyện Quốc Oai; Bắc giáp huyện Đan Phượng, và Phúc Thọ.
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 19 xã.
Thị trấn: Trạm Trôi.
Các xã: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Di Trạch, Dương Liễu, Đắc Sở, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Song Phương, Sơn Đồng, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Sở.
Tên Hoài Đức có từ năm 662 đời nhà Đường. Năm 1831 khi Minh Mạng thành lập Tỉnh Hà Nội thì Hoài Đức là một trong 4 phủ của tỉnh. Tháng 12/1904 Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông (cũ). Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính của Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận, đến tháng 8/2008, Hoài Đức và toàn bộ tỉnh Hà Tây (cũ) và 4 xã của tỉnh Hòa Bình sáp nhập vào địa phận Hà Nội.
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, thế mạnh của Hoài Đức là sản xuất nông nghiệp. Sau đổi mới, nhất là thời gian gần đây, cơ cấu phát triển kinh tế của Hoài Đức đã thay đổi rõ rệt. Đường cao tốc Láng Hòa Lạc, quốc lộ 32, tỉnh lộ 72...đã đem lại cho Hoài Đức khả năng mới trong phát triển kinh tế. Về nông nghiệp, huyện chủ trương phát triển theo hướng hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; hình thành vùng trồng cây ăn quả ven sông Đáy, và dọc theo các tuyến giao thông quốc lộ, tỉnh lộ; vùng trồng rau sạch ở Vân Côn...Còn xã Vân Canh nổi tiếng với giống cam đường.
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, hoạt động thương mại, dịch vụ của huyện cũng phát triển mạnh. Trên địa bàn huyện có 455 doanh nghiệp, 3114 hộ tham gia sản xuất kinh doanh, và trên 17.000 hộ có nghề phụ (chiếm 40,5% tổng số hộ trong toàn huyện). Một số khu đô thị Bắc An Khánh, Nam An Khánh, Tây Nam An Thượng, đô thị Dầu khí... đã và đang góp phần làm thay đổi bộ mặt của huyện. Khu du lịch Thiên Đường Bảo Sơn thu hút nhiều du khách đến nghỉ cuối tuần. Hoài Đức có 51/53 làng nghề, trong đó có 12 làng được tỉnh Hà Tây cũ công nhận. Các ngành nghề tập trung vào chế biến nông sản (chiếm 37,1%), dệt may (chiếm28,3%), công nghiệp khác (chiếm34,6%) giá trị sản xuất công nghiệp. Nghề truyền thống, nổi tiếng có nghề ảnh ở Lai Xá (Kim Chung), điêu khắc mỹ nghệ ở Sơn Đông (Sơn Đồng), mộc mỹ nghệ Đại Tự (Kim Chung).... Hoài Đức có 130 di tích lịch sử văn hóa (trong đó 84 di tích đã được xếp hạng).
Năm 2010, theo quy hoạch thì đất nông nghiệp của huyện còn 1.500 ha, đất phi nông nghiệp còn 6.500 ha. Hiện trên địa bàn huyện có 183 dự án với tổng diện tích đất quy hoạch là 3.696 ha, cho các dự án: khu đô thị và nhà ở; cụm, điểm công nghiệp; du lịch, giao thông. Với quy hoạch sử dụng đất gắn với phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, không lâu nữa huyện Hoài Đức sẽ có một gương mặt mới.
Huyện Mê Linh
Diện tích: 141, 64km2
Dân số: 189.969 người
Vị trí địa lý: phía Tây và Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Nam giáp sông Hồng, Đông giáp Sóc Sơn.
Đơn vị hành chính: 02 thị trấn và 16 xã
Thị trấn: Chi Đông, Quang Minh
Các xã: Chu Phan, Đại Thịnh, Hoành Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Tam Đồng, Tiến Thịnh, Tiến Thắng, Tiền Phong, Tự Lập, Thạch Đà, Thạch Lâm, Tráng Việt, Vạn Yên, Văn Khê.
Huyện Mê Linh được thành lập lần đầu vào tháng 7/1997. Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, ngày 1/8/2008 (theo Nghị quyết số15/NQ-QH ngày 19/5/2008) huyện Mê Linh chính thức sáp nhập và trở thành một huyện của Hà Nội. Nằm ở phía Tây Bắc Hà Nội, Mê Linh giáp Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài.
Xa xưa, Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ. Đây là quê hương của Bà Trưng, Bà Triệu - hai nữ anh hùng trong buổi bình minh của lịch sử đấu tranh bảo vệ chủ quyền của dân tộc. Năm 40 từ làng Hạ Lôi, Hai Bà phất cờ khởi nghĩa, đánh tan quân xâm lược Nam Hán, thu phục 65 thành, giải phóng đất nước. Lịch sử còn ghi lại lời hiệu triệu của Bà Trưng: “Thiếp là Trưng nữ dấy binh dẹp giặc, che chở dân lành, thu phục lại muôn vật của tổ tông, không phụ ý trời, không phụ sự trông đợi của Tổ phụ nơi chín suối, thỏa nguyện nơi đền miếu của bậc đế vương các đời...”. Hai Bà làm vua được ba năm, đóng đô ở Mê Linh. Hiện nay tại Hạ Lôi nhân dân xây đền thờ hai vị anh hùng và hàng năm tổ chức lễ hội vào các ngày mùng 6 đến 10 tháng giêng.
Mê Linh được xác định là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của Hà Nội. Giao thông thuận lợi đã góp phần cho kinh tế - văn hóa - xã hội của Mê Linh từng bước phát triển. Cơ cấu kinh tế đã có những phát triển hài hòa đáng ghi nhận: công nghiệp – nông nghiệp phát triển song song với du lịch – dịch vụ. Hiện đã có 300 dự án đầu tư vào địa bàn huyện. Tại đây đã hình thành ba khu công nghiệp như Quang Minh, Tiền Phong, Kim Hoa.
Cách đây 10 năm, Mê Linh là một huyện thuần nông. Nhưng nay bộ mặt của huyện đã có nhiều thay đổi. Vùng đất này đã hình thành ba vùng sản xuất nông nghiệp. Đó là vùng đồi gò phát triển kinh tế lâm nghiệp, kinh tế trang trại, và chăn nuôi đại gia súc. Vùng đồng bằng tập trung sản xuất hoa màu, thực phẩm. Vùng nội, ngoài đê sông Hồng trồng cây lương thực, chăn nuôi bò sữa. Đặc biệt, Mê Linh đã hình thành vùng trồng hoa tại ba xã Mê Linh, Tráng Việt, Tiền Phong để cung cấp cho thị trường. Năm 2010, huyện phấn đấu thu nhập bình quân đạt 19 triệu đồng/đầu người/ năm.
Mê Linh có 206 di tích lịch sử văn hóa, trong đó 68 di tích đã được xếp hạng. Đó chính là tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh của huyện.
Huyện Mỹ Đức
Diện tích: 226,97km2
Dân số: 168.126 người.
Vị trí địa lý: nằm ở phía Tây Nam Hà Nội. Phía Đông giáp huyện Ứng Hòa (ranh giới là con sông Đáy), Tây giáp tỉnh Hòa Bình, Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ.
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 22 xã.
Thị trấn: Tế Tiêu
Các xã: An Mỹ, An Phú, An Tiến, Bột Xuyên, Đại Hưng, Đại Nghĩa, Đốc Tín, Đồng Tâm, Hồng Sơn, Hợp Tiến, Hợp Thanh, Hùng Tiến, Hùng Sơn, Lê Thanh, Mỹ Thành, Phù Lưu Tế, Phúc Lâm, Phùng Xá, Tuy Lai, Thượng Lâm, Vạn Kim, Xuy Xá.
Mỹ Đức nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ. Xưa kia, Mỹ Đức thuộc địa phận tỉnh Hà Đông, năm 1965 thuộc tỉnh Hà Tây. Đây là vùng bán sơn địa, có dải núi đá vôi trải dài 40 km suốt chiều dài của huyện. Thiên nhiên đã ban tặng cho Mỹ Đức những “quà tặng” vô giá. Đó là Hương Sơn (còn gọi là Chùa Hương), rộng 4.300ha với dòng suối Yến thơ mộng, với rừng mơ và nhiều hang động kỳ thú (thỏ thẻ rừng mơ chim cúng trái/ ngẩn ngơ Khe Yến cá nghe kinh...). Năm 1770 Chúa Trịnh Sâm một lần theo dòng sông Đáy về du ngoạn Hương Sơn đã khắc lên vách núi 4 chữ “Nam Sơn đệ nhất động” nghĩa là “động đẹp nhất trời Nam”. Đây là điểm du lịch văn hóa tâm linh thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến thăm quan, và chiêm bái Đức Phật, nhất là vào dịp khai hội Chùa Hương (6 tháng giêng đến hết tháng 3 âm lịch hàng năm). Hồ Quan Sơn được ví như Hạ Long trên cạn, cũng là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Bên cạnh những di tích thắng cảnh nổi tiếng, Mỹ Đức còn hơn hai trăm di tích lịch sử văn hóa khác. Người dân Mỹ Đức cần cù, chịu khó, cả ngàn đời gắn bó với hạt lúa, củ khoai, với nương dâu, với con lợn con gà...Ngoài những ngày mùa bận rộn, người dân nơi đây còn làm thêm nhiều nghề phụ. Trên địa bàn huyện hình thành một số làng nghề truyền thống. Nổi tiếng có nghề thêu (xã Thượng Lâm), dệt (Phùng Xá), mây tre đan xuất khẩu (Tuy Lai, An Tiến), thêu xuất khẩu (Đồng Tâm), thêu ren (Tuy Lai)...Quan điểm của lãnh đạo địa phương là giữ gìn diện tích đất nông nghiệp. Không xây dựng các cụm, điểm công nghiệp. Mũi nhọn phát triển kinh tế trọng điểm trong những năm tới là du lịch, dịch vụ và thương mại.
Huyện Phú Xuyên
Diện tích: 170,8 km2
Dân số: 179.410 người
Vị trí địa lý: phía Đông giáp sông Hồng, Tây giáp huyện Ứng Hòa và Thanh Oai, Nam giáp tỉnh Hà Nam, Bắc giáp huyện Thường Tín.
Đơn vị hành chính: 02 thị trấn và 26 xã.
Thị trấn: Phú Xuyên, Phú Minh
Các xã: Bạch Hạ, Châu Can, Chuyên Mỹ, Đại Thắng, Đại Xuyên, Hoàng Long, Hồng Minh, Hồng Thái, Khai Thái, Minh Tân, Nam Phong, Nam Triều, Phú Túc, Phú Yên, Phúc Tiến, Phượng Dực, Quang Lẵng, Quang Trung, Sơn Hà, Tân Dân, Thụy Phú, Tri Thủy, Tri Trung, Văn Hoàng, Văn Nhân, Vân Từ.
Phú Xuyên là huyện nằm ở vùng chiêm trũng, phía nam thành phố. Quốc lộ 1A và đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, Cầu Giẽ - Ninh Bình, đường sắt bắc nam...chạy qua địa bàn huyện. Từ Phú Xuyên tới trung tâm Hà Nội khoảng 30 km, nên rất thuận lợi cho việc giao thương, cung cấp lương thực, thực phẩm cho thành phố. Phú Xuyên là huyệ̣n thuần nông, “trắng” về công nghiệp. 10.000 ha đất nông nghiệp của huyện chính là tiềm năng lớn của địa phương để phát triển nông nghiệp bền vững, xây dựng vùng lúa chất lượng cao, vùng rau an toàn cho thành phố. Huyện đã xây dựng quy hoạch, các xã phía đông trồng rau an toàn và chăn nuôi bò sữa. Còn các xã nằm ở phía Tây của huyện thì tập trung sản xuất lúa thơm và nuôi trồng thủy sản...Bên cạnh việc phát triển nông nghiệp, Phú Xuyên chú trọng phát triển mạnh tiểu thủ công nghiệp để vừa giải quyết tốt lao động dôi dư của nông thôn, tận dụng lao đông lúc nông nhàn, vừa góp phần tăng thu nhập, nâng cao mức sống của người nông dân. Khuyến khích các hộ thành lập doanh nghiệp để vừa sản xuất, vừa phát huy nghề truyền thống của cha ông, lại vừa kinh doanh thúc đẩy tiểu thủ công nghiệp phát triển. Cả huyện có 138 làng thì 98 làng có nghề thủ công. Trong đó 37 làng đã được tỉnh Hà Tây (cũ) công nhận là làng nghề truyền thống. Nổi tiếng là nghề khảm trai (xã Chuyên Mỹ), giầy da (xã Phú Yên), đồ gỗ cao cấp (xã Tân Dân, Văn Nhân), mây giang đan (xã Phú Túc), may mặc (Vân Từ)...Phú Xuyên cũng là địa bàn có mật độ các di tích lịch sử văn hóa tương đối dày đặc, 327 di tích.
Vì những đóng góp to lớn của chính quyền và nhân dân huyện trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc nên, Phú Xuyên đã được Đảng và Chính phủ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Lao động hạng nhất.
Huyện Phúc Thọ
Diện tích: 113,25 km2
Dân số: 156.928 người.
Vị trí địa lý: phía Đông giáp huyện Đan Phượng, Tây giáp thị xã Sơn Tây, Bắc giáp sông Hồng(bên kia sông là tỉnh Vĩnh Phúc), Nam giáp huyện Thạch Thất, Đông Nam giáp hai huyện Quốc Oai và Hoài Đức.
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 22 xã.
Thị trấn: Phúc Thọ
Các xã: Cẩm Đình, Hát Môn, Hiệp Thuận, Liên Hiệp, Long Xuyên, Ngọc Tảo, Phúc Hòa, Phụng Thượng, Phương Độ, Sen Chiểu, Tam Hiệp, Tam Thuấn, Tích Giang, Thanh Đa, Thọ Lộc, Thượng Cốc, Trạch Mỹ Lộc, Vân Hà, Vân Nam, Võng Xuyên, Xân Phú.
Xa xưa, Phúc Thọ mang tên là Phúc Lộc. Năm 1822 đổi tên thành Phúc Thọ thuộc trấn Sơn Tây. Năm 1978 được sáp nhập về Hà Nội. 1991 lại được về với Hà Tây. Ngày 1/8/2008, Phúc Thọ cùng toàn bộ các đơn vị hành chính của tỉnh Hà Tây (cũ) được sáp nhập vào Hà Nội. Nằm trong vùng đồng bằng Bắc bộ, Phúc Thọ là một huyện được đánh giá là địa phương có nhiều tiềm năng nông nghiệp. Sông Hồng, sông Đáy và sông Tích là ba con sông chảy qua địa bàn huyện. Sông, vừa là đường giao thông thủy thuận tiện, vừa là nguồn nước tưới và cung cấp phù xa cho đồng ruộng của huyện. Cây nông nghiệp chủ yếu của Phúc Thọ là lúa, đậu tương và rau xanh. Phúc Thọ là huyện phát triển khá tốt đàn trâu bò. Tận dụng ao, đầm người nông dân chăn thả thủy sản, cung cấp cho các địa phương lân cận, đặc biệt là thị trường nội thành Hà Nội.
Ngoài phát triển nông nghiệp Phúc Thọ còn chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp với các mặt hàng như may mặc (xã Tam Hiệp), chế biến nông sản thực phẩm (Xã Liên Hiệp, Sen Chiểu), dệt thảm(Phụng Thượng)...Đường 32 là con đường huyết mạch nối nội thành Hà Nội với thị xã Sơn Tây, sau khi hoàn thiện sẽ tạo nhiều thuận lợi về giao thông, hấp dẫn các nhà đầu tư đầu tư phát triển kinh tế của huyện.
Vùng đất này có 110 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 78 di tích đã được Nhà nước công nhận. Nổi tiếng là Cửa Hát Môn là nơi Hai Bà Trưng gieo mình xuống sông tự vẫn, không chịu đầu hàng quân Nam Hán. Để tưởng nhớ Hai Bà, người dân xã Hát Môn đã dựng đền thờ, và hàng năm đến ngày 6/3 âm lịch thì tổ chức tết hàn thực muộn, làm bánh trôi, bánh chay để dâng cúng.
Huyện Quốc Oai
Diện tích: 109, 25 km2
Dân số: 156, 813 người.
Vị trí địa lý: phía Đông giáp Hoài Đức, Đông Bắc giáp Phúc Thọ; tây giáp tỉnh Hà Bình; Nam giáp huyện Chuơng Mỹ, Bắc giáp huyện Thạch Thất.
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 20 xã.
Thị trấn: Quốc Oai.
Các xã: Cấn Hữu, Cộng Hòa, Đại Thành, Đồng Quang, Đông Yên, Đông Xuân, Hòa Thạch, Liệp Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Nghĩa Hưng, Tân Hòa, Tân Phú, Thạch Thán, Phú Cát, Phú Mãn, Phượng Cách, Sài Sơn, Tuyết Nghĩa, Yên Sơn.
Trước 1965, huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Sơn Tây. Sau nhiều lần tách, nhập lúc thì với Hà Tây, lúc thì với Hà Sơn Bình...đến 1/8/2008, huyện Quốc Oai và toàn bộ tỉnh Hà Tây, xã Đông Xuân (tỉnh Hòa Bình) sáp nhập về Hà Nội.
Sông Tích, sông Đà chảy trên địa bàn huyện Quốc Oai đã góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện. Thời gian tới, định hướng phát triển của Quốc Oai là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chú trọng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; chuyển đổi những diện tích trồng lúa cho năng xuất thấp sang mô hình kinh tế trang trại; tiếp tục phát triển diện tích cây ăn quả, cây màu có giá trị kinh tế cao...
Đường cao tốc Láng – Hòa Lạc chạy qua 4 xã phía Bắc của huyện. Việc đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc Oai cơ hội phát triển mạnh về công nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Huyện Quốc Oai có 135 di tích lịch sử và cũng là địa bàn có nhiều lễ hội. Nổi tiếng có Hội Dô (Hát Dô). Cứ 36 năm mới tổ chức một lần vào các ngày 10 đến 15 tháng giêng. Lễ hội đượ̣c tổ chức với các nghi lễ trang trọng với nhiều trò chơi dân gian, vui nhất có lẽ là phần hát. Trai gái tham gia phải là người chưa có gia đình, vừa biết hát vừa biết múa. Hát Hội Dô là một loại dân ca nghi lễ cổ, theo 4 hình thức (hát nói, hát ngâm, hát xô, và hát ca khúc). Tương truyền Hát Dô là do Đức Thánh Cao Sơn ( Sơn Tinh) truyền cho dân làng. Lời hát phản ánh nhận thức của người Lạc Việt về thiên nhiên, về con người; phản ánh ước vọng của họ về một cuộc sống yên bình, no ấm, về tình yêu trai gái, hạnh phúc gia đình gắn...
Nói đến huyện Quốc Oai không thể không nhắc đến địa danh nổi tiếng đó là Chùa Thầy (nằm trên địa bàn xã Sài Sơn). Từ trung tâm Thủ đô theo đường Láng – Hòa Lạc đi về phía tây khoảng 20 km là đến. Chùa Thầy rộng 2.400m2, được xây dựng thời Lý Nhân Tông (1072-1127), đây cũng là nơi lưu dấu nhà sư nổi tiếng Từ Đạo Hạnh. Hàng năm cứ đến ngày 7/3 âm lịch khai hội Chùa Thầy, hàng nghìn du khách từ mọi miền đổ về tham dự. Chùa Thầy là một quần thể di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, một danh thắng nổi tiếng bởi có cảnh quan đẹp: Có thủy đình giữa hồ nước trong xanh, có hai cây cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều (do trạng Bùng Phùng Khắc Hoan xây), có quần thể các đình chùa cheo neo nơi vách núi...Cảnh đẹp và nên thơ đến nỗi chúa Định Vương Trịnh Căn, một lần vãn cảnh Chùa Thầy đã thốt lên “nay thấy chùa Thiên Phúc ở núi Phật tích như viên ngọc nổi lên ở giữa đám ruộng sỏi đá rạng vẻ xuân tươi ở cả bốn mùa. Động tiên hệt như cõi thanh hư, bên vách còn in mây ráng. Đó chính là vườn xanh, núi Thúy rời đến chốn nhân gian vậy...”
Quốc Oai, với núi xanh, sông Tích sông Đáy uốn lượn quanh co, đồng lúa chín vàng, cánh cò trắng và sáo diều vi vút mỗi hoàng hôn...Cảnh đẹp ấy đã in vào hồn thơ Quang Dũng “Bao giờ trở lại đồng Bương, Cấn/ Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng/ Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc/ Sáo diều vi vút thổi đêm trăng ...”
Huyện Sóc Sơn
Diện tích: 314 km2
Dân số: 272.447 người.
Vị trí địa lý: Phía Đông giáp hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh; phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc; phía Nam giáp huyện Đông Anh; phía Tây Nam giáp huyện Mê Linh; phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên.
Đơn vị hành chính: gồm 01 thị trấn và 25 xã
Thị trấn: Sóc Sơn
Các xã: Bắc Phú, Bắc Sơn, Đông Xuân, Đức hòa, Hiền Ninh, Hồng Kỳ, Kim Lũ, Mai Đình, Minh Phú, Minh Trí, Nam Sơn, Phú Cường, Phú Minh, Phù Linh, Phù Lỗ, Quang Tiến, Tân Dân, Tân Hưng, Tân Minh, Tiên Dược, Thanh Xuân, Trung Giã, Việt Long.
Từ trung tâm Hà Nội đi lên phía bắc khoảng 30 km2 sẽ đến địa phận huyện Sóc Sơn. Trước, đây là đất của hai huyện Đa Phúc và Kim Anh của tỉnh Vĩnh Phúc, năm 1977 trở thành một huyện ngoại thành của Hà Nội.
Địa hình Sóc Sơn được chia làm hai miền tương đối rõ rệt, miền núi và miền đồng bằng. Vùng đất này được xem là vùng còn nhiều khó khăn của Hà Nội. Sóc Sơn đang duy trì phát triển kinh tế theo cơ cấu công nghiệp (54,5 %), dịch vụ (25,4%), và nông nghiệp (20,1%). Năm 2009, ước thu nhập bình quân đầu người đạt 12,5 triệu đồng/người/năm, tăng 2,8 lần so với sáu năm trước đó. Hiện Sóc Sơn đang tập trung triển khai một số dự án trọng điểm như: dự án phát triển khu công nghiệp tập trung Nội Bài; dự án khu công nghiệp vừa và nhỏ Mai Đình; khu du lịch Đền Sóc; làng du lịch sinh thái Đình Phú, khu vui chơi giải trí Minh Trí...
Sóc Sơn gắn liền với huyền tích Thánh Dóng nhổ tre ngà đánh đuổi giặc Ân. Biểu tượng của lòng yêu nước quật cường đó đã được quân và dân Sóc Sơn phát huy mạnh mẽ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và quân xâm lược Mỹ...Ghi nhận thành tích của quân và dân huyện Sóc Sơn nên Đảng và chính phủ đã phong tặng Sóc Sơn danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ngoài những di tích lịch sử nổi tiếng Sóc Sơn còn 312 di tích lịch sử khác, trong đó 40 di tích đã được nhà nước xếp hạng.
Và, nhắc tới Sóc Sơn không thể nào không nhắc đến một địa danh ở xã Phù Linh huyện Sóc Sơn đã trở nên nổi tiếng bởi bài thơ mang tên “Núi Đôi” của nhà thơ Vũ Cao. Bài thơ viết về mối tình đẹp đẽ, sáng trong của đôi trai gái trong chiến tranh vệ quốc: “Bẩy năm về trước em mười bẩy/Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/ Xuân Dục Đoài Đông hai cánh lúa/ Bữa thì em tới bữa anh sang...Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em là hoa thơm trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm...”.
Huyện Thạch Thất
Diện tích: 104,32km2
Dân số: 174.898 người
Vị trí địa lý: phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Phúc Thọ; Tây Nam và Nam giáp tỉnh Hòa Bình; Đông Nam và Nam giáp huyện Quốc Oai; Tây giáp thị xã Sơn Tây, huyện Ba Vì.
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 22 xã.
Thị trấn: Liên Quan
Các xã: Bình Phú, Bình Yên, Canh Nậu, Cẩm Yên, Cần Kiệm, Chàng Sơn, Dị Nậu, Đại Đồng, Đồng Trúc, Hạ Bằng, Hương Ngải, Hữu Bằng, Kim Quan, Lại Thượng, Phú Kim, Phùng Xá, Tân Xã, Tiến Xuân, Thạch Hòa, Thạch Xá, Yên Bình, Yên Trung...
Nằm ở phía Tây Bắc thành phố, Thạch Thất là vùng bán sơn địa. Có nhiều đường giao thông quan trọng chạy qua địa bàn như: đường 32, đường vành đai Láng – Hòa Lạc...
Trước đây, Thạch Thất thuộc phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Năm 1965 thuộc tỉnh Hà Tây. Năm 1975 về tỉnh Hòa Bình. Năm 1978 – 1991 sáp nhập về Hà Nội. Năm 1992 lại về tỉnh Hà Tây. Từ 1/8/2008, trở thành một huyện của Thủ đô Hà Nội (cùng với ba xã của huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình là Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung).
Thạch Thất là huyện nông nghiệp. Một số xã như Đại Đồng, Dị Nậu, Thạch Xá tập trung sản xuất lúa chất lượng cao; Kim Quan có thế mạnh về trồng cây ăn quả. Còn chăn nuôi thì tập trung ở các xã như: Canh Nậu, Phú Kim, Kim Quan...
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đang là hai mũi nhọn phát triển kinh tế được lãnh đạo huyện quan tâm. Ngoài diện tích đất giành để phát triển nông nghiệp, huyện đã quy hoạch đất để giành cho khu công nghệ cao Láng – Hòa Lạc, khu Bắc Phú Cát, khu xây dựng Đại học Quốc gia...Thạch Thất hiện có khoảng 30 doanh nghiệp, 4 tổ hợp tác, 11.400 hộ kinh doanh cá thể và 35/36 làng nghề tham gia sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp... Nổi tiếng có nghề mộc ở Chàng Sơn; nghề dệt ở Hữu Bằng; nghề đan nát ở Bình Phú; nghề Sắt ở Phùng Xá...
Xã Đồng Trúc là nơi phát hiện ra dấu tích sinh sống của người Việt cổ cách nay 2000 năm. Tại đây còn phát hiện được nhiều di chỉ khảo cổ có giá trị về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo...Đình Trúc Động cũng là ngôi đình có kiến trúc cổ xưa nhất của huyện. Thạch Thất là quê hương của Trạng bùng Phùng Khắc Hoan nổi tiếng, của nhà viết chèo Tào Mạt, của nhà thơ Bằng Việt...
Chàng Sơn, Làng Ra (Phúc Hòa) là quê hương của múa rối nước. Tương truyền múa rối nước ở đây là do nhà sư Từ Đạo Hạnh khởi xướng. Làng Ra còn lưu gữi được những con rối cổ nhất. Hàng năm, khi vào hội Chùa Thầy (7/3 âm lịch), đội múa rối nước của Làng Ra thường tổ chức biểu diễn rối ở nhà Thủy Đình trên hồ Long Trì...Thạch Thất có 147 di tích lịch sử văn hóa, trong đó 81 di tích đã được xếp hạng.
Nơi này được nhiều người biết đến còn vì có chùa Tây Phương nổi tiếng. Chùa có tên chữ là Sùng Phúc tự, tọa lạc trên ngọn núi Tây Phương ở Thôn Yên xã Thạch Xá. Nhiều tài liệu cho rằng chùa được xây dựng từ thời Nhà Mạc. Từ chân núi vượt qua 239 bậc đá ong sẽ đến cổng chùa. Chùa gồm ba nếp nhà song song: Bái đường, chính điện, và hậu cung. Tường xây bằng gạch Bát Tràng được nung đỏ. Ngôi chùa là kiến trúc tôn giáo nổi tiếng bởi nơi đây tập trung những kiệt tác điêu khắc, gồm chạm trổ, phù điêu, tạc tượng; với muôn vàn các hình trang trí quen thuộc trong đời sống nhân gian như: lá đề, lá dâu, hoa sen, hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù...Chùa Tây Phương nổi tiếng còn bởi nơi đây có 72 pho tượng phật, mà mỗi vị mang một hồn cốt, một sắc thái, một dáng vẻ...Nhà thơ Huy Cận sau một lần tham quan chiêm bái các đức Phật ở Chùa Tây Phương đã viết:
“Các vị ngồi đây trong lặng yên
Mà nghe giông bão nổ trăm miền
Như từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng tối đùn ra trận gió đen.
...Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
Một câu hỏi lớn. Không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau”
Huyện Thạch Thất đã được Đảng và Chính phủ phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.
Huyện Thanh Oai
Diện tích: 142,31km2
Dân số: 161.491 người
Vị trí địa lý: Đông giáp Thường Tín, Đông Bắc giáp Thanh Trì, phía Tây giáp Chương Mỹ, Tây Nam giáp Ứng Hòa, phía Đông Nam giáp Phú Xuyên, phía Bắc và Tây bắc giáp quận Hà Đông.
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 20 xã.
Thị trấn Kim Bài.
Các xã: Bích Hòa, Bình Minh, Cao Dương, Cao Viên, Cự Khê, Dân Hòa, Đỗ Động, Hồng Dương, Kim An, Kim Thư, Liên Châu, Mỹ Hưng, Phương Trung, Tam Hưng, Tân Uớc, Thanh Cao, Thanh Mai, Thanh Thùy, Thanh Văn, Xuân Dương.
Thanh Oai là một địa danh cổ có từ thời Lý. Thời Minh thuộc phủ Ứng Man; thời Lê thuộc phủ Ứng Thiên, thời Nguyễn thuộc phủ Ứng Hòa...Trải nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, tháng 8/2008, Thanh Oai chính thức về với Hà Nội.
Nằm ở của ngõ phía Tây Nam, Thanh Oai là huyện thuần nông. Phía Tây có sông Đáy, phía Bắc có sông Nhuệ. Kinh tế nông nghiệp phát triển trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, chuyển đổi mô hình canh tác, chăn nuôi, trồng trọt đạt hiệu quả kinh tế cao. Lãnh đạo huyện chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng và thương mại – dịch vụ; tập trung phát triển các nghề truyền thống... Nhờ phát triển kinh tế đúng hướng nên hằng năm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đều tăng, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện.
Sản xuất hàng thủ công truyền thống là một thế mạnh của huyện. Có những mặt hàng nổi tiếng xa gần, và tồn tại dễ đến nghìn năm. Ví như Nón Chuông, quạt làng Vác, như giò chả Ước Lễ, như tương Cự Đà...Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì Thanh Oai đã có 51 làng nghề; tập trung sản xuất các mặt hàng như nón, mây tre đan, kim khí, lương thực thực phẩm, điêu khắc và sơn tạc tượng...
Thanh Oai là một địa phương có nhiều di tích lịch sử văn hóa (180 di tích). Trên 60% di tích đã được tôn tạo, tu bổ...Huyện có 20 xã và một thị trấn, nhưng có tới 81 lễ hội. Lễ hội chùa Bối Khê (xã Tam Hưng), lễ hội Bình Đà (xã Bình Minh), là hai lễ hội thu hút được nhiều khách thập phương.
Huyện Thanh Trì
Diện tích: 63,17km2
Dân số: 218662 người.
Vị trí địa lý: Đông giáp Gia Lâm và tỉnh Hưng Yên, (sông Hồng là “biên giới” tự nhiên); Tây giáp quận Hà Đông; Tây Bắc giáp quận Thanh Xuân, Nam giáp huyện Thanh Oai và Thuờng Tín; Bắc giáp quận Hoàng Mai.
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn, và 15 xã.
Thị trấn Văn Điển
Các xã: Duyên Hà, Đại Áng, Đông Mỹ, Hữu Hòa, Liên Ninh, Ngọc Hồi, Ngũ Hiệp, Tả Thanh Oai, Tam Hiệp, Tân Triều, Tứ Hiệp, Thanh Liệt, Vạn Phúc, Vĩnh Quỳnh.
Trong số các huyện của Hà Nội, chưa có huyện nào nhiều lần thay đổi địa giới hành chính như huyện Thanh trì, cả thảy là 14 lần. Ví như, tháng 4/1946 đưa xã Phú Mỹ vào phủ Thường Tín. Tháng 1/1955, sáp nhập Văn Điển vào huyện Thanh Trì. Tháng11/1996, chuyển xã Khương Đình về quận Thanh Xuân... Năm 1961, Quốc hội quyết định mở rộng Hà Nội lần thứ nhất, thành lập bốn khu phố nội thành và 4 huyện ngoại thành, Thanh Trì trước đó thuộc Hà Đông đã trở thành một huyện của Hà Nội.
Trong quá khứ, Sông Hồng nhiều lần chuyển dòng để lại dấu tích là những đầm, hồ, nên địa hình của huyện có nhiều điểm trũng.Vì thế, Thanh Trì còn có tên cổ là “Thanh Đàm”; nghĩa là đầm xanh, ao xanh...
Trục đường chính xuôi về phương Nam chạy qua địa bàn của huyện. Đường quốc lộ số 1, cũng là mạch máu giao thông nối Thăng Long Hà Nội với phương Nam. Lịch sử đấu tranh, bảo vệ, mở rộng lãnh thổ, và xây dựng kinh đô của các vương triều đều gắn bó mật thiết với mảnh đất ở của ngõ phía Nam này. Triều Khúc từng là nơi đóng quân của Phùng Hưng trong cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Đường; xuân Kỷ Dậu 1789 - đại phá quân Thanh của Quang Trung đã để lại nhiều dấu ấn lịch sử tại Ngọc Hồi – Đầm Mực...Thanh Trì còn là quê hương của nhiều danh sỹ đất Bắc. Đó là nhà giáo Chu Văn An nổi tiếng, là Nguyễn Như Đổ, Nguyễn Quốc Trinh, NguyễnVăn Siêu, Ngô Thì Nhậm...Tại vùng đất này có nhiều sản vật nổi tiếng xa gần như: “bánh cuốn Thanh Trì”, “cá rô Đầm Sét”, “rượu làng Ngâu”. Thanh Trì còn được dân gian biết tới bởi nơi này đã hình thành, lưu giữ và phát triển một số nghề truyền thống, như: nghề làm kim hoàn ở Định Công, dệt quai thao ở Triều Khúc, nghề mây tre ở Vạn Phúc, nghề sơn vẽ ở Đông Phù...
Đây cũng là vùng đất có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng (134 di tích); nhiều huyền tích đặc sắc. Nổi tiếng trong nhân gian là câu chuyện cảm động về “học trò thủy thần”. Chuyện kể rằng, dưới thời vua Trần Minh Tông, Chu Văn An mở trường dậy học ở làng Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, có một chàng trai tuấn tú đến xin học. Nhìn thấy bèo tấm vương trên chỏm tóc của người học trò, thày An biết rằng đó là con vua Thủy Tề. Gặp năm trời làm hạn hán, lúa cháy ngoài đồng, cây cỏ héo rũ, đất đai khô khát...chứng kiến những tai ương do thiên nhiên đem đến de dọa cuộc sống yên bình của người dân, người học trò của Chu Văn An không đành lòng. Rồi một ngày “Con trai Thủy thần” đã lấy hai nghiên mực đen và một nghiên mực đỏ, mài mực đầy nghiên, đọc thần chú, rồi cầm bút lông vẩy mực lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, sấm chớp đầy trời, mưa sầm sập trút nước xuống hạ giới. Sáng hôm sau, trời quang mây tạnh, cây cỏ uống đủ nước tươi tốt. Lòng người hân hoan, nhưng thày An và dân làng không thấy người học trò làm mưa đâu, thay vào đó là xác một con thuồng luồng nổi lên ở đầm Linh Đường (nay là phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai). Biết đó là người học trò vâng lời thày làm mưa, trái lệnh trời nên đã hy sinh, thày An cùng dân làng đã tổ chức mai táng chu đáo. Để tỏ lòng biết ơn người con của thủy thần, dân bẩy làng quanh vùng đã lập miếu thờ làm thành hoàng (Bằng Liệt, Tứ Kỳ, Pháp Vân, Linh Đường, Đại Từ, Tựu Liệt, Lê Xá).
Mới đây, Ủy ban Nhân dân thành phố đã ban hành quyết định số 50/2009/QĐ-UBND về Quy hoạch huyện Thanh Trì. Theo đó, 2.870 ha đất dùng để phát triển đô thị, đất ngoài đô thị là 3.422.78 ha. Khu đô thị sẽ hình thành trên trục đường 1A, gắn kết với trục đường 70 khu vực quận Hà Đông, theo hướng phát triển trung tâm thương mại, dịch vụ văn phòng và đào tạo. Các xã ở phía Tây như Thanh Oai, Đại Áng, các xã ở phía Đông như Đông Mỹ, và đồng bãi Sông Hồng sẽ là vùng cây xanh, khu du lịch sinh thái, vui chơi giải trí. Một số xã ở phía nam như: Liên Ninh, Tam Hiệp...thì phát triển cụm công nhiệp vừa và nhỏ, phát triển làng nghề, và nông nghiệp chất lượng cao. Về giao thông, ga Ngọc Hồi sẽ xây dựng thành ga đầu mối của tuyến đường sắt đô thị (Yên Viên – Ngọc Hồi); mở rộng và nâng cấp đường quốc lộ 1A, đoạn qua địa bàn huyện...Cầu Thanh Trì (điểm cắt quốc lộ 1A tại Pháp Vân) là cây cầu lớn nhất trong số 7 cây cầu bắc qua sông Hồng, đoạn chảy qua Hà Nội góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế của huyện.
Huyện Thường Tín
Diện tích: 130,29 km2
Dân số: 214.293 người
Vị trí địa lý: phía Đông giáp sông Hồng, phía Tây giáp huyện Thanh Oai, phía Nam giáp huyện Phú Xuyên, phía Bắc giáp huyện Thanh Trì.
Đơn vị hành chính:01 thị trấn và 28 xã
Thị trấn: Thường Tín
Các xã: Chương Dương, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Phương, Minh Cường, Ninh Sở, Nguyễn Trãi, Nghiêm Xuyên, Nhị Khê, Quất Động, Tân Minh, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thư Phú, Vạn Điểm, Văn Bình, Văn Phú, Văn Tự, Vân Tảo.
Huyện Thường Tín nằm gọn trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Trước đây, kinh tế của huyện chủ yếu là phát triển nông nghiệp. Bước vào thời kỳ đổi mới, cũng như các miền quê khác, nơi đây đang trên đà đô thị hóa mạnh mẽ. Theo quy hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện từ năm 1997 đến 2010, Thường Tín được chia thành 3 vùng kinh tế trọng điểm. Phía bắc của huyện tập trung vào phát triển các cơ sở quốc doanh của trung ương, các cơ sở liên doanh với nước ngoài, phát triển các làng nghề như điêu khắc, sơn mài, mây tre đan...Vùng giữa huyện, là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp. Tại đây, hình thành các cơ sở chế biến nông sản, dịch vụ nông nghiệp, và một số cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Vùng cuối cùng là vùng phía nam của huyện, đây là vùng trọng điểm phát triển cây công nghiệp, bên cạnh đó Thường Tín không quên phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ khác. Cơ cấu kinh tế của huyện theo tỷ lệ: Công nghiệp – xây dựng chiếm 46%; thương mại – dịch vụ chiếm 29 % và nông nghiệp chiếm 25 %...Hiện trên địa bàn huyện có 118 dự án đầu tư vào các cụm, khu, điểm công nghiệp. Thường Tín là một địa phương có nhiều nghề thủ công truyền thống. Theo cuốn “Làng nghề Hà Nội” do Sở Công Thương Hà Nội chịu trách nhiệm xuất bản thì, huyện Thường Tín có 43 làng nghề. Các làng nghề tập trung ở một số xã, như thêu ren ở Quất động, Thắng Lợi; nghề sinh vật cảnh ở xã Hồng Vân; đồ mộc, điêu khắc ở xã Tiền Phong; nghề mây tre đan ở xã Ninh Sở; tiện gỗ xã Nhị Khê...
Thường Tín là vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa, là một trong những chiếc nôi của văn minh Việt cổ. Tại đây đã tìm thấy di chỉ khảo cổ của người Việt thời kỳ đồ đá mới (xã Thắng Lợi). Đó là 21 chiếc rìu đá được chế tác tinh xảo trong một ngôi mộ táng bên bờ sông Kim Ngưu. Địa danh Chương Dương nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, nơi quân dân nhà Trần đã đánh thắng quân Nguyên lần thứ hai (1285). Trong số 200 di tích lịch sử văn hóa của huyện, có những di tích nổi tiếng như Chùa Đậu ( xã Nguyễn Trãi, lưu giữ thi hài nhà sư theo phương pháp “tượng táng”); như đền thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung; đền thờ Nguyễn Trãi; Bến, đền, chùa Chương Dương...là điểm đến của du khách thập phương. Thường Tín cũng là đất hiếu học. Thời phong kiến có tới 70 vị đỗ khoa bảng. Làng Nghiêm Xá, xã Nghiêm Xuyên được dân gian tôn vinh là làng “tiến sỹ”. Làng Ba Lăng xã Dũng Tiến cũng được coi là đất học. Làng Nhị Khê có dòng họ danh giá Nguyễn Phi Khanh, mà cả hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi đều đỗ đạt và làm quan to trong triều đình. Nguyễn Trãi với tài kinh bang tế thế một thời đã làm rạng danh quê hương, sứ sở, làm rạng danh họ Nguyễn...
Huyện Từ Liêm
Diện tích: 71, 97 km2
Dân số: 371,247 người
Vị trí địa lý: phía Đông giáp quận Tây Hồ, và quận Cầu Giấy; phía Tây giáp huyện Hoài Đức, Tây Bắc giáp huyện Đan Phượng; phía Nam giáp quận Hà Đông; phía Bắc giáp sông Hồng, và huyện Đông Anh.
Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 15 xã.
Thị trấn: Cầu Diễn.
Các xã: Cổ Nhuế, Đại Mỗ, Đông Ngạc, Liên Mạc, Mễ Trì, Minh Khai, Mỹ Đình, Phú Diễn, Tây Mỗ, Tây Tựu, Thụy Phương, Thượng Cát, Trung Văn, Xuân Đỉnh, Xuân Phương.
Huyện Từ Liêm nằm ở của ngõ phía Tây Hà Nội. Tháng 5 năm 1961, huyện Từ Liêm được thành lập trên cở sở sáp nhập các xã Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Xuân La, Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm, Dịch Vọng, Mai Dịch, Nghĩa Đô của hai quận 5 và 6 của Hà Nội với các xã Mễ Trì, Mỹ Đình, Trung Văn, Tây Tựu, Minh Khai, Xuân Phương của hai huyện Hoài Đức và Đan Phượng. Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính đến nay huyện Từ Liêm có 01 thị trấn và 15 xã. Đây là huyện có dân số đông nhất của Hà Nội và cũng là huyện có tốc độ đô thị hóa rất nhanh.
Năm 2009, là một năm có nhiều khó khăn thách thức đối với nền kinh tế của Hà Nội, kinh tế của Từ Liêm cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Tuy nhiên, với sự lỗ lực phấn đấu không ngừng của chính quyền và nhân dân, nên Từ Liêm vẫn đạt mức tăng trưởng kinh tế khả quan. Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế tăng 15,4% so với năm 2008. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 62%; thương mại dịch vụ 34,5%; nông nghiệp 3,5%.
Trên địa bàn của huyện đã và đang triển khai hơn 100 dự án (44 dự án đã bàn giao xong mặt bằng, 21 dự án cơ bản đã hoàn thành GPMB và 84 dự án đang triển khai). Công viên Hòa Bình được quy hoạch trên đất xã Xuân Đỉnh với tổng diện tích 20,3ha khi hoàn thiện sẽ là khu vui chơi giải trí, xen kẽ với vườn hoa cây xanh...cho nhân dân Thủ đô và du khách bốn phương.
Từ Liêm có nhiều làng nghề truyền thống: làng trồng hoa ở Tây Tựu, đây là địa phương có diện tích trồng hoa lớn nhất vùng ngoại thành, Bún Phú Đô, bưởi Diễn...
Vùng đất này có 173 di tích lịch sử văn hóa. Nổi tiếng là Lễ hội Bơi Đăm (làng Tây Tựu) với câu ca đã sống trong tâm thức của người dân từ ngàn đời “làng Đăm có hội bơi thuyền/ Có lò đánh vật, có miền trồng rau”; rồi một số lễ hội khác như lễ hội đình Miêu Nha, đền Chúa ...đều thu hút đông đảo nhân dân đến tham dự.
Đông Ngạc là một làng cổ của huyện Từ Liêm. Làng còn có tên nôm là làng Vẽ hoặc làng Kẻ Vẽ. Người ta còn gọi Đông Ngạc là làng Tiến Sỹ, bởi ở đây có tới 25 vị đỗ tiến sỹ dưới các triều đại phong kiến (Đất kẻ Giàn, Quan kẻ Vẽ). Đông Ngạc còn được biết tới bởi có nghề làm nem truyền thống (Giò Chèm, nem Vẽ), nghề làm quang gánh, nặn nồi đất...Ngôi đình của làng có tuổi đời đã hơn 500 năm, cùng với trên 100 ngôi nhà cổ trong làng có tuổi trên 100 năm, đã khiến làng trở thành một điểm du lịch thú vị cho những du khách ưa khám phá...
Huyện Ứng Hòa
Diện tích: 183,72km2
Dân số: 179.867 người
Vị trí địa lý: phía Đông giáp Phú Xuyên, phía Tây giáp Mỹ Đức, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Bắc giáp hai huyện Chương Mỹ và Thanh Oai.
Đơn vị hành chính: gồm 01 thị trấn và 28 xã.
Thị trấn Vân Đình.
Các xã: Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đông Tân, Đông Tiến, Hoa Sơn, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội.
Trên bản đồ Hà Nội huyện Ứng Hòa nằm ở phía Nam. Đời nhà Lê, Ứng Hòa có tên là Phủ Ứng Thiên, năm 1814 đổi thành Ứng Hòa và mang tên đó đến ngày nay. Nằm giữa hai con sông, sông Đáy và sông Nhuệ, địa hình của huyện tương đối bằng phẳng. Đây là huyện thuần nông. Trên 93 % dân số sống bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi. Lãnh đạo huyện đã lựa chọn giải pháp để phát triển kinh tế của huyện là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, theo các mô hình chuyên canh, đa canh, nuôi thủy sản. Những diện tích đất cấy lúa kém hiệu quả, đã chuyển sang kết hợp trồng lúa với thả cá và nuôi vịt. Đến cuối năm 2009 toàn huyện đã chuyển đổi được 2.150ha. đất. Để khuyến khích nông dân tích cực tham gia sản xuất, lãnh đạo Ứng Hòa đã xây dựng nhiều cơ chế chính sách ưu đãi về mặt bằng, nguồn vốn. Kết quả, tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện tính đến tháng 12/2009 là: 885.334 con; trong đó đàn trâu bò là 10.280 con, đàn lợn là: 87.267 con, gia cầm và thủy cầm là gần 800.000 con...Mô hình thủy sản phát triển khá tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhờ vậy thu nhập của người nông dân đã tăng lên rõ rệt, gấp 2,5 đến 3 lần so với độc canh cây lúa. Đầu năm 2010, UBND thành phố Hà Nội đã giao cho UBND huyện Ứng Hòa làm chủ Dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu nuôi trồng thủy sản tập trung quy mô lớn (192 ha) tại hai xã Đồng Tâm và Trung Tú với tổng mức đầu tư là 117, 137 tỷ đồng. Dự án hoàn thành chắc chắn sẽ góp phần đem ấm no, hạnh phúc cho nông dân hai xã nói riêng và toàn xã nói chung .
Ứng Hòa không chỉ tập trung phát triển chăn nuôi mà còn đẩy mạnh trồng trọt. Nông dân tăng vòng quay sử dụng đất, áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản suất, mạnh dạn trồng lúa hàng hóa chất lượng cao. Nhờ vậy năng xuất lúa của huyện đã tăng lên rõ rệt, vụ xuân đạt trên 60 tạ ha, vụ mùa đạt hơn 60 tạ/ha. Bên cạnh trồng lúa người dân còn trồng các loại cây nông nghiệp khác như khoai lang, rau, đậu, lạc...Tận dụng địa hình dọc con sông Đáy, lãnh đạo huyện Ứng Hòa đã quy hoạch hơn 635 ha diện tích đất ven sông để trồng rau an toàn.
Huyện Ứng Hòa có 211 di tích lịch sử văn hóa. Trong đó có 124 di tích đã được xếp hạng. Nổi tiếng hơn cả là di tích Đền Đức Thánh Cả, nằm trên địa phận thôn Hữu Vinh, Xã hồng Quang. Đền được xây dựng cách nay đã hơn 1.500 năm, thờ vị tướng “nhất phẩm Đại vương” triều tiền Lý Nam Đế. Năm 1991, đền đã được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa quốc gia. Đình Trần Đăng - Xã Hoa Sơn thờ tướng quân Cao Lỗ, là vị tướng có công chế tạo được nỏ thần trong trận chiến chống lại quân xâm lược Triệu Đà trước Công nguyên. Hàng năm người dân 5 thôn (Thịnh Cầu, Thịnh Bằng, Thịnh Thần, Thịnh Thượng, và Thịnh Hạ) xã Minh Đức không quên tham gia lễ hội đền Ba Xã. Tại đây có đền thờ Đức thánh Mạc Trâu. Cứ đến ngày 12 tháng sáu là người dân của 5 thôn kể trên trống giong cờ mở, kiệu rước đưa thần thờ trong bản hạt thôn mình về đền dự hội...Ngoài lễ rước nước trang trọng người dự hội còn được tham gia nhiều trò vui dân gian. Hấp dẫn và sôi nổi nhất có lẽ là trò đập bị gạo và túm nước (người ta treo nhiều bị gạo và túm nước lên một giá treo, ai đập vào bị gạo thì được thưởng...Nếu đập vào túm nước thì sẽ được ...nước bắn vào người và tiếng hò reo của người đi dự lễ hội)
Đánh giá nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2009, HĐND huyện khẳng định, huyện đã hoàn thành 5 chỉ tiêu, trong đó tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,2%, giảm được 2% hộ nghèo...Bước sang năm 2010, huyện tập trung thực hiện 7 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả chuyển cơ cấu cây trồng, vật nuôi; khẩn trương xây dựng khu công nghiệp Cầu Bầu để mở rộng sản xuất, kinh doanh.../.
Thương Hường (st và biên soạn)