Phụ nữ Việt Nam: Từ khí phách lịch sử đến khát vọng hùng cường
(Chinhphu.vn) - Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam luôn là biểu tượng ngời sáng của lòng yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, sức sáng tạo và cống hiến bền bỉ. Tiếp nối mạch nguồn di sản hào hùng ấy, dưới ánh sáng lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của người phụ nữ lại được nhân lên gấp bội, trở thành nguồn xung lực to lớn cho cách mạng.
Phụ nữ Việt Nam từ gánh vác nếp nhà trong phong trào “Ba đảm đang”, dáng đứng kiên trung của “Đội quân tóc dài” gan góc, dũng cảm trong kháng chiến đến bản lĩnh vươn tầm thế giới của những nhà khoa học, nữ doanh nhân và chính trị gia xuất sắc thời kỳ đổi mới, hình ảnh của người phụ nữ không chỉ tạc nên những tượng đài bất tử trên trang sử vàng dân tộc mà còn được khắc họa bởi hàng triệu tấm gương thầm lặng mà cao quý.

Phong trào phụ nữ “Ba đảm đang” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động năm 1965 nhằm mục đích động viên phụ nữ phát huy mọi năng lực phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH, đồng thời qua đó đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Ảnh tư liệu
Từ khi có Đảng dẫn đường
Tháng 10/1930, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất, Đảng ta đã thông qua Nghị quyết về Phụ nữ vận động, khẳng định lực lượng cách mạng của phụ nữ là lực lượng rất trọng yếu. Nếu đông đảo quần chúng phụ nữ không tham gia vào các cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thể giành thắng lợi. Bởi vậy, công tác vận động phụ nữ là một nhiệm vụ lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Ngay từ khi thành lập, Đảng đã chủ trương xây dựng Hội Phụ nữ Giải phóng nhằm tập hợp, vận động phụ nữ đấu tranh vì quyền lợi và sự giải phóng của chính mình. Nghị quyết tháng 10/1930 tiếp tục khẳng định vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, đánh dấu bước phát triển quan trọng của phong trào phụ nữ, đặt nền móng cho quá trình hình thành và phát triển của tổ chức Hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Dưới ánh sáng của Đảng, từ cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, phong trào dân chủ 1936-1939 đến phong trào giải phóng dân tộc, tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đông đảo phụ nữ từ nông thôn đến thành thị đã hòa mình vào dòng thác cách mạng, đấu tranh đòi quyền sống, quyền dân sinh, dân chủ và độc lập dân tộc.
Một trong những hiện thân tiêu biểu cho chí khí kiên cường, bất khuất của phụ nữ Việt Nam giai đoạn này là đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1935, tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva, đồng chí đã cất tiếng nói mạnh mẽ trên diễn đàn quốc tế, lên án chính sách cai trị của thực dân Pháp, khẳng định tinh thần đấu tranh cách mạng của phụ nữ Đông Dương và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.
Giữa những năm tháng hoạt động cách mạng đầy hiểm nguy, Nguyễn Thị Minh Khai vẫn phải trải qua những lựa chọn riêng tư đầy day dứt. Sau khi sinh con gái đầu lòng, người mẹ trẻ đành nén tình mẫu tử, gửi con cho cơ sở cách mạng nuôi dưỡng để tiếp tục lãnh đạo phong trào. Ngày 30/7/1940, đồng chí sa vào tay giặc. Trải qua những tháng ngày bị giam cầm, những trận đòn tra tấn dã man tại các nhà tù thực dân, người nữ chiến sĩ cộng sản vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục trước kẻ thù. Ý chí sắt son ấy được thể hiện qua những vần thơ:
"Dù đánh, dù treo, càng kiên quyết
Dù kìm, dù kẹp, chẳng sai lời
Hy sinh phấn đấu vì nhiệm vụ
Triệt để thực hành chết mới thôi".
Ngày 28/8/1941, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai anh dũng hy sinh, để lại tấm gương sáng ngời về lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, sự hy sinh cao cả và bản lĩnh kiên cường của người phụ nữ Việt Nam.
Hòa vào dòng chảy cách mạng, biết bao người mẹ, người chị cũng không quản ngại hiểm nguy, âm thầm làm giao liên, nuôi giấu cán bộ, rải truyền đơn, chuẩn bị lương thực và trực tiếp tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Từ những đóng góp lặng thầm nơi làng quê đến những cuộc đấu tranh sục sôi trên đường phố, phụ nữ Việt Nam đã góp phần cùng toàn dân tộc đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Giữ lửa hậu phương - Tiếp sức tiền tuyến
Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" trước muôn vàn khó khăn, thử thách, giữa vòng vây của thù trong, giặc ngoài. Trong thời khắc vận mệnh dân tộc đứng trước những thử thách sống còn, yêu cầu quy tụ, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Ngày 20/10/1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chính thức làm lễ ra mắt tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội, tập hợp nhiều tổ chức phụ nữ, trong đó Đoàn Phụ nữ Cứu quốc là lực lượng nòng cốt. Sự ra đời của Hội mở ra bước phát triển mới của phong trào phụ nữ, tạo nên sức mạnh đoàn kết rộng khắp, tập hợp các tầng lớp phụ nữ cùng chung sức bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ.
Khi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên ngày 19/12/1946, phụ nữ cả nước lại đồng lòng bước vào một chặng đường đấu tranh mới. Từ hậu phương đến tiền tuyến, từ đồng ruộng, làng quê đến những chiến khu, người phụ nữ vừa là điểm tựa của gia đình, vừa trực tiếp góp sức cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.
Hưởng ứng các phong trào do Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động, phụ nữ hăng hái tham gia Bình dân học vụ, cùng học chữ, dạy chữ, góp phần đẩy lùi nạn mù chữ. Những phong trào như "Mùa đông binh sĩ", "Hũ gạo cứu quốc" lan tỏa rộng khắp, khơi dậy tinh thần tương thân tương ái, vận động chị em chắt chiu từng hạt gạo, may từng chiếc áo ấm gửi ra mặt trận.
Trên đồng ruộng, những người mẹ, người vợ không quản nhọc nhằn, học cày bừa, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, mua công phiếu kháng chiến, công trái quốc gia. Những hạt gạo nghĩa tình, những chiếc áo ấm thấm đượm tình hậu phương, cùng sự chăm lo của phong trào Hội mẹ chiến sĩ đã trở thành nguồn động viên vật chất, tinh thần quý báu, góp phần giúp bộ đội "ăn no đánh thắng".
Khi tiền phương vẫy gọi, hàng vạn phụ nữ lại không quản ngại gian khổ, băng rừng, vượt núi, tham gia lực lượng dân công hỏa tuyến, dân quân, du kích. Trên những cung đường kháng chiến, các chị kiên cường gánh gạo, tải thương, vận chuyển lương thực, vũ khí, vượt qua bom đạn để tiếp sức cho những chiến dịch lớn.
Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" năm 1954 đã ghi dấu những đóng góp bền bỉ của lực lượng dân công hỏa tuyến, trong đó có đông đảo phụ nữ. Từ những đôi vai gánh gạo, những bước chân vượt dốc, băng rừng, sự hy sinh thầm lặng của các chị đã góp phần làm nên sức mạnh hậu phương, cùng quân và dân cả nước viết nên bản anh hùng ca chiến thắng của dân tộc.
Những năm tháng hào hùng ấy cũng làm ngời sáng biết bao tấm gương phụ nữ kiên trung, bất khuất. Tiêu biểu là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Võ Thị Sáu, người con gái Đất Đỏ sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập Đội Công an xung phong khi mới 14 tuổi.
Ở tuổi đời còn rất trẻ, chị đã dũng cảm tham gia nhiều hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp và tay sai, thực hiện những nhiệm vụ đầy hiểm nguy. Bị bắt, giam cầm và kết án tử hình, chị vẫn giữ trọn khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, không khuất phục trước đòn roi và sự đe dọa của kẻ thù.
Những câu chuyện về giây phút cuối đời của chị Võ Thị Sáu vẫn được các thế hệ lưu truyền với niềm xúc động và kính phục. Trước họng súng quân thù tại Côn Đảo, người con gái Đất Đỏ hiên ngang từ chối bịt mắt, cất cao tiếng hát Tiến quân ca và hô vang những lời khẳng định niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, vào nền độc lập của Tổ quốc.
Ngày 23/1/1952, chị Võ Thị Sáu anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Khí phách hiên ngang, tinh thần bất khuất và tình yêu đất nước cháy bỏng của chị đã vượt qua giới hạn của một cuộc đời, trở thành biểu tượng sống mãi về lòng quả cảm, đức hy sinh và ý chí quật cường của phụ nữ Việt Nam.

Các đại biểu dự Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Từ "Ba đảm đang" đến những "Bông hoa thép" bất tử trên tuyến đầu
Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, phụ nữ hai miền Nam - Bắc, dù ở hậu phương hay nơi tuyến lửa, đều chung một ý chí sắt son: đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Ở miền Bắc, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tháng 3/1965, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào “Ba đảm nhiệm”, sau được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi tên thành “Ba đảm đang”. Phong trào nhanh chóng lan rộng, trở thành cuộc vận động cách mạng sâu sắc, khơi dậy sức mạnh và tinh thần cống hiến của hàng triệu phụ nữ.
Trên đồng ruộng, trong nhà máy, xí nghiệp, phụ nữ đảm đang sản xuất, công tác, thay thế nam giới lên đường chiến đấu; trong mỗi mái ấm, các bà mẹ, người vợ vừa chăm lo gia đình, vừa là điểm tựa tinh thần để chồng, con yên tâm nơi tiền tuyến. Khi Tổ quốc cần, họ lại sẵn sàng cầm súng, trực tiếp chiến đấu, bảo vệ quê hương. Từ những bàn tay tảo tần, những đôi vai bền bỉ ấy, sức mạnh hậu phương được bồi đắp, góp phần chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam.
Nơi tiền tuyến miền Nam, “Đội quân tóc dài” ra đời từ phong trào Đồng khởi Bến Tre năm 1960, trở thành một biểu tượng độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Bằng sự mưu trí, dũng cảm và vận dụng linh hoạt ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận, những người phụ nữ chân yếu tay mềm đã kiên cường đối mặt với súng đạn, xe tăng của đối phương, góp phần làm nên sức mạnh của phong trào đấu tranh cách mạng.
Gắn liền với “Đội quân tóc dài” là hình ảnh đồng chí Nguyễn Thị Định, người phụ nữ tài trí, bản lĩnh, giữ cương vị Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, đồng thời là Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam. Tên tuổi và những đóng góp của bà không chỉ gắn với phong trào cách mạng miền Nam mà còn trở thành niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam.
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta".
Song hành cùng những phong trào cách mạng rộng lớn là biết bao tấm gương phụ nữ đã gửi lại tuổi thanh xuân nơi chiến trường. Từ những nữ trí thức, thanh niên xung phong đến các chiến sĩ dân quân tự vệ, mỗi người một hoàn cảnh, một nhiệm vụ, nhưng đều chung khát vọng độc lập, tự do và hòa bình cho đất nước.
Trong số đó, nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm là một hình ảnh tiêu biểu. Rời mái trường đại học, chị tình nguyện vào chiến trường miền Nam, tận tụy cứu chữa thương bệnh binh giữa vùng đất Đức Phổ (Quảng Ngãi) ác liệt. Năm 1970, chị anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Những trang nhật ký để lại không chỉ tái hiện một thời bom đạn mà còn mở ra thế giới tâm hồn của một người con gái Việt Nam giàu lý tưởng, lòng nhân ái và khát vọng sống. Giữa khốc liệt chiến tranh, trái tim người bác sĩ trẻ vẫn tha thiết yêu thương con người, đau đáu nỗi nhớ gia đình và niềm tin vào ngày đất nước hòa bình.
Trên những cung đường huyết mạch nối hậu phương với tiền tuyến, hình ảnh các nữ thanh niên xung phong cũng trở thành biểu tượng của một thế hệ sống và cống hiến hết mình cho Tổ quốc.
Ngày 24/7/1968, tại Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), 10 nữ thanh niên xung phong thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552 đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ san lấp hố bom, bảo đảm giao thông. Giữa một trong những “tọa độ lửa” ác liệt nhất trên tuyến đường chi viện chiến trường, các chị đã lấy tuổi thanh xuân của mình để giữ cho mạch máu giao thông không ngừng chảy về phía trước.
Không riêng Đồng Lộc, trên những nẻo đường bão lửa, biết bao người con gái Việt Nam đã gửi lại ước mơ, hoài bão và cả những dự định đời thường chưa kịp thực hiện.
Sáng 31/10/1968, tại Truông Bồn (Nghệ An), một trận bom ác liệt của không quân Mỹ đã cướp đi sinh mạng của 13 thanh niên xung phong, trong đó có 11 nữ, khi họ đang kiên cường bám trụ, bảo đảm giao thông cho những đoàn xe hướng ra tiền tuyến. Các anh, các chị ngã xuống ngay trước thời điểm Mỹ ngừng ném bom miền Bắc có hiệu lực vào ngày 1/11/1968.
Trong số những người hy sinh, có người đã nhận quyết định xuất ngũ, có người mang theo giấy báo nhập học, có người đang ấp ủ hạnh phúc lứa đôi. Những dự định bình dị ấy mãi mãi dừng lại nơi Truông Bồn, để con đường ra trận tiếp tục thông suốt, để khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước được viết tiếp bằng sự hy sinh của cả một thế hệ.
Nếu ở những “tọa độ lửa” trên các tuyến đường giao thông là hình ảnh kiên cường của những nữ thanh niên xung phong thì nơi các trận địa phòng không, tinh thần ấy lại được tiếp nối bằng ý chí chiến đấu bất khuất của những nữ dân quân.
Tại Lam Hạ (Hà Nam trước đây), 10 nữ dân quân pháo phòng không đã lần lượt hy sinh trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ những năm 1966-1967. Giữa bom đạn, các chị kiên cường bám trận địa, sát cánh cùng đồng đội bảo vệ bầu trời quê hương. Trong số đó có hai chị em ruột Nguyễn Thị Thu (18 tuổi) và Nguyễn Thị Thi (16 tuổi), cùng hy sinh ngày 1/10/1966 khi tuổi đời còn rất trẻ.
Từ những cánh đồng miền Bắc đến chiến trường miền Nam, từ những cung đường Trường Sơn, Ngã ba Đồng Lộc, Truông Bồn đến trận địa phòng không Lam Hạ, hàng triệu phụ nữ Việt Nam đã viết nên những trang sử bằng lao động, chiến đấu, tình yêu thương và sự hy sinh thầm lặng. Có những tên tuổi đã đi vào lịch sử, có những người mãi mãi không được biết tên, nhưng tất cả đã góp phần làm nên sức mạnh của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.
Trong những năm tháng gian lao ấy, truyền thống “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” một lần nữa được tiếp nối, khẳng định khí phách, bản lĩnh và những đóng góp không thể thay thế của phụ nữ Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Lan tỏa yêu thương, nâng tầm vị thế
Sau năm 1975, đất nước bước vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế trong muôn vàn khó khăn, thử thách. Hậu quả nặng nề của chiến tranh cùng những tác động của chính sách bao vây, cấm vận đặt lên vai nhân dân cả nước những gánh nặng mới. Trong hoàn cảnh ấy, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống kiên cường, đảm đang, vừa vun đắp hạnh phúc gia đình, vừa tích cực lao động sản xuất, góp sức dựng xây đất nước.
Từ phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” đến các cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước” và phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, những người phụ nữ từng đi qua chiến tranh lại bền bỉ trên mặt trận lao động, sản xuất. Khi Đảng khởi xướng công cuộc Đổi mới năm 1986, phụ nữ Việt Nam tiếp tục nắm bắt cơ hội, vượt qua những rào cản, từng bước làm chủ khoa học, công nghệ, tham gia quản lý, điều hành kinh tế, khẳng định ngày càng rõ nét vai trò và vị thế trong đời sống xã hội.
Nếu trong chiến tranh, bản lĩnh của người phụ nữ được tôi luyện giữa bom đạn thì trong thời bình, trí tuệ, nghị lực và sức sáng tạo của họ lại tỏa sáng trên những lĩnh vực mới, từ giảng đường, phòng thí nghiệm, bệnh viện đến thương trường và các diễn đàn quốc tế.
Trong lĩnh vực y học, Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, là một trong những tấm gương tiêu biểu về trí tuệ, lòng nhân ái và sự cống hiến bền bỉ. Bà là người đặt nền móng cho kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) tại Việt Nam, góp phần mang lại niềm hạnh phúc được làm cha mẹ cho hàng nghìn gia đình hiếm muộn. Bà cũng là người khởi xướng mô hình cô đỡ thôn bản và chương trình “Ươm mầm hạnh phúc”, mở thêm cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ, nhất là ở những vùng còn nhiều khó khăn.
Không chỉ dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, bà còn kiên trì nghiên cứu những hậu quả của chất độc da cam/dioxin đối với con người, đặc biệt là sức khỏe sinh sản và các thế hệ trẻ em Việt Nam. Từ những công trình khoa học và bằng chứng thực tiễn, bà bền bỉ lên tiếng trên các diễn đàn quốc tế, góp phần đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam/dioxin.
Với những cống hiến ấy, năm 2024, Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng được trao Giải thưởng Ramon Magsaysay, giải thưởng danh giá được ví như “Nobel châu Á”. Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế không chỉ tôn vinh hành trình cống hiến của một nữ trí thức Việt Nam mà còn lan tỏa những giá trị nhân văn của nền y học vì con người.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực, bản lĩnh trên nhiều lĩnh vực của đời sống đất nước.
Trên chính trường, năm 2016 ghi dấu một mốc lịch sử khi bà Nguyễn Thị Kim Ngân trở thành nữ Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của Việt Nam, mở thêm một dấu mốc trong hành trình khẳng định vị thế của phụ nữ ở những cương vị lãnh đạo cấp cao.
Trên hành trình thực hiện sứ mệnh quốc tế, năm 2017, Thiếu tá Đỗ Thị Hằng Nga trở thành nữ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đầu tiên được cử tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan. Từ những chiến trường bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc năm xưa đến sứ mệnh góp phần gìn giữ hòa bình hôm nay, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam tiếp tục ghi dấu bằng bản lĩnh, trách nhiệm và tinh thần nhân ái.
Trên thương trường, những nữ doanh nhân như bà Nguyễn Thị Phương Thảo (Vietjet Air), bà Mai Kiều Liên (Vinamilk), bà Thái Hương (Tập đoàn TH) đã góp phần đưa các thương hiệu Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế. Bằng tư duy đổi mới, bản lĩnh kinh doanh và khát vọng phát triển, họ từng bước khẳng định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời ghi dấu ấn trong những bảng xếp hạng, sự ghi nhận của các tổ chức và tạp chí kinh tế quốc tế như Forbes, Fortune.
Đằng sau những tên tuổi được vinh danh, những thành tựu được ghi nhận là hành trình không ngừng vượt qua giới hạn, khẳng định trí tuệ, năng lực và vị thế của phụ nữ Việt Nam trong thời đại hội nhập.
Thế nhưng, vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam không chỉ được khắc họa qua những thành tựu lớn lao hay những tên tuổi vang danh. Giữa nhịp sống đời thường, vẫn có biết bao người mẹ, người chị âm thầm gieo những hạt mầm thiện lành, lặng lẽ mang đến những đổi thay cho cộng đồng bằng tình yêu thương và sự tận tụy.
Đó là câu chuyện của bà Trần Thị Kim Thia, người phụ nữ vùng Đồng Tháp Mười quen được gọi bằng cái tên thân thương “bà Sáu bơi lội”. Từng vất vả mưu sinh bằng nghề bán vé số, bà vẫn dành hàng chục năm miệt mài dạy bơi miễn phí cho trẻ em vùng sông nước. Từ những buổi học giản dị ấy, gần 4.000 đứa trẻ đã được trang bị kỹ năng bơi lội, thêm cơ hội tự bảo vệ mình trước hiểm họa đuối nước.
Không danh vị, không những điều kiện vật chất đủ đầy, bà Sáu Thia vẫn bền bỉ làm công việc mà mình tin là có ích. Chính sự tận tâm ấy đã đưa tên tuổi người phụ nữ bình dị của miền Tây Nam Bộ vào danh sách 20 phụ nữ Việt Nam truyền cảm hứng năm 2021 do Forbes Việt Nam bình chọn.
Đó còn là cô giáo Bùi Thị Hồng Vân, người đã dành gần 30 năm tuổi nghề gắn bó với bản Dao Bà Rà, vùng núi Kim Bôi, Hòa Bình trước đây. Giữa núi rừng heo hút, nơi con đường đến lớp từng chỉ là những lối mòn lầy lội, những mùa đông rét cắt da và cuộc sống của học trò còn nhiều thiếu thốn, cô đã chọn ở lại để gieo con chữ.
Có những ngày gian khó, nhìn những đứa trẻ vùng cao với đôi mắt trong veo, cô tự hỏi: “Nếu mình cũng như mọi người bỏ đi thì những đứa trẻ nơi đây sẽ ra sao?”. Câu hỏi giản dị ấy đã trở thành động lực níu giữ bước chân người giáo viên trẻ, để rồi gần ba thập kỷ sau, những lớp học nơi bản nhỏ đã sáng lên cùng bao thế hệ học trò trưởng thành. Từ những mái trường đơn sơ giữa núi rừng, những “bông hoa núi” bền bỉ như cô đã góp phần mang ánh sáng tri thức đến với trẻ em vùng cao, mở ra những con đường mới cho cuộc đời các em.
Và trong những năm tháng đại dịch COVID-19 hoành hành, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam một lần nữa sáng lên giữa gian khó. Hàng nghìn nữ bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên y tế đã tạm gác hạnh phúc riêng, xa gia đình, bám trụ tại các tâm dịch, ngày đêm giành giật sự sống cho người bệnh.
Giữa những ngày Thành phố Hồ Chí Minh căng mình chống dịch năm 2021, câu chuyện về bác sĩ Phạm Thị Thanh Thúy, Bệnh viện Trưng Vương, đã khiến nhiều người xúc động. Tạm xa đứa con trai mới hơn 10 tháng tuổi còn đang bú mẹ để thực hiện nhiệm vụ, chị lại dành chính dòng sữa của mình cho một bé gái 7 tháng tuổi mắc COVID-19, khi mẹ bé đang phải điều trị suy hô hấp nặng tại bệnh viện khác.
Trong bộ đồ bảo hộ kín mít, người nữ bác sĩ trẻ vừa chăm sóc bệnh nhân, vừa ân cần bế em bé, cho bé bú từng bình sữa được chắt chiu từ tình mẫu tử. Giữa những mất mát, lo âu và hiểm nguy của đại dịch, dòng sữa của người mẹ dành cho một đứa trẻ không phải con mình đã trở thành câu chuyện đẹp về lòng nhân ái, sự sẻ chia và tình yêu thương vượt qua mọi giới hạn.
Từ người phụ nữ miệt mài dạy bơi giữa vùng sông nước, cô giáo cắm bản nơi núi rừng đến người bác sĩ sẻ chia dòng sữa mẹ giữa tâm dịch, mỗi câu chuyện là một nét đẹp riêng, cùng góp phần khắc họa phẩm chất nhân hậu, kiên cường và giàu đức hy sinh của phụ nữ Việt Nam trong cuộc sống hôm nay.
Hành trang tương lai
Hành trình gần một thế kỷ đồng hành cùng vận mệnh dân tộc là minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ, bản lĩnh, trí tuệ và những đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam. Qua mỗi giai đoạn lịch sử, dù trong chiến tranh hay thời bình, dù trên mặt trận đấu tranh giải phóng dân tộc hay trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, người phụ nữ vẫn luôn hiện diện bằng tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước và khát vọng cống hiến.
Từ những dấu chân trần vượt qua mưa bom, lửa đạn năm xưa đến những bước tiến vững vàng trên hành trình hội nhập hôm nay; từ những nếp nhà đơn sơ nơi hậu phương đến giảng đường, phòng thí nghiệm, thương trường và những sứ mệnh hòa bình quốc tế, phụ nữ Việt Nam đã và đang viết tiếp câu chuyện về bản lĩnh, trí tuệ và sức sáng tạo của mình.
Dẫu thời gian trôi qua, dẫu đất nước đã bước sang những chặng đường phát triển mới, mạch nguồn truyền thống từ thời Bà Trưng, Bà Triệu, từ những “Đội quân tóc dài”, những người mẹ, người chị nơi hậu phương và những nữ thanh niên xung phong trên các tuyến đường ra trận vẫn được tiếp nối qua các thế hệ.
Truyền thống “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang” tiếp tục được bồi đắp bằng những phẩm chất “Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang”, hòa cùng tinh thần đổi mới, sáng tạo và khát vọng vươn lên của phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới.
Nếu các thế hệ phụ nữ đi trước đã góp phần viết nên những trang sử hào hùng bằng lòng yêu nước, sự hy sinh và ý chí quật cường thì phụ nữ hôm nay đang tiếp tục viết nên những trang sử mới bằng tri thức, bản lĩnh, tài năng và khát vọng cống hiến.
Hành trang của phụ nữ Việt Nam trên chặng đường phía trước không chỉ là niềm tự hào về truyền thống vẻ vang mà còn là tinh thần dám nghĩ, dám làm, không ngừng học hỏi, đổi mới và vượt qua những giới hạn của chính mình.
Từ mạch nguồn truyền thống đến khát vọng tương lai, những phẩm chất tốt đẹp ấy tiếp tục được gìn giữ, trao truyền và phát huy, trở thành nguồn sức mạnh để các thế hệ phụ nữ Việt Nam tự tin bước tới, đồng hành cùng dân tộc hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.
Thu Hoàn