Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Phương tiện tham gia giao thông phải đăng ký quyền sở hữu
Vấn đề đăng ký quyền sở hữu đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự hiện hành Việt Nam.
Có một số loại tài sản tuy Luật không bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu nhưng muốn thực hiện một số hành vi nhất định, hay thực hiện một số giao dịch dân sự khác liên quan đến tài sản, Luật lại quy định phải đăng ký quyền sở hữu trước khi thực hiện hành vi hay giao dịch dân sự đó.
|
Quy định bắt buộc phải chuyển quyền sở hữu phương tiện hướng tới mục tiêu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, trách nhiệm của các bên khi mua bán, trao tặng - Ảnh minh họa |
Chẳng hạn, các phương tiện giao thông đường thủy nội địa không bị Bộ luật Dân sự buộc phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng muốn hoạt động, Luật Giao thông đường thủy nội địa lại quy định phải đăng ký quyền sở hữu. Và nếu đã sang tên đổi chủ thì chủ sở hữu mới phải thực hiện đăng ký lại chuyển quyền sở hữu.
Hay như đối với ô tô, xe máy, Luật cũng không bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu nhưng muốn tham gia giao thông thì Luật vẫn bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu.
Lý giải cho điều này, các nhà làm luật cho rằng, các loại tài sản này khi tham gia giao thông chính là nguồn nguy hiểm cao độ nên khi có va chạm hay tai nạn xảy ra sẽ liên quan đến trách nhiệm của người điều khiển phương tiện và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phương tiện (chủ phương tiện).
Trong một số trường hợp, nếu phương tiện tham gia giao thông đó gây tai nạn làm thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản của người khác thì chủ phương tiện không những phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra mà còn bị truy cứu trách nhiệm về mặt hình sự về "tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ" theo Điều 205, Bộ luật Hình sự.
Như vậy, ô tô và xe máy là "nguồn nguy hiểm cao độ", cho nên khi trao phương tiện cho ai (dù cho mượn hay mua bán, tặng cho, thừa kế) chủ xe đều phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ thủ tục sang tên đổi chủ thì mới hết trách nhiệm với phương tiện.
Nếu không, khi lưu thông trên đường, người điều khiển xe gây tai nạn, ngoài việc người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình gây ra, chủ phương tiện cũng phải chịu trách nhiệm vì đã giao xe cho người khác nếu biết rõ họ không đủ điều kiện điều khiển phương tiện để dẫn đến tai nạn gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Cần phân biệt chủ thể vi phạm
Vấn đề đặt ra là, hiện nay người dân hiểu biết về các quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật nói chung còn hạn chế.
Việc mua bán, chuyển nhượng, tặng cho tài sản là phương tiện giao thông thường thông qua giao dịch bằng giấy tờ mua bán viết tay mà không thực hiện chuyển quyền sở hữu theo quy định.
Tuy nhiên, việc phạt người điều khiển phương tiện không sang tên chuyển quyền sở hữu lại là vấn đề không đơn giản.
Bởi lẽ, chúng ta còn có luật và các văn bản dưới luật quy định quyền dân sự của công dân như quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, sử dụng thông qua các giao dịch dân sự (mua bán, tặng cho, thừa kế, cho thuê, cho mượn tài sản) khác nhau.
Ô tô, xe máy cũng là một loại tài sản phổ biến, cũng được điều chỉnh khác nhau ở mỗi luật đối với mỗi loại quan hệ dân sự.
Luật Giao thông đường bộ chỉ bắt buộc người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ Đăng ký xe và sổ đăng kiểm đủ điều kiện lưu hành (đối với xe ô tô), mà không lệ thuộc vào người đứng tên trong "Chứng nhận đăng ký xe".
Mặt khác, Bộ luật Dân sự cho phép chủ sở hữu được quyền giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không bị ràng buộc phải làm văn bản.
Điều đáng chú ý, Nghị định 71/2012/NĐ-CP nêu rõ, xử phạt "chủ phương tiện" vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ chứ không phải là phạt "người điều khiển phương tiện" do vi phạm một trong các hành vi: không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định.
Do vậy, càng khó khăn để phạt vì người điều khiển phương tiện mang theo đăng ký xe "không chính chủ" đã chứng minh họ không phải "chủ phương tiện" nên không là chủ thể vi phạm phải chịu chế tài phạt theo quy định của Nghị định, trừ khi CSGT (lực lượng có quyền dừng xe và có thẩm quyền xử phạt) chứng minh được người điều khiển phương tiện và chủ phương tiện là một nhưng họ đã thực hiện hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định.
Nghiên cứu, đồng bộ hóa các văn bản pháp luật
Luật quy định trách nhiệm của người xử phạt hành chính là phải tìm chủ phương tiện để xử phạt do lỗi không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định.
Thực tế sẽ quá khó khăn trong việc tìm ra chủ phương tiện nếu phương tiện đó đã mua bán trao tay nhiều lần. Trường hợp nếu có tìm được thì họ cũng quá dễ dàng "lách luật" chứng minh là họ cho nhau mượn xe.
Quy định về việc sang tên, đổi chủ là quy định thuộc quyền sở hữu, được quy định trong Bộ luật Dân sự.
Mọi cá nhân có quyền sử dụng phương tiện giao thông mà mình có quyền sử dụng hợp pháp.
Người có quyền sử dụng hợp pháp phương tiện giao thông đường bộ bao gồm chủ sở hữu xe, người thuê xe, người mượn xe, người cầm giữ, nhận gửi giữ, nhận ủy quyền quản lý xe có thỏa thuận kèm theo quyền sử dụng xe.
Theo quy định của pháp luật, những giao dịch này không bắt buộc phải làm bằng văn bản hay văn bản có công chứng, chứng thực. Do đó, người điều khiển xe chỉ cần xuất trình bản chính giấy đăng ký xe là đủ.
Nếu bắt buộc người đi xe xuất trình thêm văn bản cho mượn, cho thuê xe cũng có thể chấp nhận. Nhưng văn bản này, vì luật không có công chứng nên việc tạo ra để đối phó với lực lượng CSGT là không khó. CSGT cũng không thể chứng minh được tính xác thực của tờ giấy này.
Mặt khác, theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì “Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính” (Điểm đ, khoản 1, Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính ban hành ngày 20/6/2012), người điều khiển phương tiện tham gia giao thông có quyền chứng minh mình không vi phạm.
Một vấn đề nữa, luật quy định thẩm quyền xử phạt của lực lượng công an nhân dân, trong đó cấp chiến sĩ chỉ được phạt tối đa đến 200.000 đồng; Đội trưởng, trạm trưởng chỉ được xử phạt đến 500.000 đồng.
Như vậy, đối với hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định đối với mức phạt theo Nghị định 71/2012/NĐ-CP thì thẩm quyền xử phạt phải thuộc Trưởng Công an cấp quận, huyện.
Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với ý kiến của lãnh đạo Bộ Công an nói về xử phạt xe không "chính chủ" cần phân biệt trách nhiệm của 2 chủ thể là người điều khiển phương tiện giao thông và người chủ sở hữu phương tiện giao thông.
Việc quy định bắt buộc phải chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định hướng tới mục tiêu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, trách nhiệm của các bên khi mua bán, trao tặng, tránh những tranh chấp dân sự.
Thêm nữa, hiện lực lượng CSGT đang tích cực áp dụng công nghệ để xử phạt vi phạm giao thông qua hình ảnh (phạt nguội) để thay thế dần sức người, khi phải làm rõ ai là chủ phương tiện để xử lý trách nhiệm sẽ khó khăn, phức tạp cho cả hai chủ thể và cơ quan nhà nước.
Vấn đề quyền sở hữu, sử dụng tài sản trong luật dân sự đã rất đa dạng và phức tạp.
Thực tế việc đặt ra xử phạt đối với chủ phương tiện khi mua bán do không sang tên đổi chủ đã hàng chục năm nhưng đã không có tính khả thi.
Nay quy định này được quan tâm áp dụng với mức phạt nặng hơn gấp nhiều lần thì lại là chủ đề "nóng" trên các diễn đàn, gây sự chú ý của dư luận và đặc biệt quan tâm của người dân.
Để quy định của pháp luật có sức sống và tính khả thi trong thực tiễn, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu những yếu tố bất cập, chưa đồng bộ của các luật và văn bản dưới luật như đã phân tích trên đây để đồng bộ hóa những quy định, hướng dẫn áp dụng luật trong lần sửa đổi Nghị định, ban hành thông tư hướng dẫn lần này, bảo đảm tính khả thi khi áp dụng, dễ cho lực lượng thực thi công vụ và người dân tâm phục, khẩu phục, dư luận tuyên truyền ủng hộ.
Luật sư Nguyễn Văn Chiến
Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam